"Nơi thành phô Phukhet Thái lan, cách Bangkok 500 km về phiá Nam.
Hoa Ti gôn có tên khoa học là Polygonaceae antigonon leptopus, tên tiếng Anh là Mountain Rose.
Hôm đó trời mưa nên sắc hoa không tươi thắm. Nhưng thôi, được chừng nào quý chừng ấy.
Thân gửi chị Kim Oanh nha."
(Nguyễn Nguyên)
Từ xưa nay những cánh hoa được mang tặng thường là những đóa sắc màu rực rỡ và thường được muôn người ca ngợi, tôi chưa thấy ai tặng đóa tigôn, vì người ta cho là hoa của chia ly.
Tuy nhiên tôi vừa được tặng những cánh Tigôn từ một người bạn ở một phương trời xa xôi.
Và trong suy nghĩ của tôi chia ly có mầm sum họp, trong tim hoa sắc đỏ thiết tha. Đặc biệt là Tigôn nở cả bốn mùa. Trọn vẹn thủy chung! Xin chân thành cảm ơn người bạn phương xa chuỗi hoa tim trong Mùa Giáng Sinh yêu thương 2016
Gió trăng mây nước là những chất liệu gây cảm hứng cho các nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật từ cổ chí kim, từ đông sang tây và có lẽ cho cả ngàn năm sau! Mấy mươi năm trở lại đây, con người đặt chân xuống mặt trăng, đem về thế gian một nắm đất đá, rồi tuyên bố rằng trên mặt trăng không có sự sống. Báo chí nói thế, tôi tin thế, vì tôi có hiểu biết gì nhiều về những vấn đề khoa học cao siêu đó. Những thi sĩ, nhạc sĩ, hoạ sĩ thì mê trăng lắm. Thi sĩ Hàn Mạc Tử đau thương của văn học chúng ta có lần đã viết ‘’như sao sương anh nằm chết như trăng’’. Ông thi hào Lý Bạch thì ôm trăng mà chết trên sóng nước. Nàng Kiều lao đao, ở lầu Ngưng Bích cũng ngắm trăng với ‘’ vẻ non xa tấm trăng vàng ở chung’’ để cho tâm tư lắng đọng. Riêng tôi cũng có lúc bồi hồi thương trăng, nhớ trăng ! Trăng của tôi là trăng của ấu thơ kỷ niệm, trăng thiên nhiên mát rượi trên sân nhà, trăng vằng vặc trên bờ biển Thuận An. Đặc biệt là trăng mơ màng trong một hoạt cảnh cách đây đã hơn bốn mươi năm do các anh chị học sinh trường Quốc học Huế trình diễn.
Chiều hôm đó, anh tôi xin phép mẹ cho tôi được đi xem văn nghệ do các bạn của anh, những anh chị học sinh trường Quốc Học, tổ chức. Tôi nín thở đế theo dỏi phản ứng của mẹ. Sở dĩ tôi hồi hộp đến thế, vì hồi đó, trường Quốc Học là trường lớn bậc nhất (miền Trung chưa có trường Đại học). Này nhé, Trường Quốc Học với cơ sở vĩ đại, phong cảnh hữu tình. Một số lượng thầy cô đông đảo giảng dạy cho cả mấy nghìn học sinh lớn. Này nhé, chiếc cửa gỗ ra vào thật lớn, thật nặng nề, nhưng oai nghi ngăn cách khuôn viên trường với đại lộ Lê Thái Tổ. Nhìn vào trong, hai dãy tầng lầu nguy nga thâm kín im lìm quét nước vôi màu gạch. Sân trường được chia thành những ô vuông đầy hoa lắm màu sắc tươi thắm. Hai hàng phượng vĩ vươn cao trong gió sớm đìu hiu. Đặc biệt một trăm sáu mươi tám nhịp chuông đồng ngân nga báo hiệu giờ học. Trường Quốc Học với tôi hồi đó là bề thế vậy. Tôi úy phục và thích thú mơ rằng tôi sẽ được học tại ngôi trường này lúc lên trung học. Niềm vui sướng tràn ngập lòng tôi khi thấy mẹ vui tươi gật đầu theo lời xin của anh. Tôi thầm biết ơn mẹ và cám ơn anh.
Tôi ngồi ở yên sau xe đạp của anh mà hồi hộp lạ thường. Xe băng qua cầu Trường Tiền (bấy giờ cầu chưa có tên là cầu Nguyễn Hoàng), quẹo qua phía đài phát thanh Huế, rồi băng qua đường là đến hội trường trình diễn văn nghệ. Đây là rạp chiếu bóng Morin, một phần của khách sạn Morin cũ, tên của một người Pháp vừa là chủ nhân vừa là quản lý cơ sở thương mại này (về sau rạp chiếu bóng trở thành giảng đường của trường đại học khoa học). Vào đến hội trường tôi thấy đầy người trong ánh sáng lờ mờ. Trên sân khấu, một chị mặc áo dài hồng đang cất cao giọng hát’’thấy hối tiếc nhiều, thuyền đã sang bờ, đường về không lối, lòng trần thôi đã về chiều mà lòng mến còn nhiều, đập gương xưa tìm bóng...’’ Tôi không theo dỏi bài hát được nữa vì phải thận trọng đưa từng bước chân nhỏ, lách người theo sự dẫn dắt của anh tôi. Cuối cùng tôi được ngồi gần bìa của dãy ghế giữa. Tôi nhìn lên sân khấu, chị áo hồng đang nhìn xuống phía khán giả buông lời ngọt ngào‘’gửỉ gió cho mây ngàn bay, gửi bướm đa tình về hoa, gưỉ thêm ánh trăng màu xanh ái ân về đây với thu trần gian’’. Giọng chị nhỏ dần và kéo dài ra rồi chấm dứt. Chị cúi đầu chào trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt gần như không muốn dứt. Tôi cũng cảm thấy thích thú quá nên cũng vỗ tay thật mạnh như người lớn. Nhưng mà tại sao lại gưỉ gió cho mây ngàn bay? mà không ‘’gửi mây cho gió’’, vì chính gió đưa mây đi chứ ? Ý nghĩ ngộ nghĩnh của tôi kịp chấm dứt để nghe giới thiệu tiết mục mới. Đó là hoạt cảnh‘’đêm trăng trên vịnh Hạ Long‘’theo nội dung của bài hát cùng đề tựa của nhạc sĩ Hoàng Quí. Tôi nhớ không rõ tên của người trình diễn bài hát; nhưng nhớ tên ngưòi thổi sáo là Châu Trọng Ngô. Anh tôi đôi khi nói rằng ở Huế thầy Ngô là cây sáo số một, người thứ hai là họa sĩ Côn Sơn. Tôi biết họa sĩ Côn Sơn có xưởng vẽ nhỏ và cũng là phòng trưng bày ở đường Gia Long (bấy giờ chưa gọi là đường Phan Bội Châu). Tôi chưa bao giờ được nghe ông thổi sáo nhưng cũng dành cho ông ít nhiều nể trọng vì mỗi lần đi ngang qua phòng vẽ của ông tôi thấy có hai cây sáo nhỏ và dài màu đen huyền. Điều này thật là lạ đối với tôi vì hồi đó tôi chỉ thường thấy cây sáo đánh dầu láng trong suốt còn giữ được màu vàng nhạt của cây hóp dùng làm sáo, chứ chưa thấy cây sáo màu đen huyền óng ánh bao giờ!
Ánh sáng trên sân khấu bỗng phụt tắt. Sau ba tiếng đập mạnh, hai cánh màn màu đỏ sẩm được kéo từ từ sang hai bên sân khấu để lộ một tấm ‘’cảnh’’lớn với màu sắc tuyệt vời... Kìa mấy mỏm đá cao thấp không đều, màu đậm lạt khác nhau đang nhô cao lên khỏi mặt nước biển xanh thẩm với mấy gợn sóng trắng nhấp nhô. Sau mỏm đá, chị ‘’ca sĩ‘’ hiện ra bán thân với chiếc áo trắng ngắn tay, mắt nhìn về phía chiếc thuyền xa xa. Một mảnh trăng lưỡi liềm trắng đục đang lơ lửng. Tôi tự hỏi bâng quơ, trăng mùng chín hay mùng mười đây? Bao nhiêu con mắt đổ dồn lên sân khấu trong tiếng vỗ tay rào rào. Tiếng sáo trầm ấm buông ra ngọt ngào. Tôi ngồi thật yên, lắng nghe. Tiếng sáo ngân dài rồi cao dần và thanh thoát. Rồi bỗng vút lên chất ngất dồn dập. Tim tôi đập mạnh theo. Tôi thấy mơ hồ như có một làn mây trắng mong manh đang chuyển về phía chiếc thuyền xa. Âm thanh chiếc sáo xuống thấp, dịu dần rồi im bặt. Tôi lấy lại được hơi thở bình thường! Ánh sáng vẫn mờ ảo, con thuyền vẫn nhấp nhô trên sóng nước. Giọng hát cất lên thật êm ‘’Chiều rơi trong gió khơi đềm êm, Đằng chân mây dần trăng non lên, Ánh vàng tha thướt nước mờ trong xanh...Gió đưa hơi gợn sóng... Chữ ‘’gợn’’ chị ấy hát nghe vừa đủ ngọt ngào rồi uyển chuyển lên vừa cao để bắt qua chữ ‘’sóng’’’ rung rung...Tiếng sáo lại như vang vọng từ xa đưa theo giọng hát để rồi hoà lẫn theo tiếng sóng êm đềm của vịnh Hạ Long.
Con trăng lưỡi liềm di chuyển thật chậm về phía xa. Giọng trầm ấm ngọt lịm lên dần lan ra như những vầng mây lãng đãng nghe thanh thản lạ thường’’Đằng xa xôi bóng non chập chùng, nằm im nghe mờ trong không trung, tiếng đàn thánh thót theo ngàn lời ca... Tàu đi trong ánh trăng đềm êm, đàn theo ca tàn rơi trong đêm... Bỗng giọng ca bắt cao như đang quyện hút vào mơ tưởng xa xăm huyền diệu nào đó, đưa hồn tôi lên chỗ ngút ngàn xa thẳm chơi vơi ‘’Đợi con thuyền tới bến, bến mơ thần tiên’’... Âm thanh lại kéo dài, nhỏ dần rồi tắt lịm, nhưng âm hưởng còn vang xa thổn thức... Tiếng sáo bây giờ đang lơ lửng ở khung trời êm lắng thanh cao khiến lòng tôi cũng dịu dần. Cả hội trường đang để hết tâm hồn vào giọng ca tha thiết đang đưa người về khung trời kỷ niệm ‘’tàu đi trong ánh trăng đềm êm, ngồi bâng khuâng mình ai trong đêm, Mắt nhìn con nước tấm lòng vẩn vơ. Mơ đi tìm trong gió phút giây ngày xưa.’’... Chị ấy đang để hết lòng mình vào’’phút giây ngày xưa. Nhưng riêng tôi thì đang băn khoăn về bến mơ thần tiên...
Mấy năm sau tôi lên trung học. Thỉnh thoảng tôi vẫn cảm thấy nhớ những hoạt cảnh ấy đêm trăng ấy. Một dạo, tôi đến thăm anh bạn ở kiệt một đường Âm Hồn, ở Huế, (bấy giờ chưa gọi là đường Nguyễn Hiệu). Bạn cho tôi xem tập bài hát đã đóng thành sách. Tôi giở chậm rãi. Bài hát thứ hai trong tập là bài Trương Chi của Văn Cao. Hình vẽ ngoài bìa của bài này là khuôn mặt đài các của một thiếu nữ đang hướng mắt nhìn vào lòng một tô nước với hạt nước mắt trên má. Trong tô nước hiện ra hình bóng anh Trương Chi đang cúi mặt thổi sáo trên chiếc thuyền. Màu sắc của bức vẽ chỉ là một màu hồng đậm lạt khác nhau...Bản nhạc thứ ba của tập nhạc là Bên Sông Vắng của Tạ Tấn... Bản cuối cùng làm tôi thú vị, đó là Đêm Trăng Trên Vịnh Hạ Long. Tôi nhìn nhanh vào bức tranh bìa... Mấy mũi đá nhô lên khỏi mặt nước, một cây ở triền núi. Gần đó có một chiếc thuyền. Trên bầu trời có hình ảnh mặt trăng không tròn lắm! Hoạ sĩ của bức tranh ký tên là Vinh 51. Bản nhạc do nhà Tinh Hoa Huế xuất bản... Tôi nhìn nhanh vào phần trong của bài hát, nhận ra ngay: đợi con thuyền tới bến, bến mơ thần tiên. Tôi nhìn xuống phần cuối của bài hát: Mơ đi tìm trong gió phút giây ngày xưa. Tự nhiên tôi cảm thấy bùi ngùi rồi chậm rãi xếp xấp nhạc lại như cũ và kiếu từ bạn.
Ngày tháng qua dần, thăng trầm cũng lắm. Thế mà cũng có lúc tôi buộc miệng hát nghêu ngao như để ru tôi ‘’người xưa ơi nhớ chăng nơi này, một đêm kia dần trăng non lên... Trông con tàu tới bến, bến mơ thần tiên...
Một lần nằm trong trại tù Thanh Hoá, khoảng năm 1981, tôi hướng mắt ra phía cửa sổ để nhìn lên con trăng lưỡi liềm thượng tuần đang lửng lơ cô đơn trong màn sương mờ đục, tôi chạnh nhớ đến hình ảnh và âm thanh của hoạt cảnh ngày xưa. Lòng bâng khuâng, mơ màng tưởng nhớ đến âm giai ré trưởng của nhạc sĩ Hoàng Qúi... Một cơn gió lạnh chạm vào da mặt, tôi rùng mình, vội kéo mền đắp kín đầu...
Nằm trăn trở cho đến khuya mà vẫn không tài nào chợp mắt được, tôi ngồi dậy và ra ngoài phòng khách. Tôi nghĩ liều rằng giấc ngủ khó đến với tôi, thì tôi chấp nhận luôn việc không ngủ, nghĩa là thức trắng đêm, cũng chẳng sao. Thế là tôi uống một ly nước pha đá. Nước mát lọt xuống cổ làm tôi tươi tỉnh hẳn. Càng hay. Nhưng làm gì bây giờ. Làm việc lắt nhắt gì đó có thể gây tiếng động làm mất giấc người nhà thì tôi không nên. Đọc sách ư? Đọc cả ngày, nhiều rồi. Vậy thì nên cố gắng "tỉnh thức, nghĩa là không suy nghĩ gì" để cho tâm hồn thanh thoát là hay nhất. Tôi tự nghĩ thế.
A, một sáng kiến vừa đến trong tôi. Đó là nên lấy băng nhạc cassette Tình Ca số IV cho vào máy, gắn ống nghe vào tai để lắng lòng thưởng thức. Tôi thoáng nghĩ. Làm như thế là dễ chịu nhất trong thời khắc này. Đúng rồi, băng cassette này tôi ưa chuộng lắm. Cặp vợ chồng bạn, anh chị Đức, tặng tôi mấy năm trước, lúc tôi có dịp xuống thăm bạn dưới tỉnh và cũng để anh Đức chữa bệnh bằng cách châm cứu cho tôi tại phòng mạch.
Băng nhạc cassette gồm 12 bài hát do chị Đức Pathuma trình diễn mà tôi ưa chuộng đa phần, xin kể đại cương: Tiễn Anh Trong Mưa, Giọt Nắng Bên Thềm, Đêm Đông, Mưa Trên Xứ Huế, Ngày Xưa Hoàng Thị, Trả Lại Em Yêu, Ngàn Thu Áo Tím...Ngay khi đưa tặng tôi cuốn băng cassette, chị Đức Pathuma nói rằng chị đã cố sửa vài ba chữ trong bài Mưa Trên Xứ Huế để có thể đúng hơn theo chữ người Huế thường dùng và cũng gắng hát theo giọng Huế để anh nghe có đúng chữ và giọng Huế không. Đây nhé : ngày xưa mưa rơi thì sao, răng chừ nghe mưa lại buồn...Mấy ca sĩ thì hát ngày xưa mưa rơi thì sao bây chừ nghe mưa lại buồn...chữ bây chừ không đúng như người miền Trung mình. Chớ nữa hát răng chừ, tại sao bây giờ, e mà đúng hơn, phải vậy không ? Tôi nghe chị bạn nói có lý nên cũng biểu đồng tình. Tôi thêm rằng người Huế thường nói chữ chừ hoặc bây giờ, ít khi nói chữ ghép bây chừ...
Từ đó đến chừ (hay là bây giờ, không phải là bây chừ đâu nhé !) tôi đã nghe băng cassette này nhiều lần, nhất là mỗi khi cảm thấy có trong lòng một nỗi...gì hoặc mang máng nhớ về một âm vang hay hình ảnh xa vắng mơ hồ nào đó. Giọng ca ngọt ngào và tròn ấm của chị bạn quyện vào nội dung bẽ bàng hình ảnh lãng đãng của bài hát Ngàn Thu Áo Tím tạo cho tôi một cảm giác vừa êm ái vừa buồn thương. Thương gì, thương ai, tôi không nhắm đến rõ ràng. Đúng rồi, tôi cảm thương tâm tư nhân vật trong bài hát: người con gái áo tím hay tâm tư tác giả: nhạc sĩ Hoàng Trọng.
...Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím, Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến, Chiều xuống áo tím thường thướt tha, Bước trên đường thắm hoa, ngắm mây chiều lướt xa...Rồi thì từ khi yêu anh, anh bắt xa màu tím. Nhưng chẳng bao lâu, mơ ước chưa kịp đến thì (em) khóc anh chiều tiễn đưa và rồi anh đi mãi không về nữa...Bây giờ đây, một bóng áo tím buồn ngẫn ngơ, khóc trong chiều gió mưa, khóc thương hình bóng xưa...Em cảm thấy cuộc đời sao quá đau thương cho người áo tím là em đây: Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím, Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím, Nhuộm tím chuỗi ngày vắng xa nhau, Tháng năm còn lướt mau, Biết bao giờ thấy nhau...Không biết may hay rủi khi người áo tím được yêu một thời gian ngắn rồi người yêu...lại ra đi biền biệt để lại niềm thương nỗi nhớ...
Bài hát điệu valse chậm vừa hoà với hình ảnh của người con gái áo tím lãng mạn đã buộc lòng buông bỏ áo tím để vừa lòng người yêu nhưng giờ đây lại thẫn thờ chờ trông người yêu xa xăm! Rõ ràng là một hình ảnh thật đẹp, thanh cao và có chút bẽ bàng, mong manh! Tôi có cảm tưởng giọng ca mang hồn thơ của người trình diễn truyền dẫn được nỗi lòng của người con gái áo tím hay của...tác giả Hoàng Trọng sang tâm hồn của người thưởng thức đồng điệu. Xin cám ơn, cám ơn sự đóng góp của các tâm hồn nghệ sĩ trong Ngàn Thu Áo Tím...
(Kim Oanh thực hiện)
Một nhạc sĩ khác, cũng có lần gặp một người con gái áo tím: một chiều lang thang bên giòng Hương Giang tôi gặp một tà áo tím nhẹ thấp thoáng trong nắng vương...và tâm hồn người nghệ sĩ cảm thấy màu áo tím sao luyến thương, sao vấn vương... Người nhạc sĩ về nhà mơ tà áo qua đường, mơ một lời nói yêu thương, Ước mơ sao áo mầu khép kín tim nhau...Rồi người nghệ sĩ cố gắng chiều chiều lê chân bên giòng sông Hương Giang để mong tìm lại tà áo ấy nhưng tà áo nay thấy đâu và nhìn xuống giòng Hương Giang thì giòng nước cứ cuốn mau. Bẽ bàng làm sao khi người nhạc sĩ đa cảm nghe tin người áo tím qua cầu và áo tím phai mầu để giòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao!
Tôi nhớ khoảng nửa thập niên 50, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, phong trào di cư vào Nam rất rầm rộ. Một số đông đồng bào ruột thịt miền Bắc định cư ở Huế, rải rác đó đây. Thuở đó được xem là thuở thanh bình...Các trường học đầy cả học sinh trong lứa tuổi vui tươi yêu đời. Nữ sinh trường trung học Đồng Khánh Huế với đồng phục trắng nên vào giờ đến trường hay buổi chiều tan trường tỏa ra và tràn ngập cả đại lộ Lê Lợi. Tuy thế, cũng có những chiều im vắng bên bờ sông Hương, người ta bắt gặp đôi tà áo tím nhỡn nhơ theo cơn gió.
Hồi đó một trong vài ba tà áo tím nổi bật xứ Huế có giọng nói ngọt ngào trong vắt, gốc xứ ngàn năm văn vật, ngụ tại Thành Nội gần Cửa Đông Ba. Nhiều thanh niên xứ Huế ngồi đứng không yên mỗi khi có bóng dáng người áo tím thướt tha đang ngắm mây chiều lướt xa, đúng như nhạc sĩ Tuấn Khanh mô tả. Về sau người ấy buông bỏ áo tím, thay bằng tà áo xanh ngọc có thêu rồng vàng ở cổ. Người áo tím cũng đã qua cầu...đúng như người nhạc sĩ nghe tin theo lời gió nhắn...Và từ đó thanh niên xứ Huế không còn dịp để thấp thỏm khi đứng ngồi nữa.
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã hiểu tình quyến luyến ban đầu mà kết cuộc là nay thấy đâu. Lòng người nghệ sĩ và giòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao như nhau. E rằng Hoàng Nguyên gặp tào áo tím D.T.L. rồi đấy. Thôi thì, giai nhân nan tái đắc, người đẹp khó gặp lại, cũng là lẽ thường tình. Chỉ buồn thương cho người nghệ sĩ đa cảm Hoàng Nguyên không may mắn gặp người mình thương đơn phương chỉ ngắn ngủi vì đó là tà áo qua đường. Hoàng Nguyên mơ một lời nói yêu thương! ít ỏi và đơn sơ như thế mà cũng không được! Ôi tình yêu đơn phương thật bẽ bàng cho người nhạc sĩ tài hoa của chúng ta!
Nói thêm chi tiết: con gái xứ Huế hay mơ mộng lắm. Về sắc màu thì các nàng, các tôn nữ thường ưa chuộng màu tím, nghĩa là mỗi nàng đều có một màu tím để ấp ủ trong lòng, để ngắm nhìn và tượng trưng...cho mình. Thế nên hoa tím là chính...nàng! Trên các bàn học các nàng đôi khi có chưng một chậu cây hoa nhỏ, gọi là hoa Violette, hoa màu tím, để ngắm nhìn và thưởng thức mùi hương. Như thế cũng là để nhìn ngắm mình, nói chuyện với chính mình. Lá cây violette mọc thẳng lên và toả nhẹ ra, dài khoảng hơn tấc rưỡi, màu xanh đậm, người Huế gọi là màu lục đậm. Hình dạng chiếc lá tương tự lá rau má. Đặc biệt hoa màu tím đậm tỏa hương thơm chất ngất mà lại mọc kín phiá cọng lá nên được cọng lá bao bọc và che chở. Từ các chi tiết này, con gái Huế cho rằng hoa Violette tượng trưng cho sự thanh cao và kín đáo của các tiểu thư khuê các. Đôi khi vài cô tôn nữ cũng kín đáo bôi chút nước hoa từ chai màu tím Violette, hiệu Chanel đắt tiền, hương thơm tương tự hoa violette. Tiện lợi hơn, nàng dùng loại nước hoa trong ống nhỏ và dài hiệu Soir de Paris no. 5 vì mùi hương tương tự với Chanel...
Nhưng đấy là chuyện nửa thế kỷ trước.
Tại Bruxelles, rất nhiều lần, tôi cũng đi lang thang trong các chợ chủ nhật để tìm mua chậu hoa Violette như...ngày xưa ở Huế nhưng thất vọng. Người bán hoa nói chưa nghe nói đến Hoa Violette bao giờ. Tôi cố tìm thì thấy một vài loại cây có lá tương tự như Violette. Hoa có màu tím đậm tuyền hoặc tím đậm có điểm lấm tấm trắng, không mùi hương và đặc biệt hoa mọc cao ngang hay hơn lá. Như vậy hoa chẳng e ấp và kín đáo chút nào. Đúng rồi, đây là xứ Bỉ, không phải là xứ Huế...ngày xưa...
Bây giờ đây, nếu dù trở lại xứ Huế thì chắc rằng tôi cũng chẳng gặp lại loại hoa Violette...ngày xưa đâu vì tất cả đã qua đi, qua hết rồi ! Một triết gia nào đó nói người ta không thể tắm hai lần trên một giòng sông mà!
(Vanchus thực hiện)
Xin nói thêm: Nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tác giả bài hát Tà Áo Tím nói trên cùng nhiều bài hát khác mà tôi thích lắm, gốc xứ Quảng Trị. Mới đây tôi đọc một bài viết khá dài, sâu sắc và ghi chú rất nhiều chi tiết của tác giả Tuệ Chương nói về nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Tôi thích bài viết này. Nhưng một điều đáng tiếc cho tôi là tôi không thấy tác giả Tuệ Chương nhắc về bài Ngày Mai Tôi Đi mà tôi đặc biệt ưa chuộng...Ngồi bên nhau đêm nay, ngày mai tôi ra đi, khi tiếng hát quân hành rộn lòng trai...Ngồi bên nhau nói dịu dàng vài lời, ngoài trời sương lạnh có cánh sao rơi. Rồi mai nơi xa xôi, có người ngồi nhìn trăng khuya chơi vơi, nhớ ôi đôi tâm hồn nào...Lòng bồi hồi dạt dào nhìn trăng trên vai nhau, nhìn trăng trên tà áo, đáy mắt sâu, ánh trăng sáng dâng sầu. Ngồi bên nhau đêm nay, có gì mà ngại ngùng...Mai về thanh bình vui ánh trăng chơi ...
Đây là niềm hy vọng thanh cao, giản dị nhưng người nhạc sĩ tài hoa của chúng ta không hề đạt được vì thời gian sau, báo chí cho biết Hoàng Nguyên tử nạn! Ôi thôi! Buồn thương quá!