Hiển thị các bài đăng có nhãn Kim Oanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kim Oanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Mưa Nắng Hai Mùa…

 

Ta giấu mùa đông trong mắt nâu
Để tâm cảm nhận phút ban đầu
Để tan hơi lạnh lùa sau gáy
Để giấc nồng nàn suốt đêm thâu

Ta đón mùa đông thật an nhiên
Có ai nhung nhớ trọ trước thềm
Có ai thỏ thẻ lời tâm sự
Có một sáng về thật bình yên

Mùa đông ơi hỡi mùa đông
Hè ai gửi nắng sưởi ấm lòng
Hòa chung nhịp sống theo tùng lúc
Mưa nắng hai mùa bước song song.

Kim Oanh
Mùa Đông 2026

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Thi Tập Miền Đông Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

Thi Tập Miền Đông
Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

(Đề Thơ tặng Ban Biên Tập Miền Đông Văn Bút, Hoa K)

Mùa Xuân rộ nở thắm ngàn hoa
Thi phú điểm tô nét ngọc ngà
Đượm sắc hương yêu Xuân Ất Tỵ
Miền Đông Văn Bút đến gần xa...


Cánh Phượng chao nghiêng đón Hạ về
Ấm tình Thi Tập kết hồn quê
Bao năm ly xứ ôi vời vợi
Được dịp tuôn trào nỗi thỏa thuê...


Giao mùa thư thả mực mài xong
Nét bút ung dung tỏ nỗi lòng
Nhặt lá chép lời thơ phổ nhạc
Mang hồn Thu dạo khúc mênh mông...

Cái lạnh đầu Đông ở xứ người
Nỗi sầu chất ngất nói sao vơi
Viết bao thi tứ làm sao đủ
Thi Tập Miền Đông tải hộ tôi...

Kim Oanh
Melb. 2026

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Thu Hoài Vọng ( Nguyệt San Kỳ III 2026)

 
(Cung Lan Thực Hiện)

Thu Hoài Vọng

( Đề Thơ tặng chị Cung Lan)

Thu đến chạnh lòng nhớ thuở xưa
Hoài mong tha thiết chợt như vừa...
Vọng về vàng lá hương đưa
Nguyệt San Văn Bút chuyển mùa luyến lưu!

Kim Oanh
Melb.2026


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)

 


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh

Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Phế Trạch của Ngô Dung.

Ngôi nhà sang trọng bỏ hoang
Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha m

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

 Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Quy Tín Ngâm 歸信吟 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)


Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Thơ ông chứa đựng nhiều nước mắt khi nói về tử mẫu và hiền phụ

Nguyên tác Dịch âm

歸信吟 Quy Tín Ngâm


淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân.

Dịch nghĩa

Khúc ngâm gửi thư về

Mực hoà nước mắt viết thành thư*
Gửi đến người thân xa vạn dặm
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại thân này.

Dịch thơ

Khúc Ngâm Gửi Thư Về


Mài mực bằng nước mắt
Ngàn dặm gởi người thương.
Thư gởi hồn cũng gởi,
Còn lại xác vô thường.


Quản Mỹ Lan & Con Cò
--------
Lời bàn thêm của Con Cò

*Người Tàu mài cục mực đen với nước trong cái nghiên. Vai chính trong bài thơ này là người nữ, đã dùng lệ thế nước để mài mực viết thư (lệ của người nam ít lắm, không đủ để mài mực). Yếu tố này không thực mấy cho nên không hợp với thơ Đường; có lẽ vì vậy mà có vài thi sĩ đương thời cho rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo).

Gửi Thư Về Ngâm Khúc.

Mục hòa lệ viết thơ,
Gửi tới người xa mờ.
Hồn cũng theo đi mất,
Còn thân ta thẫn thờ.

Lục Bát.

Lệ hòa mực viết thành thơ,
Gởi người yêu dấu xa mờ dậm muôn.
Hồn theo cánh gió đi luôn,
Thân ta bỗng chốc u buồn ngẩn ngơ.

Mỹ Ngọc.
May 28/2026.
***
Gởi Thơ Cho Người

Viết thư nước mắt mực hòa
Gửi người yêu dấu cách xa vạn đèo
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng nhiên cảm thấy đìu hiu phận mình!

Thanh Vân
***
Khúc Ngâm Gửi Thư Về

Mực hòa nước mắt, viết tờ thư,
Gửi người muôn dặm, chốn xa mờ,
Thư đi, hồn cũng đi theo mất,
Còn lại một mình, dạ ngẩn ngơ.

Bát Sách.
(Ngày 03/06/2026)
***
Khúc Ngâm Thư Về

Lệ tưới mực thành thư
Vạn dặm gởi người thân
Thư gởi hồn cũng gởi
Ngẩn ngơ trống rỗng thân.

Song thất lục bát

Cánh thư viết, lệ rơi hòa mực
Gởi người thân xa ngút dặm ngàn
Thư đi hồn cũng đi hoang
Ngẩn ngơ cảm thấy thân tàn rỗng không!

Lộc Bắc
***
Khúc Ngâm Thư Về

Mực hoà mắt đẵm viết lời thư
Gởi đến người xa chốn mịt mờ
Thư đi hồn phách thẫn thờ
Xác thân trống rỗng ngẩn ngơ một mình

Kim Oanh
***
Mực Hoà Nước Mắt 

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

歸信吟-孟郊 Quy Tín Ngâm – Mạnh Giao

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư                  Nước mắt đẫm mực nhoà,
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân           Gởi người vạn dặm xa.
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ          Thơ đi hồn nối gót,
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân Trơ trọi một thân ta.

Nguyên tác chép từ sách của thi nhân: 诗词 孟郊 归信吟
Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao 孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Thi Phẩm Hối - Minh - Cao Bính 唐诗品汇-明-高柄
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các từ khó:

Quy tín: thư gửi về nhà, thư báo tin quay về.
Ngâm: một thể thơ cổ, thường dùng để ngâm nga, bộc lộ tình cảm, nỗi lòng.
Lệ mặc: nước mắt làm ướt thỏi mực, hòa lẫn với mực.
Sái: vẩy, rảy, nhỏ xuống, thấm đẫm.
Tương ký: đem gửi, chuẩn bị gửi đi.
Vạn lý thân: người thân ở nơi xa cách vạn dặm.
Ngột nhiên: ngơ ngác, thẫn thờ, bất động như khúc gỗ.
Không nhất thân: thân xác trống rỗng, trơ trọi một mình.

Dịch nghĩa:

Quy Tín Ngâm Khúc Ngâm Khi Gởi Thơ Về Nhà

Lệ mặc sái vi thư Hòa nước mắt vào mực viết thành bức thư,
Tương ký vạn lý thân Để gửi cho người thân đang ở xa vạn dặm.
Thư khứ hồn diệc khứ Thư gởi đi rồi thì hồn cũng đi theo luôn,
Ngột nhiên không nhất thân Chỉ còn lại thân trơ trọi, thẫn thờ một mình.

Dịch thơ:

Gởi Thơ Về Nhà

Thể ngũ ngôn:

Mực lệ viết thành thơ,
Gởi người muôn dặm chờ.
Thơ đi hồn cũng mất,
Thờ thẩn thân bơ vơ.

Thể lục bát:

Lệ hòa vào mực viết thơ,
Gởi người muôn dặm mong chờ tin ta.
Thư đi hồn cũng bay xa,
Thẫn thờ trơ trọi thân già cô đơn.


詩囚:孟郊、賈島 。Thi tù: Mạnh Giao, Giả Đảo.
元好问《放言》称 “长沙一湘累,郊岛两诗囚”. 诗作多写世态炎凉, 民间苦难, 反映了唐朝从鼎盛时期走向衰落的士人心态.

Nguyên Hảo Vấn "phóng ngôn" xưng “ Trường Sa nhất Tương lũy, Giao Đảo lưỡng thi tù ”. Thi tác đa tả thế thái viêm lương, dân gian khổ nan, phản ánh liễu đường triêu tòng đỉnh thịnh thì kì tẩu hướng suy lạc đích sĩ nhân tâm thái.

Trong bài thơ Phóng Ngôn (Nói thẳng), Nguyên Hạo Vấn đã nhận định: "Trường Sa chỉ có một Tương lũy; còn Giao và Đảo là hai kẻ tù thi ca." Thơ ca acủa hai ông thường khắc họa những thăng trầm của thế sự cùng nỗi thống khổ của tầng lớp dân thường, qua đó phản ánh tâm thế của giới sĩ phu thời Đường trong giai đoạn chuyển giao từ đỉnh cao thịnh trị sang thời kỳ suy thoái.

Bình luận:

Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 4 câu 20 chữ nhưng dồn nén cảm xúc nhớ thương quê hương và gia đình, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật biểu cảm nhờ những điểm đặc sắc sau đây:

Câu đầu tiên mở ra một hình ảnh đầy ám ảnh. Tác giả không chỉ khóc, mà nước mắt rơi lã chã hòa cùng dòng mực trên giấy. Bức thư không viết bằng mực thường, nó được viết bằng nỗi đau và sự nhớ thương đọng lại thành giọt lệ. Thực tế không ai lấy nước mắt mài mực viết thơ, mà ta cần xem như một ẩn dụ của sự đau khổ chia ly trong nhiều tháng năm và cả cuộc đời.

Hai câu cuối là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Thông thường, thư đi là đã xong. Nhưng với Mạnh Giao, toàn bộ tâm can, linh hồn, tình yêu thương của ông đã đặt hết vào phong thư đó để gởi về người thân. Khi bức thư rời tay, ông cảm thấy phần "hồn" của mình như đã đi theo thư, vượt vạn dặm đường dài.

Thư khứ hồn diệc khứ đối xứng và tương phản mạnh mẽ với Ngột nhiên không nhất thân. Sự trống rỗng của thân xác (như một khúc gỗ vô hồn) nhấn mạnh cái giá của nỗi nhớ. Người viết thư đã rút cạn kiệt năng lượng sống và tinh thần của mình để gửi vào trang giấy.

Bài thơ không dùng từ ngữ hoa mỹ nhưng có sức nặng ngàn cân. Nó lột tả một cách trần trụi và đau đớn tình cảm gia đình, nỗi cô đơn của những người con ly hương trong xã hội ngày xưa.

Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ ra đời trong thời gian xa gia đình, ông dồn toàn bộ tâm trí và tình cảm để viết một lá thư gửi về. Hàn Dũ từng nhận xét về Mạnh Giao: Trời đất dường như cố tình làm cho ông ấy nghèo khổ, bế tắc để ông ấy dồn hết tinh huyết vào thơ ca.

Tô Thức trong bài "Đọc thơ Mạnh Giao" từng nhận xét về thơ Mạnh Giao như sau: Thơ từ phế phủ ra, ra liền sầu phế phủ. (Thơ từ ruột gan viết ra, viết ra lại làm sầu muộn ruột gan).

A Song of the Home-Bound Letter by Meng Jiao

Tears and ink blend, splashing onto the page to make a letter,
To be sent to my loved ones ten thousand miles away.
As the letter departs, my soul departs with it too,
Leaving behind only a dazed, hollow frame of a man.

Phi Minh Tâm
***
@ Ý kiến của Huỳnh Kim Giám:

...rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo.

Chỉ một bài từ tuyệt 20 chữ thôi mà mỗi người có một ý kiến!

書去魂亦去 thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 ngột nhiên không nhất thân.

Hồn đi theo lá thư rồi thì chỉ còn lại xác không hồn, nghĩa là người viết chết theo thơ. Đây không phải là khái niệm vô thường trong Phật học mà phản ảnh tâm tình của người kể chuyện.

Tô Thức viết thế này về thơ Mạnh Giao trong 《讀孟郊詩》"Độc Mạnh Giao thi"; “詩從肺腑出,出輒 愁肺腑” “ thi tòng phế phủ xuất, xuất triếp sầu phế phủ", có thể hiểu là lời thơ xuất phát từ cõi lòng, nỗi buồn cũng đi theo ngay lúc đó.

肺腑=phế phủ (phổi, bộ đồ lòng) là một khái niệm người Tàu dùng để nói đến tình cảm sâu đậm, chân thật từ đáy lòng. Nếu Tô Đông Pha hiểu thơ họ Mạnh như thế thì làm sao mà nghĩ nhạt nhẽo? Nhưng thôi, người đọc không phải là Tô Thức thì hiểu bài thơ như thế nào?

歸信吟=Quy tín ngâm nghĩa là gì? Tín là thư, quy là trở về và quy tín có nghĩa là thư viết về nhà. Viết cho ai? Từ 親=thân cuối câu nhì cho người đọc hiểu rằng đây không phải là thư tình mà là thư cho thân nhân, gia dình. Nếu người đọc tò mò hỏi AI " 歸信" là gì thì sẽ bị đưa đến một khái niệm tôn giáo có lẽ chưa có thời Đường! Thi nhân đi đâu, làm gì mà phải buồn đến độ mực hòa với nước mắt? Mạnh Giao chưa hề bị đi đày nên người ni chỉ có thể đoán là nhà nho lại thi rớt lần nữa! Nếu bối cảnh của bài thơ là như thế thì có nên nói rằng tâm lý của một nhà nho thất chí nhạt nhẽo ?!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ nhạt nhẽo với ngay hai chữ đầu tiên của câu 1. lệ mặc nghĩa đen là lấy nước mắt mài mực hoặc nước mắt hòa vào mực. Do đó cần nhiều nước mắt mà phải người nữ mới có đủ. Thực tế thì có ai mà làm thế bao giờ! Lấy nước mắt hòa mực phải có đồ hứng. Đây là một bài thơ nặng ký dù chỉ có 20 chữ, nên ta phải có cách hiểu khác cho hợp lý hơn.

Lệ mặc là một ẩn dụ có thể hiểu theo hai cách khác nhau. hoặc là những giọt nước mắt làm ướt thỏi mực, hoặc chính những giọt nước mắt ấy đóng vai trò như mực viết. Động từ vãi diễn tả dòng lệ tuôn trào vô tận. Ở đây thi nhân đã dùng phép cường điệu lấy nước mắt thay thế cho tình cảm của mình. Tình cảm dâng trào khi bắt đầu viết và không sao kìm hãm được trong lúc viết nên như hóa thành nước mắt hoà vào mực trôi vài chữ.

Trong hai câu kết thi nhân, cho biết đã để hết tâm tình vào thơ. Thơ đi rồi chỉ còn lại thân xác không hồn. Để hiểu vì sao tình cảm của thi nhân với gia đình lại nhiều đau khổ như thế. Ta nên biết qua về cuộc đời lận đận của ông. Thi đậu lúc đã già, chức vụ nhỏ việc nhàm chán, nghèo không phụng dưỡng được mẹ già, 3 con chết yểu vì thiếu thốn, chết trên đường đi nhậm chức mới vợ không có tiền làm đám ma, phải nhờ bạn bè (trong đó có Hàn Dũ người quý mến và giúp đỡ ông) cho tiền chôn cất…pmt

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Một Mùa Trăng

 

Mở cửa tìm ánh trăng xuân
Đón lấy hương gió bâng khuâng giao mùa
Khơi lại vương vấn thời xưa
Ấp yêu choàng lấy chợt vừa đâu đây

Cạn chén hương vị nồng say
Luyến lưu chưa kịp môi cay đắng lòng
Buông dòng tư tưởng hư không
Cài then đóng cửa tim hồng vì ai

Xót xa hạnh phúc an bàì
Căn nhà k​ý​ ức chia hai ngăn đời
Ngậm ngùi bắt bóng mù khơi
Trăng tàn canh vắng tình vời vợi xa....

Trăng xuân lặng lẽ rời ta
Tình trầm ngậm ngải trăng già vẫn son


Kim Oanh
Đêm trăng 2026

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Bến Mê Ký Ức


Thời gian dẫu biết chẳng quay về, 
Vẫn muốn thêm lần lạc bến mê. 
Cái thuở dại khờ ngơ ngẩn ấy, 
Một đời vương vấn đất hương quê.

Tuy biết ngày qua đã rất lâu, 
Mà lòng luyến nhớ đến âu sầu. 
Dư âm kỷ niệm hoài tha thiết, 
Da diết tuổi hoa... bạc mái đầu.

Cuộc đời ly khách nhuốm bụi sương
Mà lòng vẫn trẻ thuở đến trường
Bởi tình khờ dại ngày xưa đó
Thắm đậm tâm hồn dáng người thương!

Kim Oanh

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Hai Quê

 

Bài Xướng:

Hai Quê

LONG lanh HỒ nước chợt lòng
VĨNH biệt Quê ấy, LONG đong Xứ người...
Quê xưa ấy... đã xa rồi
Xứ người Quê kế..đón mời an nhiên  

Vô Nhiễm
02.06.2026)\

***
Bài Họa:

Hai Quê


Long Hồ nhắc nhớ đau lòng
Vĩnh Long cách biệt long đong phận người
Ly hương lận đận... qua rồi..
Melbourne hạnh phúc gọi mời... yên nhiên!

Kim Oanh
2.6.2026


Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Mùa Đông Chạm Cửa


Một điều đã chạm đến trái tim. Đôi khi những câu chuyện sâu sắc nhất là những câu chuyện âm thầm giữ kín trong lòng suốt nhiều năm, và cuối cùng tìm được lời để diễn đạt, cảm giác ấy vừa nhẹ nhàng vừa xoa dịu vết thương đau.Đó là cảm xúc chân thật, ký ức thật.

Tôi vẫn đây. Không ai nhận ra, do thời gian không đo lường được, trong khoảng lặng, thời gian đằng đẵng trôi qua. trong lòng thật âm ĩ của những điều chưa bao giờ thực sự rời đi.
Ngôi nhà cũ vẫn im lìm, con đường,vắng lặng, những hàng cây nghiêng phủ như đang lắng nghe. Bên trong, cạnh cửa sổ, có một chiếc ghế đã không hề di chuyển trong nhiều năm. Và đôi khi, trong ánh chiều muộn, dường như vẫn còn ai đó ngồi, dõi theo, hồi tưởng, đợi chờ bước chân ai....

Cô đơn gối chiếc tái tê lòng
Lạnh lẽo mùa về chạm tiết đông
Hoang vắng chiều nghiêng sầu gió bấc
Chạnh lòng sương phụ rót vào song

Tôi vẫn đây, trong những vầng thơ. Đã có thời, ngôn từ tuôn chảy dễ dàng, tuổi trẻ mang theo sự ngây thơ như một kho báu bí mật. Có lần đã nghe những dòng thơ bén hơn dao xé hết ruột gan đã vậy còn chan canh bằng nước mắt. Tuy nhiên vẫn cảm ơn Thượng Đế còn được sống để thưởng thức thú đau thương... Cảm ơn người, cảm ơn cuộc đời, những lời thơ vương nhiều trăn trở, thú đau thương của người làm nhịp thở cứu sinh....
Những ngày tháng tràn ngập hạnh phúc, nhớ không cần lý do, yêu đến nhẹ nhàng, như một lời hứa ngầm. Có lẽ quá ngốc nghếch. Nhưng đó là một sự ngốc nghếch dễ thương, ngây thơ. Một kiểu ngây thơ viết nên những giấc mơ đầu đời.

Cuộc tình ấy bỗng một lần chợt đến
Tắt sao trời mắt rực sáng đê mê
Trong bóng đêm mùi hương áo cũ về
Hong hơi thở ủ đôi bờ vai ấm

Nhớ những ngày xa xưa qua... tự cảm nhận chính mình một sự ấm áp, nồng nàn, hồn nhiên trong sáng, không bị ảnh hưởng bởi sự chia xa. Thay vì oán trách, nghi ngờ, lại tin vào tình yêu vĩnh cửu mà không cần hỏi vì sao...Đó là một thời của những giấc mơ đẹp, sự kỳ diệu, huyền nhiệm của ân Thiên sắp xếp và ban cho.

Tôi vẫn đây, qua từng thời gian ... Hướng về phía trước .... Mùa thay đổi, từng sợi nhớ sợi thương đan xen vào nhau, và cuộc sống dần trở nên tĩnh lặng hơn, xa cách đã từng... nhưng khoảng cách xa nhau không dài thăm thẳm, những mối len nhớ càng gút chặc hơn để kết thành một chiếc khăn choàng quấn quanh hạnh phúc và ấm áp đôi tim.

Mơ ước bên người tiết đông sang
Như Chiếc khăn len nhẹ ôm choàng
Chia nhau hơi hướm trời lạnh giá
Sưởi ấm vượt qua nỗi gian nan

Tôi vẫn đây, nhìn lá rơi. Gió mang theo cái lạnh buốt da. Bầu trời trải rộng và âm u, thế giới dường như rộng hơn, trống rỗng hơn. Đã từng có một người bên cạnh vào chính mùa này.
Không hẹn mà gặp, không nói mà hiểu, không hiểu mà yêu, không thiếu mà nợ...và không hẹn mà hứa để rồi không hứa mà chờ... cùng nhau trên từng cây số ngàn....những câu dang dở, và rồi..lặng lẽ ra đi... 

Mùa thu cất bước, mang thế giới bằng những màu sắc quen thuộc. Lá nhè nhẹ rơi..., như thể chẳng có gì thay đổi. Sương đêm vẫn giăng lạnh lùng. Người ta nói hãy bước tiếp, hãy buông bỏ. Nhưng có những điều không thể biến mất, nỗi buồn vẫn không hề thay đổi. Hình bóng ấy cũng không đổi thay. Vẫn hiện hữu nơi đây, bên cạnh cuộc đời nhau. 

Mọi điều không phải tàn nhẫn. Không phải giận dữ. Chỉ là sự kết thúc lặng lẽ của khoảng cách. Một cuộc sống khác. Một con đường khác, không quay lại. Tuy nhiên người ấy đã để lại điều gì đó. Một ký ức nhỏ bé và sống động, từng lời, từng chữ từng âm thanh vẫn vang vọng đâu đây dường như vô tận.... Xung quanh mờ nhạt, nhưng tất cả những gì người để lại không bao giờ mất dấu phôi phai.

Không còn níu lấy nữa, một cách nghĩ đơn giản là mang nó theo suốt cuộc đời. Và vì thế vẫn ở đây. Không bị ràng buộc giữa quá khứ, mà được hòa quyện nhẹ nhàng vào nếp sống, hít thở chung một bầu trời, tiếp tục bước đi con đường có hương hoa, mùi lá, ôm trọn một tình yêu chưa bao giờ bị lãng quên.

Bên ngoài, lá vẫn rơi.... Góc riêng, nhắm mắt lại chỉ trong giây lát, và trong không gian tĩnh lặng này, không gì mất đi. Chỉ còn lại ký ức đẹp, êm đềm và bền lâu.... Mùa đông chạm cửa, giữ cho nhau chút nồng nàn để sưởi ấm khoảng đời nhau....

Sớm đông tiếng gió thì thào
Rót vào hương đượm lời trao ngọt ngào
Mơ mơ trời chớ sớm mau
Đắp chăn ký ức đẹp màu thời gian

Sớm đông gió đã ghé sang
Giá băng nắng hạ xua tan sương mờ
Nhớ nhớ đời bỗng nên thơ
Gian phòng hạnh phúc đợi chờ gió ơi!

Kim Oanh
Melbourne Đầu Đông 2026

***
Mục Lục: Những Bài Văn Khác: Nhấp vào Links














Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Ngàn Sau....Mãi Mãi...



Một ký ức thật dịu êm
Một tập thơ đọc trước đèn
Một bóng tưởng ai hiển hiện
Một thời khắc rất thân quen

Leng keng ... Tiếng phong linh gỏ
Đêm thâu vỏ võ chìm sâu
Sương trắng bạc thết mái đầu
Thời gian thoang thoát bóng câu

Một nông sâu ... ơi dĩ vãng
Một ảo giác thật mơ màng
Một trái tim đau nhỏ lệ
Một dòng máu đỏ tràn lan

Khuya! Đèn đầu can đã lâu
Trăng tan nhợt nhạt sắc màu
Trang ký ức lần khép lại
Gửi người mãi mãi ngàn sau!

Kim Oanh


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Mùa Đông Về Đây

 

Mùa đông ơi làm ơn qua vội
Đừng mù sương ướt đẫm tóc mây
Nơi phương này run rẩy lạnh giăng
Mơ sưởi ấm nhưng ngăn cách hạ

Mưa rưng rưng sầu vương lệ đá
Đong mạch dòng buốt giá con tim
Khung cửa kín giọt khẽ im lìm
Căm căm rét nghẹn từng nhịp thở

Mùa đông ơi bão bùng nhung nhớ
Lần hạ xa bước vội xuống đò
Là chấp nhận gánh lấy rủi ro
Vò võ giữa muôn màu muôn vẻ

Đông phương này biết ai san sẻ
Hạ phương kia hấp hối hoàng hôn
Ngõ quạnh hiu chiếc bóng vô hồn
Trong dâu bể phong ba mù mịt...

Kim Oanh

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

Gửi Biển Xa...- Biển

  
( Ảnh: Kim Oanh)

Biển xanh, chiếc bóng và đôi chim trên bãi cát … hình ảnh đẹp được Kim Oanh chụp lại. NM nhờ Oanh gởi chút tình LB cho biển qua bài Biển từ bài thơ Gửi Biển Xa... của Oanh. 

Gửi Biển Xa...

Gửi ai chút tình biển xa
Gửi thêm hương vị mặn mà đầy vơi
Gửi ai mây trắng lưng trời
Gửi mùi gió biển muối đời chờ nhau
Gửi sóng từng lớp dâng trào
Gửi theo dòng chảy khát khao ra nguồn
Gửi yêu theo ánh vàng buông
Gửi người vẹn giữ vuông tròn trước sau
Gửi hai ta mối tình đầu
Gửi và giữ mãi đẹp màu biển xanh

Kim Oanh
Anglesea 19.12.2024
***
Biển

(Nhớ đến những chiều trên bờ biển Songkla 
Thailand năm 1980)

Ngày xem sóng vổ trườn bờ
Đêm nghe biển hát mơ hồ ru ai…
Ru ta ngưng mắt lệ cài
Ru người nồng giấc … đừng lay biển lòng?
Biển đời …ôi quá mênh mông!
Biển tình xanh ngát anh đong mơ đầy
Đong cho em chút hương say
Giấc buồn viễn xứ thôi cài lệ sương!…

Yên Dạ Thảo
22.04.2026

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

Tìm Nhau Ngày Mưa



Vắng người trời cũng sầu mưa
Thiếu người gió buốt cũng vừa chạm qua
Van mưa mau tạnh rời xa
Mang chút nắng ấm chiều tà sưởi em

Đường tình ngày ấy mang tên
Hai chiếc bóng kết ướt mềm lòng tôi
Mưa xưa nồng ấm bờ môi
Mưa nay nhoà nhạt phai rồi hương yêu

Quán cũ hò hẹn tịch liêu
Phố phường lất phất bao chiều áo bay
Tìm lại bóng dáng thơ ngây
Hoài mơ nhung nhớ đong đầy cho nhau

Tim hằn tì vết xót đau
Mưa bão vây bủa úa nhàu không gian
Quạnh hiu phòng vắng thênh thang
Bắt bóng mộng vỡ ngỡ ngàng người xa….

Kim Oanh
28/10/2016
 

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Sơ Lược Lịch Sử & Các Vị Tỉnh Trưởng Tỉnh Vĩnh Long Trước Năm 1975

Dinh Tỉnh Trưởng Vĩnh Long Pháp

Danh sách các vị Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long thời kỳ Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 bao gồm các nhân vật sau: 

- Trần Thiện Tỵ (1946 – 1947)
- Trương Công Thiên (1947 – 1951)
- Hồ Bảo Lân (1951 – 1952)
- Bùi Quan Ấn (1952 – 1954)
- Nguyễn Văn Định (1954 – 1955)
- Hồ Bảo Thành (1955 – 1956)
- Dương Văn Ký (1956 – 1957)
- Khưu Văn Ba (1957 – 1960)
- Lê Văn Phước (1960 - 1963)
- Nguyễn Khắc Tuân (1960 – 1964)
- Phan Thành Thới (1964 – 1965)
- Huỳnh Ngọc Diệp (1965 – 1967)
- Dương Hiếu Nghĩa (1967 – 1968)
- Lê Chí Cường (1974 – 1975)
- Lê Trung Thành (1975)

Lưu ý: Giai đoạn tháng 6 năm 1960, Tỉnh trưởng Khưu Văn Ba đã bị tiêu diệt tại khu vực Cái Sơn (nay thuộc xã Long Phú, huyện Tam Bình).
Để biết thêm chi tiết về tiểu sử của từng vị, bạn có thể tham khảo thêm tại tài liệu lịch sử tỉnh Vĩnh Long.

Phân Chia Hành Chính

Tòa Hành Chánh Vĩnh Long 1966/72

- 1 Tỉnh, 6 Quận
Tỉnh Vĩnh Long, Quận Bình Minh, Quận Long Hồ, Quận Mang Thít, Quận Vũng Liêm, Quận Trà Ôn, Quận Tam Bình, Quận Bình Tân

Tỉnh Vĩnh Long
 
Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam. Vĩnh Long cách Sài Gòn 135 km về phía Nam và cách Cần Thơ 40 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1. Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần về phía Bắc, Đông Bắc và Nam Đông Nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kinh rạch.

Năm 1732, Vùng đất Vĩnh Long thời ấy được Nguyễn Phúc Trú thành lập, với tên gọi đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ.
Năm 1779, đổi tên thành Hoằng Trấn dinh. 
Giai đoạn từ năm 1780 đến năm 1805, đổi thành Vĩnh Trấn, 
Từ năm 1806 đến năm 1832, Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh. 
Từ năm 1832 đến năm 1950, tên gọi Vĩnh Long được hình thành với vai trò là một tỉnh. 
Giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1954, Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Trà. 
Từ năm 1954 đến 1975 gọi Tỉnh Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh sông chính của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu. Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách Sài Gòn 135 km về phía Nam theo quốc lộ 1, cách Cần Thơ 33 km về phía Bắc theo quốc lộ 1.
Nhìn bao quát, tỉnh Vĩnh Long như một hình thoi nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Bến Tre và đông nam giáp tỉnh Trà Vinh phía Tây giáp Cần Thơ, phía tây bắc giáp Đồng Tháp, phía đông bắc giáp Tiền Giang.

( Không ảnh những Kinh, Rạch -Vĩnh Long)

Điều Kiện Tự Nhiên

Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, độ cao khá thấp so với mực nước biển, Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, dạng lòng chảo ở giữa trung tâm Tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn. 

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.400 – 1.450 mm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, chiếm 85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ tương đối cao, ổn định, nhiệt độ trung bình là 27oC, độ ẩm trung bình 79,8%, số giờ nắng trung bình lên tới 2.400 giờ.

Vĩnh Long có cấu trúc địa chất tương đồng với khu vực, Vĩnh Long tuy có diện tích đất phèn lớn, tầng sinh phèn ở rất sâu, tuy nhiên đất có chất lượng cao, màu mỡ vào bậc nhất so với các tỉnh trong vùng. Đặc biệt tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu (lượng phù sa trung bình là 374g/m3 nước sông vào mùa lũ), đất tốt, độ phì nhiêu cao, trồng được hai vụ lúa trở lên, cho năng suất cao, thuận lợi về giao thông kể cả đường thuỷ và đường bộ.

Vĩnh Long còn có lượng cát sông và đất sét khá dồi dào. Cát sông khoảng 100 - 150 triệu m3, và đất sét khoảng 200 triệu m3, là nguyên liệu sản xuất gạch và làm gốm.
Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng. Tỉnh chỉ có nguồn cát và đất sét làm vật liệu xây dựng, đây là nguồn thu có ưu thế lớn nhất của tỉnh Vĩnh Long so với các tỉnh trong vùng về giao lưu kinh tế và phát triển thương mại 

Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai con sông lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, nên có nguồn nước ngọt quanh năm, đó là tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng. Vĩnh Long có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, hình thành hệ thống phân phối nước tự nhiên khá hoàn chỉnh, cùng với lượng mưa trung bình năm lớn đã tạo điều kiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.


Lịch sử Tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn (giai đoạn 1832-1867) so với tỉnh Vĩnh Long năm 2011.

Năm 1698, khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, toàn bộ vùng đất mới phương Nam chính thức trở thành một đơn vị hành chính mang tên Gia Định phủ. Năm 1714, đời chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu), lúc này Vĩnh Long là trung tâm của châu Định Viễn, bao gồm một phần của Bến Tre ở mạn trên và Trà Vinh ở mạn dưới thuộc Long Hồ Dinh.
Năm 1732, Dưới thời Nguyễn Phúc Trú đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là Dinh Long Hồ, Châu Định Viễn, đất Vĩnh Long thuộc Dinh Long Hồ. 

Đến năm Đinh Sửu (1757) thì chuyển đến xứ Tầm Bào (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là Thành phố Vĩnh Long). Thành Long Hồ được xây dựng tại xứ Tầm Bào là thủ phủ của một vùng rộng lớn. Nhờ đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm…, Dinh Long Hồ trở thành một trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, Chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn...

Đến giữa thế kỷ 18, Dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội chúa Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, ổn định và bảo vệ đất nước. Sử cũ còn ghi:
“ Vào năm Canh Dần 1770, tại vùng đất này, lưu thủ Dinh Long Hồ đã chặn đánh tan tác quân Xiêm La do Chiêu Khoa Liên cầm quân, tiêu diệt 300 tên địch, làm tan vỡ âm mưu xâm chiếm nước Việt của chúng ”

Nơi đây, trong khoảng 10 năm (1776-1787), cũng từng là chiến trường diễn ra nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn với quân (chúa Nguyễn và Nguyễn Ánh), từ trận đầu tiên là trận tập kích Long Hồ của Nguyễn Lữ. Năm 1784, tại sông Mang Thít (Vĩnh Long) nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh thắng trận Rạch Gầm-Xoài Mút, làm liên quân Xiêm La do Nguyễn Ánh cầu viện đại bại.
 
( Sông Long Hồ)

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh đổi dinh Long Hồ, châu Định Viễn thành dinh Vĩnh Trấn. Năm Mậu Thân (1788), sau khi lấy lại đất Nam Bộ từ tay nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đem 2 đạo Long Xuyên và Kiên Giang của trấn Hà Tiên nhập vào dinh Vĩnh Trấn.

Thời nhà Nguyễn, năm Quý Hợi (1803), Gia Long (Nguyễn Ánh) cắt đất dinh Long Hồ xưa lập thành dinh Hoằng Trấn. Năm Gia Long thứ 7 (1808), Vĩnh Trấn, Hoằng Trấn được đổi làm trấn Vĩnh Thanh thuộc tổng trấn Gia Định, đồng thời thăng châu Định Viễn làm phủ với 3 Quận: Vĩnh Bình, Vĩnh An và Tân An. Năm 1810, lại cắt 2 đạo Kiên Giang và Long Xuyên về trấn Hà Tiên như cũ. Năm 1813, Gia Long lập thêm huyện Vĩnh Định thuộc trấn Vĩnh Thanh. Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là quan Hiệp trấn Vĩnh Thanh, với chức phó là quan Tham Hiệp. Các quan Trấn thủ Vĩnh Thanh gồm: Nguyễn Văn Thoạ,..

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Minh Mạng chia huyện Tân An thành 2 huyện Tân An và Bảo An thuộc phủ mới lập tên là Hoằng An. Năm 1832, Minh Mạng đổi tên trấn Vĩnh Thanh thành Vĩnh Long, lấy thêm 2 huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh của phủ Lạc Hóa thành Gia Định nhập vào Vĩnh Long và đổi trấn thành tỉnh Vĩnh Long (chữ Hán:永隆). Nhưng đồng thời, lại cắt các huyện Vĩnh Định, An Định và đạo Châu Đốc sang tỉnh An Giang. Cùng năm 1832, Minh Mạng cho lập thêm huyện Vĩnh Trị thuộc phủ Định Viễn tỉnh Vĩnh Long. Đặt chức tổng đốc Long-Tường để thống lĩnh 2 tỉnh Vĩnh Long và Định Tường, cùng với các chức Án sát và Bố chính lo các công việc thuộc chức năng của Bộ Hình và Bộ Hộ ở cấp tỉnh, giúp cho Tổng đốc. Quần đảo Côn Lôn (tức Côn Đảo) thuộc tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn.

Năm 1833, tỉnh Vĩnh Long bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng án sát Vĩnh Long là Doãn Uẩn lấy lại được tỉnh thành (thành Long Hồ) từ tay quân của Khôi. Năm 1837, Minh Mạng lập thêm ở Vĩnh Long 1 phủ Hoằng Trị và 2 quận (Bảo Hựu, Duy Minh).

Tỉnh Vĩnh Long, ở Nam Kỳ, giai đoạn (1832-1867).


Năm Tự Đức thứ 4 (1851), nhà Nguyễn bỏ phủ Hoằng An, gộp các huyện của phủ này vào phủ Hoằng Trị. Thời vua Tự Đức cho đến khi Pháp chiếm Vĩnh Long (1851-1862), tỉnh Vĩnh Long gồm 3 phủ là Hoằng An, Định Viễn, Lạc Hóa, Cùng với 8  quận là: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị, Bảo Hựu,Tân Minh, huyện Bảo An, Duy Minh, Tuân Nghĩa,  Trà Vinh, đồng thời Quần Đảo Côn Lôn (Côn Đảo) cũng thuộc sự quản hạt của tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 6 tháng 8 năm 1867, hạt thanh tra Định Viễn đổi thành hạt thanh tra Vĩnh Long. Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt thanh tra Vĩnh Long được đổi thành hạt tham biện Vĩnh Long, có 14 tổng. 
Ngày 12 tháng 5 năm 1879, giải thể tổng Vĩnh Trung, nhập các làng vào tổng Bình Long. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, hạt tham biện Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Long. Ngày 25 tháng 1 năm 1908, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được chia thành 5 quận là Long Châu, Chợ Lách, Cái Nhum, Vũng Liêm, Ba Kè. Ngày 9 tháng 2 năm 1913, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm địa bàn tỉnh Sa Đéc giải thể. Ngày 1 tháng 12 năm 1913, lập thêm 2 quận Cao Lãnh, Sa Đéc. Ngày 1 tháng 4 năm 1916, lập quận Lai Vung. Ngày 29 tháng 6 năm 1916, đổi tên quận Ba Kè thành quận Chợ Mới.

Ngày 9 tháng 2 năm 1917, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được sắp xếp lại, gồm 7 quận gồm có Châu Thành, Chợ Lách, Vũng Liêm, Chợ Mới, Sa Đéc, Cao Lãnh, Lai Vung. Ngày 7 tháng 11 năm 1917, quận Chợ Mới được đổi thành quận Tam Bình. Ngày 29 tháng 2 năm 1924, tách 3 quận Sa Đéc, Lai Vung, Cao Lãnh ra khỏi tỉnh Vĩnh Long để lập lại tỉnh Sa Đéc, tỉnh Vĩnh Long lúc này còn 4 quận. Ngày 11 tháng 8 năm 1942, tỉnh Vĩnh Long còn 3 quận là Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm.

Trước năm 1948, hai quận Cầu Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ, từ năm 1948.
Đến năm 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 1951 đến năm 1954, thuộc tỉnh Vĩnh Trà (Chính quyền Cách Mạng), Từ năm 1954 đến năm 1971, Trà Ôn thuộc huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh. Thời kỳ 1971 đến năm 1975 huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Phân chia hành chánh tỉnh Vĩnh Long 1973

Sang thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Đệ Nhất Cộng hòa chia tỉnh Vĩnh Long13 làm 6 quận, 22 tổng, 81 xã (Nghị định số 308-BNV/NC/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 8 tháng 10 năm 1957): 

Các quận là Châu Thành, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Sa Đéc. Ngày 10 tháng 3 năm 1961, quận Cái Nhum được tái lập và đến ngày 31 tháng 5 năm 1961 thì đổi tên thành quận Minh Đức. Ngày 11 tháng 7 năm 1962, 2 quận là Đức Tôn, Đức Thành được thành lập. 

Ngày 24 tháng 9 năm 1966, 4 quận gồm Lấp Vò, Sa Đéc, Đức Tôn, Đức Thành được thành lập để tái lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 14 tháng 1 năm 1967, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm quận Trà Ôn, Vũng Liêm từ tỉnh Vĩnh Bình.

Đến ngày 2 tháng 8 năm 1969, Theo Nghị định số 856-NĐ/NV của Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa, thì Vĩnh Long có 7 quận, 18 tổng, 65 xã. 

Các quận là Châu Thành - Vĩnh Long, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Minh Đức, Trà Ôn, Vũng Liêm.

Kim Oanh sưu tầm từ Internet.
---0O0---
Theo chi tiếp cung cấp của chị Thanh Vân người thân của gia đình Tỉnh Trưởng Lê Văn Phước(1960-1963)

( Ông bà Lê Văn Phước ở Paris)

Kim Oanh mến,

Chị vào xem bài các vị Tỉnh Trưởng Vĩnh Long trước 1975. Chị thấy ghi tên ông Lê Văn Phước (1960) - Ông Phước giữ chức vụ Tỉnh Trưởng Tỉnh Vĩnh Long từ năm 1960- 1963. Vì từ chối không theo phe của nhóm tướng tá đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên khi Cách mạng thành công, ông bị đưa ra Toà án quân sự và bị cho giải ngũ.
Nhưng cuộc đời có nhiều điều trớ trêu, ông Lê Văn Phước bị giải ngũ, trở về dân sự thì xin làm việc cho hãng dầu Shell.
Dần dần với khả năng tiếng Pháp và Anh trôi chảy cũng như biết điều khiển xí nghiệp, ông được Shell bổ nhiệm vào chức Tổng giám đốc Shell Nhà Bè, rồi Tổng giám đốc Shell Nha Trang.
Thấy tình hình VN không ổn, Shell cho di tản nhân viên cao cấp từ ngày 20 tháng 4 năm 1975. Ông bà Lê Văn Phước và 5 người con xuống tàu đi sang Singapore, từ đó ông bà xin tį nạn CS ở Pháp.
Ông bà Lê Văn Phước định cư ở Paris. Ông Lê Văn Phước qua đời 10 năm rồi. 


Bà Lê Văn Phước nhủ danh Phan Nguyệt Vân thuộc gia đình khá giả ở Vīnh Long. Hình này bà đứng bên tay phải, chụp cùng cha mẹ và các em. 
Bà Phan Nguyệt Vân tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm SG, ban Văn Chương khóa đầu tiên của trường ĐHSP. Bà về dạy ở trường Tống Phước Hiệp, lúc ông Nguyễn Hữu Lễ  làm Hiệu Trưởng Trường Tống Phước Hiệp Vĩnh Long. (ông Nguyễn Hữu Lễ là bạn cùng khóa với bà Phan Nguyệt Vân).
Bà Lê Văn Phước qua đời năm 2020 lúc dịch Covid hoành hành ở Pháp. 

Thanh Vân
( Xướng ngôn viên Đài Truyền Hình Cần Thơ trước năm 1975)

* Em cảm ơn chị Thanh Vân nhiều đã bổ túc thêm chi tiết này - Kim Oanh