Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Đạo Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Đạo Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Trưởng Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Minh Triết - Cựu Đạo Trưởng Đạo Phiên An - Châu Gia Định (Trần Đình Phước)

(Kính tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết và các Cựu Hướng Đạo Sinh Đạo Phiên An,) 

Trưởng Nguyễn Minh Triết và tôi biết nhau từ những năm còn rất trẻ. Trưởng Triết lúc đó là Đạo Trưởng Đạo Phiên An, còn tôi là một Trưởng của một đơn vị trực thuộc Đạo Phiên An. 

Đạo là tên gọi một đơn vị trong tổ chức của Hội Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) gồm nhiều Liên Đoàn và Đoàn, một Đạo thường có từ vài trăm đoàn viên trở lên. Thiết tưởng cũng nên biết qua Phong Trào Hướng đạo là một Phong Trào Giáo Dục Thanh Thiếu Niên có phạm vi toàn cầu với mục đích góp phần phát triển thanh thiếu niên có được thân thể cường tráng, đạt được tiềm năng về trí tuệ, về xã hội và về tâm linh cho chính bản thân cũng như trở thành các công dân có trách nhiệm, trở thành các thành viên của cộng đồng địa phương, của quốc gia và của quốc tế". 

Phong trào dùng ‘Phương Pháp Hướng đạo’ là một chương trình giáo dục chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm cắm trại trong rừng và các trò chơi do Huân Tước Baden Powell sáng lập năm 1906 tại Anh quốc, rồi sau đó lan tỏa ra toàn cầu. 


Đạo Phiên An, thuộc Châu Gia Định thành lập vào năm 1965, được tách ra từ Đạo Bến Nghé do Trưởng Nguyễn Minh Triết có Tên Rừng là Sói Trầm Ngâm được Trưởng Tổng Uỷ Viên Hội Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Hữu Mưu ký quyết định giao trách nhiệm làm Đạo Trưởng.
Lúc ban đầu, Đạo Phiên An có 3 Liên đoàn và 3 đơn vị Đoàn, nhưng sau đó không lâu đã phát triển thành một trong vài Đạo có nhiều đoàn sinh trong vùng Sài Gòn và Gia Định. 
Địa bàn sinh hoạt của Đạo Phiên An gồm ba nơi là: Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, Vườn Tao Đàn, và Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Dưới sự dẫn dắt của Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết.

Đạo Phiên An đã tích cực tham gia mọi sinh hoạt do Hội HĐVN khởi xướng, đặc biệt là sinh hoạt ở Châu Gia Định. Trưởng Nguyễn Minh Triết là một Trưởng có nhiều khả năng trong việc ứng dụng phương pháp giáo dục Hướng Đạo, vì đã trải qua mọi khóa trại huấn luyện ở mọi cấp từ trong nước và ngoại quốc như: các khóa trại huấn luyện Bạch Mã, Bằng Rừng ở đồi Tùng Nguyên, cạnh hồ Than Thở, Đà-lạt và khóa huấn luyện ITTC ở Seoul, Đại Hàn. Nhờ khả năng và thành tích trong việc phát triển sinh hoạt Hướng Đạo trong giới thanh thiếu niên nên Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Hội Hướng Đạo Việt Nam đề cử các công tác sau: 
 - Năm 1967 là. Đại Diện Hướng Đạo Việt Nam tham dự trại Họp Bạn Hướng Đạo Quốc Tế tổ chức tại Jindalee, Brisbane, Queensland (Australia,) từ 28 Tháng 12, 1967 tới 06 Tháng 01, năm 1968. 
 - Năm 1969 tham dự trại Huấn Luyện ITTC (International Training The Team Course) tại Seoul, Đại Hàn và sau đó là thành viên trong phái đoàn Hướng Đạo Việt Nam do Hội Trưởng Phan Thành Hy và Tổng Ủy Viên Huỳnh Văn Diệp hướng dẫn tham dự Hội Nghị Trưởng Hướng Đạo Quốc Tế cũng tổ chức ở Séoul (Đại Hàn). Trên đường về nước phái đoàn ghé thăm hữu nghị Hướng Đạo Đài Loan và Hong Kong.


 - Năm 1970, Trưởng Nguyễn Minh Triết lại được tham gia vào Ban Tổ Chức Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn quốc tổ chức tại Suối Tiên (Thủ Đức) từ ngày 26/12/1970 đến ngày 30/12/1970. 

Trại Trưởng là Trưởng Tổng Uỷ Viên HĐVN Trần Văn Luợc, tên Rừng là Bò Lém. Trại mang tên Giữ Vững để kỷ niệm 40 năm thành lập Phong Trào HĐVN.Trong lễ khai mạc trại, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đại diện Ban Quản Trại hướng dẫn Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đi thăm toàn trại.

 Ngoài, ra, giữa tháng 06 năm 1969, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Trưởng Nguyễn Tuyên Thùy, nguyên Thiếu Tá Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, cũng là một Trưởng Hướng Đạo kỷ cựu biết Trưởng Nguyễn Minh Triết có nhiều khả năng về hướng đạo do được đào tạo có bài bản và nhiều kinh nghiệm về tổ chức, nên tin tưởng giao trách nhiệm tổ chức ra mắt Đoàn Thiếu Nhi Quân Đội Trường Bộ Binh Thủ Đức gồm tất cả con em quân nhân thuộc Trường Bộ Binh và Trại Gia Binh. Buổi lễ ra mắt thành công mỹ mãn dưới sự chủ toạ của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức Trong lãnh vực sinh hoạt cộng đồng và hoạt động xã hội,


Trưởng Nguyễn Minh Triết được hai phụ tá đắc lực của Đạo Phó Trưởng Huỳnh Văn Nhì và Trưởng Phụ Tá Trang Thế Phương đã dẫn dắt Đạo Phiên An tham gia các công tác như: - Mùa Hè năm 1966, Kha Đoàn Nguyễn Huệ tham gia giúp ban tổ chức cuộc thi Săn Bắn dưới đáy biển do Bộ Thanh Niên tổ chức tại Hòn Yến, Nha Trang. - Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Đạo Phiên An gồm Thiếu Đoàn Trương Cộng Định và Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định tiếp đón đồng bào chiến nạn tại Trường Chi Lăng 2, Gia Định. Các Trưởng và Đoàn sinh giúp Ty Xã Hội phân phát thực phẩm, quần áo, thuốc men và hướng dẫn sinh hoạt hướng đạo cho các thiếu nhi là con em của đồng bào chiến nạn. - Giúp Tỷ Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức cho các em mồ côi du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu. - Hợp tác với các đoàn thể bạn xây dựng các Trại Tạm Cư chung quanh khu vực Trường Pétrus Ký, Quận 5, Sài Gòn cho đồng bào chiến nạn Mậu Thân và Việt Kiều bị cáp duồng (Cap Youn) ở Nam Vang (Kampuchea)) chạy lánh nạn về. - Tổ chức lạc quyên vật chất, thuốc men, quần áo khi có Thiên Tai, Bão Lụt xảy ra. Đạo Phiên An đã hoạt động và phát triển rất mạnh với hơn 500 đoàn sinh và Trưởng phụ trách. Lệnh Tổng Động Viên của chính phủ sau Tết mậu Thân 1968 và Mùa Hè Lửa Đỏ 1972, khiến một số Trưởng phải nhập ngũ. Cũng trong năm này, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã tốt nghiệp Cao Học tại Học viện Quốc Gia Hành Chánh được trường cấp học bổng đi du học Hoa Kỳ theo chương trình đào tạo Tiến Sĩ để tăng cường cho Ban Giảng Huấn của trường. Do đó, sinh hoạt của Đạo Phiên An bị ảnh hưởng rất nhiều, vì thiếu Trưởng hướng dẫn. 

Đạo Phiên An tham dự Trại Họp Bạn HĐVN Toàn Quốc cuối cùng là Trại Tự Lực từ ngày 21/12/1974 đến ngày 25/12/1974. Trại nằm trên một khu đất rộng, bên cạnh Dòng Đồng Công, thuộc Xã Tam Bình, Huyện Thủ Đức, Tỉnh Gia Định. Sau ngày 30 Tháng 04, năm 1975, chính quyền mới cấm mọi sinh hoạt Hướng Đạo, trụ sở Hội HĐVN tại số 18 Đường Bùi Chu bị tịch thu. Đạo Phiên An, các Đạo khác và Phong Trào Hướng Đạo VN coi như không còn nữa!
Hiện nay, tại một số công viên ở Sài Gòn và tỉnh thành trong nước, vào cuối tuần xuất hiện sinh hoạt giống như hướng đạo ngày trước do các Cựu Trưởng HĐVN hướng dẫn. Chính quyền không ra lệnh cấm vả cũng không chính thức cho phép hoạt động. 


Hy vọng, trong tương lai không xa, Phong Trào Hướng Đạo sẽ được chính quyền xem lại và cho phép tái hoạt động. Cá nhân tôi, may mắn có dịp gặp Trưởng Nguyễn Minh Triết hai lần:
 - Lần thứ nhất tại Virginia vào Tháng 05, năm 2007, khi gia đình tôi tình nguyện giúp Ban Quản Lý Trại Truyền Thống 7 tổ chức tại đây, trùng hợp với Trưởng Nguyễn Minh Triết đi dự họp mặt Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành. Trước đó, gia đình tôi gồm: con trai, vợ tôi và tôi đã tham dự Trại Truyền Thống 4 tổ chức tại Orange County, Nam Cali vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 2003 
 - Lần thứ hai, khi gia đình tôi tham dự Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn Thế Giới, Thẳng Tiến 10 tổ chức từ 27 Tháng 06, năm 2014 đến 03 Tháng 07, năm 2014 tại Trại Strake, Thành Phố Houston (Texas). Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đầt trại thăm. Sau đó, khi trại bế mạc Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đón gia đình tôi về nhà ở một ngày, chở đi thăm các thắng cảnh ở Thành Phố Houston và dùng cơm tối tại một nhà hàng trong vùng. Hai anh em có dịp cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm Hướng Đạo ngày xưa, sau nhiều năm xa cách, tưởng chừng không bao giờ có thể gặp lại. 


Giờ đây! Anh Chị Em Đạo Phiên An tứ tán khắp nơi, kẻ còn, người đã giã từ cuộc chơi. Hầu hết đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, có người sắp sửa 90 tuổi, nhưng một số vẫn còn giữ mối dây liên lạc Hướng Đạo, và hẹn sẽ gặp lại các Trường Hướng Đạo đi trước để cùng nhau đưa hai tay lên hông “ Nhảy Lửa” và hát bài “ Giữ Chặt Mối Dây.” Theo tôi, trong bất cứ hoàn cảnh nào.Tinh Thần và Tinh Huynh Đệ Hướng Đạo vẫn luôn luôn bền vững. Đúng như câu châm ngôn của Hướng Đạo. "Hướng Đạo một ngày là Hướng Đạo Mãi Mãi - Once a Scout, always a Scout." 

 Trần Đình Phước 
 (Voi Chăm Chỉ - Đạo Phiên An)

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Sinh Hoạt Hướng Đạo Việt Nam Trước Năm 1975

Buổi chào cờ đầu năm với các đơn vị bạn và quân đội Hoa Kỳ.


Biến loạn thời cuộc như trường hợp quân đội đang làm chủ đất nước dưới thời Nguyễn Khánh năm 1964.

Kim Oanh Sưu Tầm

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2025

Luận Văn Tốt Nghiệp Đốc Sự - Học Viện Quốc Gia Hành Chánh: Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam - Phạm Ngọc Thanh

Luận Văn tốt nghiệp Đốc Sự - Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ngày xưa, của Sinh Viên Phạm Ngọc Thanh. Ban Đốc Sự khóa XVII, năm 1968-1972.

Anh Võ Phi Hùng Cựu Học Sinh Petrus Ký, niên khoá 67-74 tặng Kho Sách Quán Ven Đường do anh Huỳnh Chiêu Đẵng thực hiện.

Xin mời độc giả Click để xem hay right click để download:

Link: Luận Văn Tốt Nghiệp: Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam NK 68-72 - Phạm Ngọc Thanh  

Sinh Viên: Phạm Ngọc Thanh
Người Tặng: Võ Phi Hùng
Người Nhận: Huỳnh Chiêu Đẳng

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2024

Hướng Đạo Chia Niềm Vui

 

(Mến tặng trưởng T. và các em Hướng Đạo Sinh
đã cùng sống một ngày hữu dụng.)

Một ngày thật vui vẻ
Làm thiện nguyện bên nhau
Cùng làm chung bên trẻ
Giúp nhau vơi bớt sầu.

Bao sức hùng, vai khỏe
Gánh, vác thật hiên ngang
Việc nặng tôi động đến
Là anh giành đảm đang.

Chẳng lăng nhăng tình ái,
Không hẹn… hò cá nhân
Chia vui người móm mém
Chỉ hẹn… nhau đỡ đần.

Làm đến khi mệt lả
Nhắc trẻ dừng, ngủ nghê
Anh độc thân vui tính,
Tôi phiền muộn phu thê.

Bao năm từng san sẻ
Giúp ích, cùng mải mê
Lắm chuyện buồn gia cảnh
Trong lời anh tỉ tê…
San sẻ người đồng… cảnh
Tôi an ủi, vỗ về:

-Chúng ta đeo mặt hề
Giấu nỗi buồn thật kín
Trao vui, trẻ em mê
Dạy nhường, học nhẫn nhịn
Hướng Đạo Sinh “Gồ ghê!

Gồ ghê!
Gồ ghê!
Khen nhau to một tiếng,
Bà con ơi!
Gồ ghê!”

Cứ chuyện cần là kêu
Mỗi khi ai cầu cứu
Thương bao trưởng tuổi chiều
Sức khỏe đã dần yếu.

Chúng em: “trưởng-kiêu-sa”
Ngon lành không chống… nạnh,
Gậy Hướng Đạo một nhà
Chống… nạng cùng múa, ca.

Chân còn khỏe, đi hoài
Mưa nắng chẳng hề ngại
Ngày ngày gọi nắng mai:
Thân ái bắt tay trái!

Ý Nga 
16.10.2024

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2024

Trái Tim Giữ Vững

 

Trong ánh mắt của đàn con, đám cháu
Ta đã thấy đời trôi rất dịu hiền
Trong tiếng khóc của trẻ thơ khát sửa
Có chút gì nồng ấm rất bình yên.

Trong thinh lặng của hoàng hôn tuổi thọ
Ta mơ về cây lá đỉnh Tùng Nguyên
Nơi rộn rã của một thời tuổi nhỏ
Vui thơ ngây và cười với hồn nhiên.

Trong dâu bể của từn ngày cơm áo
Vẫn nồng hương Bách Hợp ngát đời nhau
Dù nhật nguyệt có làm phai trí não
Đường mơ hoa luôn rạng rỡ muôn màu.

Trong nghiệt ngã có lửa thiêng soi lối
Ấm trong ta ánh sáng của lòng ngay:
Lòng Hướng Đạo mở đường xuyên bóng tối
Đưa chân ta vượt gian khó từng ngày.

Trong cuộc sống của chuỗi ngày viễn xứ
Có trái tim Giữ Vững bước di hành
Bàn tay trái vẫn nối tình lữ thứ
Đan yêu thương cho thắm mãi tình xanh.

Huy Văn
Gởi Kim Oanh để lưu trữ và chuyển tiếp
TABTT

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

Hát Rong – Hát Xẩm – Trầm Ca – Du Ca

 

Hát Rong

Hát Rong được gọi là Troubadour, tên của một nhà soạn nhạc và nghệ sĩ biểu diễn vào thời kỳ trung cổ ở Âu Châu. Người phụ nữ hát rong được gọi là Troubairitz. Phong trào hát rong phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ năm 1100 đến năm 1350 ở vùng Occitania và lan rộng khắp Âu Châu, đặc biệt tại những nơi thuộc miền Bắc nước Pháp, miền Bắc nước Ý và Tây Ban Nha, sang cả Đức và Bồ Đào Nha. Phong trào hát rong sau đó dần dần lụi tàn vì những khuynh hướng thưởng ngoạn thay đổi của xã hội. (Trích Wikipedia).
Hát Rong thường quy tụ một nhóm năm bảy người đi hát từ nơi này sang nơi khác, đặc biệt họ có những buổi trình diễn do các nhà quý tộc, lãnh chúa hay những kẻ giàu có tổ chức trong các lâu đài dinh thự. Những lần biểu diễn như thế có thể kéo dài trong năm ba ngày, có khi hàng tháng và họ rất được những người tổ chức ái mộ vì thuở đó chưa có những nhà hát hay những nơi trình diễn để họ có thể đến đó hầu thưởng thức những bài hát và nghe đọc thơ. Nội dung các bài hát rong thường lấy chủ đề như Tinh Thần Hiệp Sĩ và Tình Yêu Thanh Cao. Giới bình dân như nông dân thợ thuyền hiếm khi là thính giả để những kẻ hát rong phục vụ cho họ nên có thể nói rằng những người hát rong chỉ hát để phục vụ cho thành phần giàu sang, quyền quý, trưởng giả vì họ được nhận những món tiền thưởng (thù lao) khi đến phục vụ và còn được nuôi ăn trong suốt thời gian trình diễn. Thỉnh thoảng những người hát rong cũng thấy xuất hiện trong các buổi lễ hội do chính quyền hoặc các nhà giàu đứng ra tổ chức mà dân chúng có thể đến nghe.
Âm nhạc của hát rong là các bài hát thế tục truyền thống được hát bằng tiếng bản xứ kèm theo các nhạc cụ đệm và được trình diễn bởi các ca sĩ chuyên nghiệp và các nhà thơ. Ngôn ngữ hát rong bắt nguồn từ Occitania, khi lan tràn qua Pháp thì được gọi là Trouvère và hát bằng tiếng Pháp.
Sinh hoạt hát rong đồng thời tương ứng với sự phát triển đời sống văn hóa ở Provence kéo dài từ thế kỷ 12 đến thập niên đầu của thế kỷ 13 tại Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, miền Bắc nước Ý và Pháp. Nghệ thuật hát rong của những Troubadour đã đóng góp cho sự phát triển sau này của nền âm nhạc thế tục. Đặc biệt trong hơn hai nghìn bài hát rong thời bấy giờ, nội dung thường có những lời thơ đi kèm.
Trong những bài hát rong thịnh hành thời đó, ta thấy có một số thể loại như: bài hát về tình yêu (tỏ tình, chia tay với người yêu, trách móc người yêu, mơ mộng…), những bài nói về cuộc Thập Tự Chinh, về giáo dục, về sự phẫn nộ thách thức, những bài ca ngợi hiệp sĩ, các bài châm biếm tranh luận và những bài ca ngợi đời sống du mục…

Hát Xẩm


Hát Xẩm là một thể loại hát dân gian phát xuất miền Bắc Việt Nam. Hát xẩm được dùng để gọi những người hát dạo thời xưa – thường là những người khiếm thị, nghèo khổ đi hát rong để mưu sinh. Họ thường biểu diễn ở các khu đông người qua lại như ở chợ, đường phố…
Theo truyền thuyết, vào đời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán (đừng nhầm với Trần Quốc Toản) và Trần Quốc Đĩnh do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị hãm hại, bị chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Biết hai mắt bị mù nên Trần Quốc Đĩnh than khóc rồi thiếp đi. Trong giấc mơ Trần Quốc Đĩnh thấy Phật hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn gỗ, dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật kỳ lạ, đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó những người đi rừng nghe tiếng đàn nên đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đi khắp nơi và vào tận hoàng cung, vua nghe được nên mời ông vào hát và nhận ra ông là con của mình. Trở lại đời sống trong cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn lời ca dạy cho những người khiếm thị để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được coi là ông tổ của nghề hát Xẩm cũng như bộ môn hát xướng nói chung trong dân gian Việt Nam. Nhưng theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử nào tên Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Thái tử con vua tên là Khảm, sau lên ngôi vua là Trần Nhân Tông, một người con nữa là Tả Thiên Vương. Vì vậy nguồn gốc hát Xẩm là dựa trên truyền thuyết dân gian chứ không truy tìm được ra từ chính sử.
Hát Xẩm có hai làn điệu chính là “Xẩm Chợ” và “Xẩm Cô Đào”. Hát “Xẩm Chợ” thì điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát bằng lời hát chính và đệm bằng đàn bầu và đàn nhị cùng sênh phách. Còn hát “Xẩm Cô Đào” thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hất Xẩm Cô Đào được đệm bằng đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và đàn nhị. Hát Xẩm còn sử dụng làn điệu dân ca miền Bắc như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc hay sa mạc.
Từ xa xưa, khi hát Xẩm vẫn còn nguyên vai trò xã hội của nó, người khiếm thị hiếm khi hát Xẩm độc lập, họ thường đi theo ‘nhóm Xẩm’, thường là vợ, chồng, con cái của người hát. Tinh thần trọng điểm của nghề hát Xẩm thể hiện qua truyền thuyết trên là tinh thần kiên cường, vượt qua những khó khăn trở ngại để vẫn giữ thái độ lạc quan, yêu đời. Điều này không chỉ được phản ảnh qua nghịch cảnh của vị hoàng tử trở lại hoàng cung từ rừng sâu mà còn thể hiện trong thực tế: Những người hát Xẩm khiếm thị luôn có mặt khắp nơi để mang tiếng hát cho đời, đưa những lời ca và triết lý nhân sinh đến tận tâm hồn người nghe.
Troubadour ở Âu Châu và hát Xẩm ở Việt Nam có thể coi là cùng xuất hiện trong cùng thời điểm gần nhau. Troubadour xuất hiện vào thế kỷ 12-13. Hát Xẩm ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 13 theo truyền thuyết.
Nói đến Troubadour ở Âu Châu hay hát Xẩm ở Việt Nam cũng chỉ là những liên tưởng đến việc “ca hát” ngày xưa trước khi đề cập đến một hình thái “ca hát” đã hình thành giữa thế kỷ thứ 20 tại Miền Nam Việt Nam. Đó là Trầm Ca và Du Ca.

Trầm Ca

Trầm Ca là gì? Xin trả lời đơn giản: Là những bài ca khi hát lên khiến cho người nghe “bị” hay “được” tác động nên khiến phải có một chút suy nghĩ. Suy nghĩ điều gì? Suy nghĩ về thân phận làm người, suy nghĩ về hoàn cảnh xã hội chung quanh, suy nghĩ về tình hình đất nước như chiến tranh, chết chóc cùng với những bất công xã hội… Đặc biệt Trầm Ca muốn gửi tiếng nói đến giới Trẻ gồm những thành phần thanh niên, sinh viên, học sinh là những người đang trực diện với nhiều thảm cảnh xã hội do chiến tranh gây nên. Mục đích của Trầm Ca là mời gọi mọi người nhận thức được hoàn cảnh xã hội để rồi cùng nhau dấn thân phục vụ tha nhân chứ không ngồi một chỗ để “than thân trách phận” hoặc “than trời trách đất”. Trầm Ca là những lời mời đi xây dựng một quê hương đổ nát vì chiến tranh, hàn gắn lại những đau thương, chia rẽ, hận thù. Tiếng hát của Trầm Ca, cuối cùng với mong ước là mang lại sự lạc quan, niềm hy vọng trong cuộc sống. Giai điệu và ngôn ngữ của Trầm Ca trầm thống nhưng lành mạnh, hùng hồn nhưng cũng chất chứa tình yêu quê hương với những thúc giục gọi mời tha thiết.

Khi vừa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa trung học, sáu chàng trai cũng là sáu tráng sinh Hướng Đạo Việt Nam tại thành phố sương mù Đàlạt đã chọn đi chung một con đường phục vụ tha nhân bằng hình thái sinh hoạt văn nghệ. Tuy ở Đàlạt và đang theo học đại học ở đấy nhưng họ đã chọn thủ đô nước Việt Nam Cộng Hòa là nơi khởi thủy để đóng góp tâm ý và tiếng hát của mình. Sáu chàng trai tuổi mười tám đôi mươi sẵn có tinh thần mạo hiểm của Hướng Đạo Sinh đã rời bỏ thành phố hiền hòa lắm hoa thơm cỏ lạ, đồi núi chập chùng, mưa sương mù mịt quanh năm để về thủ đô, chốn phồn hoa đô hội. Sáu chàng trai đó là: Nguyễn Đức Quang, Hoàng Kim Châu, Hoàng Thái Lĩnh, Trần Trọng Thảo, Đinh Gia Lập và Nguyễn Quốc Văn. Chỉ vài tháng, sau khi Trầm Ca có mặt ở một số nơi để sinh hoạt tại Sài Gòn thì có một giáo sư đang dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc tình nguyện đến sinh hoạt chung với Trầm Ca, đó là cô Đỗ Thị Phương Oanh. Ngoài những bài hát Nhận thức do Trầm Ca sáng tác, họ còn sử dụng nhiều bài hát theo thể loại ca cổ, dân ca Bắc Trung Nam, dân ca các sắc dân thiểu số và dân ca của một số dân tộc trên thế giới, các bài Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Hùng sử ca, kể chuyện, kịch, đọc thơ… để đem đến cho người nghe nhiều làn điệu dân gian chân chất của thời xa xưa cũng như những âm giai trầm hùng, nghe ra như thúc giục người người dấn thân vào con đường phục vụ tha nhân, xây dựng đất nước và nối kết tình người.

Nguyễn Đức Quang (trái), Hoàng Kim Châu (giữa)

Vì là những tráng sinh Hướng Đạo nên khi về Sài Gòn, họ cũng có sự giúp đỡ tinh thần và khuyến khích của các Trưởng Hướng Đạo tại thủ đô như Trưởng Trần Trọng Lân, Đỗ Quý Toàn, Đỗ Ngọc Yến và các nhà hoạt động thanh niên như các anh Hoàng Ngọc Tuệ, Trần Văn Ngô, Hà Tường Cát, Đỗ Anh Tài, Trần Đại Lộc, Lê Đình Điểu… Địa điểm ca hát của họ là những khuôn viên đại học, các sân trường trung học, các hội quán thanh niên sinh viên, hội Việt Mỹ, hội Giáo Chức… Nơi nào cần nghe Trầm Ca thì họ đều có mặt như Huế, Đà Nẵng, Đàlạt, Phan Thiết, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho, An Giang… Họ cũng có mặt để hát tại các quân y viện, trung tâm huấn luyện của quân đội, trung tâm chiêu hồi, trại tù binh cộng sản và ngay phía sau trận địa. Sau hơn một năm ca hát ở thủ đô, Trầm Ca đã gây được tiếng vang và ảnh hưởng đến khuynh hướng thưởng ngoan ca nhạc, một loại ca nhạc không sân khấu, không đèn màu xanh đỏ như phòng trà hay khua đàn đập trống của các đại nhạc hội mà là một thứ ca nhạc trên sân cỏ cùng với người nghe cũng đồng thời cũng là những người vỗ tay và cùng ca hát.

Du Ca


Du Ca là hậu thân của Trầm Ca. Như trên đã trình bày, thành viên Ban Trầm Ca vốn là những Hướng Đạo Sinh nên công việc Giúp Ích chính là châm ngôn của họ như một trong những Lời Hứa của Hướng Đạo. Vì lẽ đó, họ đã dấn thân tham dự vào những công tác xã hội ngay tại địa phương họ lớn lên và về sau tại nhiều nơi trên toàn lãnh thổ Miền Nam Việt Nam như: sửa cầu, sửa đường, xây nhà, đào giếng, dựng nhà vệ sinh, chăm sóc y tế, dạy học, vân vân, tại nhiều vùng của đồng bào tị nạn chiến tranh hay những nơi xa xôi ở miền Trung, miền Tây. 

Ban ngày làm việc, đêm đến họ lại quây quần bên ánh lửa ca hát để đem niềm vui và tạo sự lạc quan cho những người tham dự thuộc đủ mọi thành phần thanh niên thành thị cũng như các vùng quê. Họ có mặt ở công trường bùn lầy quận 8 Sài Gòn, công trường nắng cháy Quảng Trị, trại tù binh Phú Lợi Bình Dương, trung tâm chiêu hồi Thị Nghè cho đến trại công tác hè của Chương Trình Công Tác Hè 1965 tại Thạnh Lộc Thôn, Gia Định, chương trình CPS (chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Đường)… Sau vài buổi sinh hoạt ở trại Thạnh Lộc Thôn, Ban Trầm Ca được sự chú ý của các thành viên trong Ban tổ chức trại vì đã đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn nghệ ngoài trời cho giới trẻ trong lúc tham gia công tác.


Những thành viên trong Ban tổ chức trại sau đó đã gặp gỡ và tìm cách giúp đỡ cho Trầm Ca để sau này trở thành Phong Trào Du Ca. Điều đầu tiên là những huynh trưởng này giúp cho Trầm Ca có một nơi trú ngụ khá ổn định. Sau đó được giới thiệu với Bộ Thanh Niên để mở được 8 khóa huấn luyện về “Thanh Ca Tác Động” khắp 4 vùng chiến thuật tại Huế, Đà lạt, Sài Gòn và Vĩnh Long. Thành quả của các khóa “Thanh Ca Tác Động” là có được những hạt giống cho Phong Trào sau này. Những vị huynh trưởng đóng góp nhiều công sức nhiều nhất cho thành quả này là các anh Hoàng Ngọc Tuệ, Đỗ Ngọc Yến, Trần Văn Ngô, Đỗ Quý Toàn…

Hình ảnh vài sinh hoạt của Du Ca trước 1975.

Khi mà khắp các địa phương thành lập các Toán Du Ca là lúc phải vận động để biến việc ca hát với mục đích tiên khởi của Trầm Ca thành một Phong Trào chính thức trên toàn lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Bộ Văn Hóa Giáo Dục đã cấp giấy phép hoạt động cho Phong Trào Du Ca Việt Nam. Chủ tịch đầu tiên của Phong Trào là anh Đinh Gia Lập, sau đó là anh Hoàng Ngọc Tuệ. Trưởng xưởng Du Ca đầu tiên là Nguyễn Đức Quang, trưởng xưởng kế tiếp là nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu. Những nơi thành lập đoàn Du Ca đầu tiên phải kể đến là Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Sài Gòn, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang… với số đoàn sinh lên đến cả ngàn. Trụ sở đặt tại số 114 Sương Nguyệt Ánh, Quận I, Sài Gòn. Số nhạc sĩ Du Ca ngày càng đông với Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Quyết Thắng,Trần Đình Quân, Anh Việt Thu, Trương Xuân Mẫn, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phạm Minh Hùng, Trần Trọng Nam, Trầm Tử Thiêng, Giang Châu, Nguyễn Thiện Cơ, Bùi Công Thuấn, Lưu Quang Diệp, Hồ Văn Thành, Phan Ni Tấn…


Đêm ra mắt Phong Trào Du Ca được tổ chức tại đại giảng đường Spellman của Viện Đại Học Đàlạt với sự hiện diện của Linh mục viện trưởng, các giáo sư, sinh viên cùng rất đông văn nghệ sĩ và giới báo chí từ thủ đô đến tham dự.
Sau tháng tư 1975, Phong Trào Du Ca bị chính quyền cộng sản ghép vào “những đoàn thể phản động” và tìm đủ mọi cách để triệt tiêu đồng thời với Phong Trào Hướng Đạo. Nhưng suốt gần nửa thế kỷ, những gì hợp với lòng người, hợp với đạo lý thì không bao giờ tiêu diệt được. Những năm đầu thế kỷ 21, Du Ca lại xuất hiện trong một số sinh hoạt của các bạn trẻ ngay tại thủ đô xưa của Việt Nam là Sài Gòn và một số tỉnh thành lân cận. Dĩ nhiên là “sinh hoạt chui” chứ không được “bán công khai” như Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam. Nói thêm: Trong các cuộc biểu tình chống Formosa và chống giao đất cho Tàu tại Vân Đồn Quảng Ninh, người ta nghe đám đông cùng hát bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang. Người thiếu nữ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyên Phạm Đoan Trang khi vào lánh nạn tại Sài Gòn đã đến sinh hoạt với anh chị em Du Ca cho đến ngày bị bắt đi tù. Sau đó nhà cầm quyền cộng sản tiếp tục tìm cách trấn áp và đe dọa một số thành viên của Phong Trào Du Ca cho đến nay.


Tại hải ngoại, những bài hát Du Ca đã được các bạn trẻ hát từ các đảo tỵ nạn ở Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông… sau tháng tư 1975 và Phong Trào Du Ca đã tái phục hoạt tại hải ngoại từ thập niên cuối cùng của thế kỷ 20. Hiện tại Du Ca chính thức có mặt tại Pháp, Hòa Lan, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi… Riêng tại Hoa Kỳ có “Đoàn Du Ca Bắc California” và “Đoàn Du Ca Nam California” đang sinh hoạt thường xuyên và tham gia các sinh hoạt văn nghệ đấu tranh cùng với các cộng đồng Người Việt Quốc Gia. Tại thành phố Houston của Texas có toán Du Ca Lam Sơn thuộc Tráng Đoàn Nguyễn Trãi Hướng Đạo Việt Nam. Chủ tịch Phong Trào Du Ca hiện nay là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ.

Phong Châu

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

Bàn Tay Và Trái Tim Hướng Đạo

 
( Hướng Đạo Việt Nam trước 1975 -Ảnh từ Intarnet)

Kể sao hết những tháng ngày chìm, nổi
Đong sao vừa những hạt nhớ, sợi thương
Tuổi hồn nhiên của tập vở học đường:
Thời mới lớn, thuở phiêu bồng đây đó.

Bàn tay trái đưa tâm hồn mở ngỏ
Qua mộng mơ, phiêu lãng của hoa niên
Hòa con tim vào cuộc sống thiên nhiên
Và trang trải thân tình trên mọi hướng.

Quên sao được những tiếng cười ngất ngưỡng
Lúc họp đoàn, lửa trại, kết tâm giao!
Nối vòng tay: tình bằng hữu thân trao
Cùng thăng tiến giữa trầm luân thời cuộc.

Như cánh nhạn tung mây mùa gió ngược
Thuyền ra khơi vượt sóng gió trong đời
Đỉnh Tùng Nguyên vẫn cây lá vươn trời
Cho tuổi trẻ ân cần đưa chân bước.

Trong hệ lụy của thăng trầm vận nước
Bụi, rác phù hoa. Dâu bể thất thường
Cũng không thể nào lay chuyển được
Lòng kiên trung sắp sẵn ý hoa cương.

Xin cảm ơn những nút dây thân ái
Giữ lòng son qua ly loạn, giao mùa
Nối nhịp cầu mặc sóng vỗ, gió đưa
Vững tâm chí, vượt từng cơn giông bão.

Xin cảm ơn những tâm hồn Hướng Đạo
Thắp lửa tim, rọi ánh sáng vào đời
Giữ cho ta không lạc đường, chao đảo
Vững tiến hoài theo nhịp bước không ngơi!

Huy Văn

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2023

Hướng đạo Việt Nam “Sắp Sẵn” Và Giúp Ích Cho Đời! (Phần 2)

Quân Đội và Hướng Đạo Sinh vận chuyển người thương vong do chiến tranh.Saigon 1968.

Những Hướng Đạo Sinh theo sau một xe hòm đưa đám tang những người bạn đồng môn.

Hướng đạo sinh trật tự và giúp đỡ đồng bào ruột thịt trong cuộc di tản lịch sử từ Đà nẵng vào những ngày cuối cùng trước 30 tháng 4 năm 1975.

Hướng đạo sinh giữ trật tự trong các ngày lễ lớn.

Xin được mạn phép sử dụng một số hình ảnh đã góp nhặt được trong facebook của bạn hữu và một số của Corbis để chia sẻ và tưởng nhớ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà phong trào Hướng đạo Việt Nam phải ngưng sinh hoạt một thời gian dài, người ở người đi nhưng chúng ta cùng “chung một đường lên…” Hãy cố gắng lên bạn ơi, nâng cao lá cờ hướng đạo cùng vui chơi, thám hiểm, du ngoạn, ca hát, yêu thiên nhiên, luôn luôn “sắp sẵn” và giúp ích cho đời!
(Trích từ Facebooker Gấu Tận Tụy)

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

Cũng May - Huy Văn

( Ảnh: Từ Internet)

Cũng may tôi còn được tương lai
Dù đường trần vốn lắm chông gai
Sá gì chút hố hầm nghiệt ngã
Khi trong lòng đuốc sáng không phai 

Lửa từ tim nồng nàn soi lối
Để bàn tay tìm đến bàn tay
Bàn tay trái trong đời chìm nổi
Vẫn hăng say nối kết tháng ngày 

Sá gì những miệt mài lữ thứ
Khi lòng thanh Sắp Sẵn hướng đi
Trên đất mới sáng trời quê cũ
Mặc đường xa ngàn dặm cách ly 

Cũng may còn có tình thân ái 
Như vàng, như ngọc chẳng đổi thay
Như Bách Hợp vẫn còn tươi mãi
Để cánh hồn tôi Thẳng Tiến bay.

Huy Văn

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Mộng Đời - Huy Văn(HVC)

  

(Qúy tặng những tâm hồn Hướng Ðạo)

Xin cho tôi được nắm bàn tay
Ðể nối tình thân, nối tháng ngày
Nối thêm mơ ước trên đất mới
Vui nhịp đời trôi, quên đổi thay

Xin cùng thăng tiến, vượt khổ đau
Nút dây thân ái giữ lòng trao
Gom hạnh phúc vào trong cuộc sống
Thắm tình luân lạc, nghĩa đồng bào.

Xin được mời nhau hướng về nguồn
Dù đang tranh sống chốn tha phương
Trên cánh thiên di, hồn sông núi
Vẫn theo chim Lạc lướt trời sương

Xin giữ trong tim ngọn lửa hồng
Soi đường thiên l‎ý, sáng đời trong
Sưởi ấm tâm tình nơi xứ lạ
Xóa tan tăm tối, đón hừng đông

Xin được cuối đời nghe tiếng hát
Của trẻ thơ vui giữa phố người
Hạnh phúc dâng tràn theo tiếng nhạc
Như đóa hoa lòng đón Xuân tươi.

Xin gửi tặng nhau những nụ cười
Làm hành trang vững bước không ngơi
Ðẹp như Bách Hợp mùa hội nhập
Chan chứa tin yêu, thắm mộng đời.

Huy Văn

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

Diễn Đàn Tối Thứ Ba Radio- Tường Niệm Nhạc Sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang


Chương trình ngày 28 tháng 03, 2023 -gồm các tiết muc: 
1. Tiểu sử nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG 
2. Nhạc Nguyễn Đức Quang 
- Anh Em Tôi - Du Ca Viêt Nam Saigon 
- Người Yêu Tôi Bệnh - Nguyễn Thiện Cơ - Trần Huân 
- Tiếng Hát Tự Do - Du Ca Nam Cali 
- Bên Kia Sông - Elvis Phương 
- Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ 
3. Bài viết: KHI BÀI HÁT TRỞ VỀ 
Tác giả: Trần Trung Đạo Giọng đọc: Mặc Huy 
4. Tâm tình của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang 
Bài hát Nào Ai do chính Nguyễn Đức Quang trình bày.

Tháng Ba Nhớ Quang Du Ca - Phong Châu

 

Mùa xuân 2023. Ngoài chuyện nhớ lại mùa xuân cách nay 48 năm với “Tháng Ba Gãy Súng” (1) và “Tháng Tư Mất Nước” (2) tôi còn nhớ đến nhiều chuyện khác nữa, nhớ nơi tôi sinh ra, nhớ nơi tôi lớn lên và học hành, nhớ nơi tôi từng công tác, nhớ Sài Gòn, nhớ Đà Lạt, nhớ Nha Trang, nhớ Cần Thơ, nhớ An Giang, nhớ đèo Hải Vân, nhớ sông Vàm Cỏ…và nhớ nhớ nhiều lắm. Nằm trong bộ nhớ của tôi còn có rất nhiều người bạn – bạn thân – bạn rất thân nữa. Một người bạn rất thân là Nguyễn Đức Quang, cùng xứ, cùng trường, cùng chơi Hướng Đạo, cùng hát Du Ca…và cùng có máu giang hồ của một thời đi cùng khắp trên quê hương Miền Nam Việt Nam…

Nguyễn Đức Quang, thường được gọi là Quang Du Ca để phân biệt với Quang Già Cơ cùng khóa I Chính Trị Kinh Doanh Dalat. Quang Du Ca sinh năm 1944 và mất năm 2011 vào cuối tháng ba, ngày 27. Nay là lần giỗ thứ 12 của Quang Du Ca. Tôi nhớ đến Quang vì chúng tôi có nhiều gắn bó từ những ngày mới lớn ở thành phố Dalat cho mãi về sau này. Khi Quang Du Ca ra đi, một nhóm thân hữu có thực hiện một tuyển tập mang tựa đề: “Tưởng Niệm Người Du Ca Muôn Thuở” gồm những bài viết về Quang Du Ca của hơn 20 tác giả trong đó tôi có đóng góp bốn bài văn và hai bài thơ kể lại những kỷ niệm của hai chúng tôi trong suốt thời gian ở Dalat cho lúc sinh hoạt tại thủ đô Sài Gòn, từ lúc chơi Hướng Đạo cho đến lúc thành lập Phong Trào Du Ca.

Hôm nay tôi xem lại tuyển tập “Tưởng Niệm Người Du Ca Muôn Thuở” để đọc lại các bài viết của các tác giả về Quang Du Ca như là – giây phút để nhớ đến một người bạn, một người em kết nghĩa.  


Trang 21 anh Hoàng Ngọc Tuệ, hiện là chủ tịch Phong Trào Du Ca Việt Nam viết:

“…Cho đến tận bây giờ (2011), 45 năm sau, tài năng ấy cũng đã làm triển nở nhiều tài năng sáng chói khác để đóng góp cho tương lai đầy hứa hẹn của một Phong Trào Du Ca thời đại mới”.

Trang 30 Hoàng Thái Lĩnh có đoạn:

“…Là con chim đầu đàn của Phong Trào Du Ca, Nguyễn Đức Quang đã để lại cho chúng ta một di sản âm nhạc phong phú thuộc nhiều thể loại, từ tình ca cho đến các bài hát sinh hoạt cộng đồng, nhưng đáng chú ý nhất là những bài hát “nhận thức” – chất chứa tình tự dân tộc, lòng yêu quê hương, những suy tư của người dân một nước nhược tiểu muốn vươn lên để làm thay đổi số phận của dân tộc mình…

Trang 35 nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng ghi: 

“Cho dù các ca khúc của Nguyễn Đức Quang được viết cách đây hơn 30 năm ở trong nước, âm nhạc của anh mỗi khi vang lên bao giờ cũng thổi đến trong lòng người nghe hơi nóng của một trái tim bốc lửa. Tuổi trẻ, đó là hơi thở trong toàn bộ những sáng tác của anh. Và quê hương là hình ảnh đẹp đẽ trong tiếng nói của anh. Các ca khúc Nguyễn Đức Quang có thể nói tràn ngập những lời tình tự dân tộc…”

Trang 121 Trần Trọng Thảo đã viết: 

“Quang thường suy nghĩ và sáng tác rất nhanh. Hình như trời đã phú cho Quang một ngăn âm nhạc có sẵn trong đầu, khi cần chỉ lôi nó ra và sắp xếp lại... Mỗi khi đã ôm đàn lên là thành ca khúc. Lúc đó anh em Trầm Ca mới ngồi lại để nhận xét, mổ xẻ bài hát...Những lúc không vừa ý với những nhận xét, cậu ta chỉ nhe răng ra cười khì. Cũng từ đó, các ca khúc dù cũ hay mới sáng tác của Quang, sau mỗi lần đi trình diễn về, anh em lại thức thâu đêm trong căn phòng nhỏ, kẻ ngồi, người nằm...ồn ào mổ xẻ, phân tích từ lời ca đến tiếng hát: Đó là tiếng nói chung của Trầm Ca...

Trang 141 có đoạn Nguyễn Quang Tuyến viết: 

“Tôi đưa Quang đến thăm trường trung học Trần Hưng Đạo, nơi đây 50 năm xưa chúng tôi cùng ngồi học một mái trường; mọi sự đã đổi thay nhiều. Người ta không muốn và không cho phép giữ một chút gì của quá khứ, làm như rằng người ta hiện hữu và có mặt mà chẳng cần chút gì của quá khứ. Cũng rừng thông cũ, cũng lối đi xưa, cũng gò đồi cao thấp, nhưng “ngõ cũ lâu đài” giờ đây tê tái trong câm nín, yên ắng đến lạnh người. Đâu rồi những Thầy xưa? Cô giáo cũ? Bạn bè ngày nào? Quang ngậm ngùi ‘sóng sau xô sóng trước, bãi bể nương dâu...cậu Tuyến có cố giữ ba chữ THĐ bên bệ hàng rào cũng chỉ là một chút lay lắt khói sương’. Ừ nhỉ, thật cũng là một chút lay lắt khói sương giữa trời hoang nắng bàng bạc hoàng hôn Đà Lạt...”

Nhà thơ Đỗ Quý Toàn viết ở trang 160 có đoạn:

“Thế hệ thanh niên lớn lên ở các thành phố Miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 đều chia xẻ tâm trạng ‘thân nhược tiểu’này. Một dân tộc vừa giành được độc lập đã bị cắt đôi, kẹp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Và đang được hai khối đó đưa cho khí giới giết lẫn nhau, nhân danh những chủ nghĩa, những thiên đường! Trong khung cảnh đó có hai phản ứng khác nhau. Nhiều người chỉ thở than, tuyệt vọng hoặc tìm lãng quên. Nguyễn Đức Quang có một tâm hồn tích cực, vẫn tìm thấy con đường sống lạc quan, yêu đời. Một phần có thể vì từ thuở nhỏ Quang đã thuộc điều luật thứ 8 ‘Hướng Đạo Sinh gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi’. Nhưng không phải chỉ có thế. Toàn thể con người Nguyễn Đức Quang ngập đầy sức sống, không còn chỗ nào cho những tình cảm tiêu cực chen vào...”

Ở trang 195 nhà thơ Trần Văn Lương có 8 câu: 

“Được tin anh giũ sạch trần sa 
Biết trước, nhưng sao mắt vẫn nhòa 
Ngạo Nghễ Quê Hương còn đứng đó 
Âm thần cát bụi đã bay xa 
Lòng son một mảnh luôn sừng sững 
Nhạc cũ muôn đời mãi thiết tha 
Lặng lẽ anh qua miền vĩnh cửu
Đất người mòn mỏi khúc 
Du Ca

Nhà văn Hoàng Khởi Phong viết đoạn cuối bài của anh ở trang 142 rằng:

“Bạn tôi Nguyễn Đức Quang hôm nay nằm xuống, ngủ một giấc thiên thu. Anh không còn hiện diện với chúng ta, không còn cười đùa, trửng giỡn với chúng ta. Nhưng tâm hồn anh, tiếng hát của anh, lời ca của anh, tác phẩm của anh còn sống mãi với chúng ta, với cuộc đời. Đúng vậy, hơn lúc nào hết khi mà cuộc đời còn quá nhiều khiếm khuyết, quá nhiều bất công, quá nhiều cay đắng thì tiếng hát của anh vẫn vang lên từ hải đảo, nơi thời niên thiếu anh theo thân phụ ra làm việc ở nơi đây. Tiếng hát của thời niên thiếu đó vang lên to hơn nơi núi đồi Đà Lạt, to hơn nữa trong các quân trường. Dường như tiếng hát đó đang vang lên trong căn phòng này...”.

Nguyễn Đức Quang Già Cơ ở trang 391 nói về “Tình Quê Hương” của Nguyễn Đức Quang Du Ca như sau: 

“Quang đã thể hiện mối tình bằng lời nói, việc làm ngay từ lúc anh còn là một thiếu sinh cho đến ngày nay và có lẽ cho đến lúc hắn nhắm mắt. Quang thể hiện mối tình này với con tim nồng cháy và bất vụ lợi. Điều này rõ ràng, chắc không ai phủ nhận, bài bác được. Ngày nay mọi người ai cũng nói như tôi Nguyễn Đức Quang là người đã có công với đất nước vì đã sáng lập ra Phong Trào Du Ca. Anh ta là một người yêu nước...”

Bùi Ngọc Nga ở trang 272 viết: 

“Nhóm chủ lực của trại Suối Thông gồm anh Nguyễn Đức Quang, Hoàng Thái Lĩnh, Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo, Nghiên Hữu Ý…đều là những Hướng Đạo Sinh tại Đà Lạt rất có kinh nghiệm đi trại công tác. Tôi và chị Khánh Tuyết là hai người nữ trong trại suốt thời gian lo việc ẩm thực cho toàn trại. Ban ngày các anh phụ trách công việc dựng nhà. Công việc rất nặng nhọc như vác tre, vác gỗ, trộn hồ, chuyển hồ, dựng vách, lợp mái…Tối về, sau bữa cơm chúng tôi quây quần bên nhau ca hát, trời lạnh và mưa, ngổi trong nhà sàn “cao cẳng” có khi đến một hai giờ sáng. Anh Quang đàn hát liên miên, chúng tôi hát những bài ca của trẻ em, của Hướng Đạo và những bài ca lịch sử…Kết thúc những ngày trại, anh em chúng tôi, mỗi người có một tên mới: K’ Quang, K’ Lĩnh, K’ Châu, K’ Tuyết, K’ Ý, K’ Nga…theo cách đặt tên của một giòng tộc người miền núi cao nguyên.

Về phần tôi, nhắc những mẫu chuyện của một thời tuổi trẻ với đầy ắp những kỷ niệm khó quên với Quang.

Từ trang 57 cho đến trang 81 của tuyển tập nói trên là bài viết của tôi mang tựa đề “Tuổi Trẻ Chúng Tôi” trong đó ghi nhiều mẫu chuyện như: 

Gặp Nguyễn Đức Quang Lần Đầu, Chèo Thuyền Qua Đảo Hoang, Năm Anh Em, Quái Kiệt Ăn Uống, Trứng Gà Scala, Dấn Bước Giang Hồ,Từ Chuồng Cu Đến Garage, Đường Sương Nguyệt Ánh, Gia Đình Trầm Ca…Tôi còn có ba bài “ Mười Ba Trại Sinh” ở trang 82; bài “Vịt Mồng Năm” trang 90 và bài “Chuyện Của Quang Không Nói Hết” ở trang 99, hai bài thơ: Bài Thơ Cho Quang (trang 252) và Tình Tôi Con Dốc Nhỏ (trang 254). Sau tôi có viết thêm bài thơ “Tình Tôi Căn Gác Nhỏ”. Hai bài thơ TTCDN và TTCGN đã được nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan phổ thành nhạc năm 2021 (3). Ngoài ra còn một số bài khác viết về Quang Du Ca nhân vào những ngày giỗ.

Trang 58 đoạn “Gặp Nguyễn Đức Quang Lần Đầu” tôi viết:

“…anh chàng này cỡ tuổi chúng tôi, nhìn mặt hơi ngố ngố, gầy gò, nước da trắng, có cái miệng vêu vêu ra phía trước…muốn xin gia nhập Hướng Đạo…”.
  
Trang 61 đoạn “Chèo Thuyền Qua Đảo Hoang” tôi viết: 

“…Chúng tôi quyết định thả hai con ngựa cho chúng tìm đường chạy về Mang Linh và bắt đầu một trò chơi khác: chèo thuyền. Thấy một chiếc thuyền bềnh bồng ở mạn hồ, quan sát không thấy ai gần đó, chúng tôi bước xuống chiếc thuyền dài chừng hơn hai mét, rộng hơn một mét với một chiếc dầm chèo bên trong lòng thuyền. Bẻ thêm một nhánh cây làm dầm chèo, chúng tôi nhắm hướng bên kia hồ để chèo tới…
 

Trang 65 đoạn “Năm Anh Em” ghi rằng:

“…Chúng tôi, mỗi người tự viết tên, ngày tháng năm tháng sinh của mình vào một mảnh giấy rồi gấp lại. Sau đó mấy cô bạn tuần tự mở các mẫu giấy và đọc ngày tháng năm sinh của từng người để biết thứ tự ai huynh ai đệ. Kết quả thứ tự anh em như sau: Nguyễn Ngọc Phước (Akela Ngàn Thông), Hà Thái Trường (Akela Lê Lai), Đoàn Chiêm (Baloo Lê Lai), Hoàng Kim Châu (thiếu trưởng Lê Lợi), Nguyễn Đức Quang (Bagheera Ngàn Thông). Tôi và Quang có nhiều thời gian sinh hoạt chung lâu hơn ba Trưởng đàn anh. Anh Nguyễn Ngọc Phước đi Thủ Đức và tử trận năm 1966, anh Hà Thái Trường đi Thủ Đức và tử trận năm 1973…”. Mới đây anh Đoàn Chiêm cũng đã vĩnh viễn ra đi vào tháng 10 năm 2021 vì chích vaccine ngừa covid 19 nhản hiệu Trung quốc. Như vậy là năm anh em Hướng Đạo kết nghĩa, nay chỉ còn lại một mình tôi! Cũng cần ghi thêm ra đây là Ban Trầm Ca cũng là sáng lập viên Phong Trào Du Ca gồm năm người: Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Quốc Văn, Trần Trọng Thảo, Mai Thái Lĩnh (tức Hoàng Thái Lĩnh), Hoàng Kim Châu (khi về Sài Gòn có thêm Đỗ Phương Oanh) thì nay chỉ có ba người. Nguyễn Quốc Văn tử trận 1968, Quang ra đi 2011 vì bạo bệnh và mới đây Trần Trọng Thảo mất vào đầu tháng 12 – 2022. Còn tôi, Mai Thái Lĩnh ở Úc và Đỗ Phương Oanh ở Pháp.

Trang 67 đoạn “Quái Kiệt Ăn Uống” có ghi: 

“…vì quá đói nên chúng tôi nấu một nồi cơm thật lớn và làm thức ăn xong trong vòng 45 phút. Thế là bốn anh em, sau khi làm thủ tục “đứng trước cơm canh” rồi mời nhau cùng ăn. Hà Thái Trường ăn xong sớm nhất khoảng năm sáu chén, khi ăn Trường vừa đếm xen ba đứa chúng tôi, mỗi đứa ăn được bao nhiêu. Ba đứa ăn rất nhanh và khi cơm trong nồi không còn nữa thì Trường cho biết mỗi đứa trong ba chúng tôi xơi được 16 chén…” (Ba đứa là Quang, Châu và Chiêm). Mùa hè 1961 thiếu trưởng thiếu đoàn Lê Lợi là Trưởng Lê Thuần đậu khóa Bằng Rừng nên đãi hai Trưởng Nguyễn Văn Võ và Nguyễn Minh Hoàng cùng ba đứa chúng tôi (Quang, Châu và Chiêm) tại tiệm mì Quảng Tân Bình ở hẻm Phan Đình Phùng bên hông rạp ciné Langbian cũ. Mỗi người ăn một tô. Ăn xong Trưởng Thuần bảo “mấy chú ăn nữa đi”. Ba đứa nhìn nhau cười, ba tô nữa! Ăn hết tô thứ hai Trưởng Võ bảo “mây chú ăn thêm đi” và tô thứ ba đưa ra. Chúng tôi “lặng lẽ làm láng”. Trưởng Hoàng vừa cười vừa bảo “mấy chú ăn nữa đi” (Trưởng Hoàng là người biết chúng tôi thuộc loại hảo hớn về ăn uống). Tô thư tư! Và cứ thế, các Trường có ý thách thì chúng tôi cũng cứ bình tĩnh xơi cho đến hết tô thứ bảy mới ngưng… Trưởng linh mục Nguyễn Tiến Lộc đưa chúng tôi đi thăm trại gà Scala của Dòng Chúa Cứu Thế và khi trở về Nhà Dòng, Trưởng Tiến Lộc xách theo một giỏ trứng gà để luộc và mời chúng tôi ăn. Hình như Trưởng Tiến Lộc có nghe đâu đó rằng chúng tôi là những “hạm ăn” nên đã luộc hết cả giỏ trứng khoảng chừng sáu chục cái. Ăn khoảng bốn năm trứng thì Hoàng Thái Lĩnh, Trần Trọng Thảo, Nguyễn Thạc (con giáo sư Nguyễn Đăng Thục) ngồi nhìn tôi và Nguyễn Đức Quang tiếp tục ăn cho đến hết giỏ trứng gà luộc chấm muối tiêu…”(Trưởng linh mục Nguyễn Tiến Lộc vĩnh viễn ra đi ngày 4 tháng 12 – 2022, trước Trần Trọng Thảo một ngày).

Nhân ngày giỗ 100 ngày của Quang tôi viết bài “Chuyện Của Quang Không Nói Hết” có đoạn ở trang 107 như sau:

“Sáng 11 tháng ba, tôi thấy hình ảnh cơn sóng thần mạnh khủng khiếp đánh vào miền Bắc nước Nhật. Liền sau đó nhận được tin Quang được các con đưa vào bệnh viện, nằm phòng ICU. Tin loan nhanh khắp thế giới. Tin loan trên báo chí, truyền thanh, truyền hình. Người quen thăm hỏi chờ đợi. Kẻ ở gần đến thăm. Người ở xa nghe ngóng. Lúc tỉnh lúc mê rồi vĩnh viễn ra đi ngày 27 tháng ba. Bàng hoàng và thương tiếc. Đám tang mấy ngày sau đó trời không có nắng cũng chẳng có mưa. Người tiễn đưa đông như đến để nghe Quang hát. Bài ca buồn không lời. Không ai khóc. Đầu bạc nhấp nhô. Mắt thoáng ngậm ngùi...”

Những đoạn trích trên chỉ là một phần rất nhỏ trong số rất nhiều kỷ niệm của tôi và Nguyễn Đức Quang trong những ngày cùng sinh hoạt Hướng Đạo cũng như những năm tháng tham gia các công tác xã hội và thành lập Phong Trào Du Ca vào giữa thập niên 60 của thế kỷ 20.

Thay vì viết một bài nói về Nguyễn Đức Quang, tôi mạn phép trích một số đoạn của một số tác giả trong tuyển tập. Chắc quý vị không buồn vì tôi không xin phép trước.

Phong Châu 
Tháng 3 – 2023

Tựa đề một cuốn sách của Cao Xuân Huy
Một bài viết của Phong Châu về ngày 30 tháng tư

Nghe hai bài thơ phổ nhạc ở: 
https://youtu.be/svoEwxaCGKw
https://youtu.be /OB5MUroA1xQ

  Thơ Phong Châu nhạc Nguyễn Quyết Thắng - Ca Sĩ Minh Đặng Hòa Âm Nguyễn Khâm
 Viết tặng nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang Du Ca

  Nguyễn Đức Quang thăm gia đình PC lúc mới qua Mỹ 1992

Nguyễn Đức Quang thăm gia đình PC lúc mới qua Mỹ 1992


Thăm bạn bè xưa


Cùng gia đinh PC dự trại hè sinh viên Texas năm 1994  


Châu ghé thăm cơ sở “Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo” của Nguyễn Đức Quang.
Hội ngộ nhóm lãnh đạo “Chương Trình Hè 1965” và “Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Đường” (CPS). Từ trái: Đỗ Ngọc Yến (đã mất), Hoàng Ngọc Tuệ, Nguyễn Đức Quang (đã mất), Trần Đại Lộc (đã mất), Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát (đã mất), vợ chồng Châu.


Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2022

Ước Mơ Xưa



Trên đỉnh đồi cao có một lá cờ
Phấp phới tung bay trong chiều lộng gió
Một em nhỏ hân hoan bước tới gần cho rõ
Bông Fleur-de-lis cánh đỏ nền xanh

Logo,Huy hiệu Hướng Đạo Việt Nam
Nền xanh lá cây, cánh hoa màu đỏ
Có một vòng dây bao quanh tất cả
Với hai chữ "sắp sẵn" ở đài hoa

Từ thời thơ ấu tôi đã có một ước mơ
Như ánh sao loé sáng trong tâm hồn non nớt
Bước theo chân Hướng Đạo: Tráng, Thanh, Thiếu, Ấu
Trên đường thực hiện 3 bổn phận thiêng liêng:
Đối với Trời, mọi người, và chính mình
Bằng nhiệt huyết của đoàn viên qua điều lệ:
Danh dự,Trung thành,Giúp ích,Thân thiện,
Lễ độ, Ân cần, Kỷ luật, Vui tươi
Cần kiệm, Can đảm, Trong sạch, và Tôn kính...

Người ta có mấy khi đạt mọi ước mơ
Trên vai áo không được mang hình hoa Bách-hợp
Nhưng tôi vẫn có một vì sao hướng đạo
Như vị huynh trưởng đồng hành soi sáng lối tôi đi
- Đúng, Hướng Đạo là con đường Chân, Thiện, Mỹ tôi đi
Không lệch hướng suốt những thăng trầm quá khứ
Biết thân thiện, tín thành, kỷ luật và danh dự
Biết hào hiệp, yêu thương mọi sinh vật và thiên nhiên...

Hình ảnh đẹp huy hoàng hiện trên đỉnh đồi thuở nhỏ
Lá cờ thiêng liêng mang biểu tượng Hướng-Đạo tung bay
Dù không rõ: giấc mơ, hay nửa mơ nửa thật
Vẫn in đậm hồn tôi mãi mãi chẳng mờ phai.

ChinhNguyên/H.N.T.
Nov.3.2018