Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Sơ Lượt Lịch Sử & Các Vị Tỉnh Trưởng Tỉnh Vĩnh Long Trước Năm 1975

Dinh Tỉnh Trưởng Vĩnh Long Pháp

Danh sách các vị Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long thời kỳ Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 bao gồm các nhân vật sau: 

- Trần Thiện Tỵ (1946 – 1947)
- Trương Công Thiên (1947 – 1951)
- Hồ Bảo Lân (1951 – 1952)
- Bùi Quan Ấn (1952 – 1954)
- Nguyễn Văn Định (1954 – 1955)
- Hồ Bảo Thành (1955 – 1956)
- Dương Văn Ký (1956 – 1957)
- Khưu Văn Ba (1957 – 1960)
- Lê Văn Phước (1960)
- Nguyễn Khắc Tuân (1960 – 1964)
- Phan Thành Thới (1964 – 1965)
- Huỳnh Ngọc Diệp (1965 – 1967)
- Dương Hiếu Nghĩa (1967 – 1968)
- Lê Chí Cường (1974 – 1975)
- Lê Trung Thành (1975)

Lưu ý: Giai đoạn tháng 6 năm 1960, Tỉnh trưởng Khưu Văn Ba đã bị lực lượng cách mạng tiêu diệt tại khu vực Cái Sơn (nay thuộc xã Long Phú, huyện Tam Bình).
Để biết thêm chi tiết về tiểu sử của từng vị, bạn có thể tham khảo thêm tại tài liệu lịch sử tỉnh Vĩnh Long.

Phân Chia Hành Chính

Tòa Hành Chánh Vĩnh Long 1966/72

- 1 Tỉnh, 6 Quận
Tỉnh Vĩnh Long, Quận Bình Minh, Quận Long Hồ, Quận Mang Thít, Quận Vũng Liêm, Quận Trà Ôn, Quận Tam Bình, Quận Bình Tân

Tỉnh Vĩnh Long
 
Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam. Vĩnh Long cách Sài Gòn 135 km về phía Nam và cách Cần Thơ 40 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1. Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần về phía Bắc, Đông Bắc và Nam Đông Nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kinh rạch.

Năm 1732, Vùng đất Vĩnh Long thời ấy được Nguyễn Phúc Trú thành lập, với tên gọi đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ.
Năm 1779, đổi tên thành Hoằng Trấn dinh. 
Giai đoạn từ năm 1780 đến năm 1805, đổi thành Vĩnh Trấn, từ năm 1806 đến năm 1832, Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh. 
Từ năm 1832 đến năm 1950, tên gọi Vĩnh Long được hình thành với vai trò là một tỉnh. 
Giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1954, Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Trà. 
Từ năm 1954 đến 1975 gọi Tỉnh Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh sông chính của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu. Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách Sài Gòn 135 km về phía Nam theo quốc lộ 1, cách Cần Thơ 33 km về phía Bắc theo quốc lộ 1.
Nhìn bao quát, tỉnh Vĩnh Long như một hình thoi nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Bến Tre và đông nam giáp tỉnh Trà Vinh phía Tây giáp Cần Thơ, phía tây bắc giáp Đồng Tháp, phía đông bắc giáp Tiền Giang.

( Không ảnh những Kinh, Rạch -Vĩnh Long)

Điều Kiện Tự Nhiên

Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, độ cao khá thấp so với mực nước biển, Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, dạng lòng chảo ở giữa trung tâm Tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn. 

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.400 – 1.450 mm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, chiếm 85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ tương đối cao, ổn định, nhiệt độ trung bình là 27oC, độ ẩm trung bình 79,8%, số giờ nắng trung bình lên tới 2.400 giờ.

Vĩnh Long có cấu trúc địa chất tương đồng với khu vực, Vĩnh Long tuy có diện tích đất phèn lớn, tầng sinh phèn ở rất sâu, tuy nhiên đất có chất lượng cao, màu mỡ vào bậc nhất so với các tỉnh trong vùng. Đặc biệt tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu (lượng phù sa trung bình là 374g/m3 nước sông vào mùa lũ), đất tốt, độ phì nhiêu cao, trồng được hai vụ lúa trở lên, cho năng suất cao, thuận lợi về giao thông kể cả đường thuỷ và đường bộ.

Vĩnh Long còn có lượng cát sông và đất sét khá dồi dào. Cát sông khoảng 100 - 150 triệu m3, và đất sét khoảng 200 triệu m3, là nguyên liệu sản xuất gạch và làm gốm.
Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng. Tỉnh chỉ có nguồn cát và đất sét làm vật liệu xây dựng, đây là nguồn thu có ưu thế lớn nhất của tỉnh Vĩnh Long so với các tỉnh trong vùng về giao lưu kinh tế và phát triển thương mại 

Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai con sông lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, nên có nguồn nước ngọt quanh năm, đó là tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng. Vĩnh Long có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, hình thành hệ thống phân phối nước tự nhiên khá hoàn chỉnh, cùng với lượng mưa trung bình năm lớn đã tạo điều kiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.


Lịch sử Tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn (giai đoạn 1832-1867) so với tỉnh Vĩnh Long năm 2011.

Năm 1698, khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, toàn bộ vùng đất mới phương Nam chính thức trở thành một đơn vị hành chính mang tên Gia Định phủ. Năm 1714, đời chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu), lúc này Vĩnh Long là trung tâm của châu Định Viễn, bao gồm một phần của Bến Tre ở mạn trên và Trà Vinh ở mạn dưới thuộc Long Hồ Dinh.
Năm 1732, Dưới thời Nguyễn Phúc Trú đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là Dinh Long Hồ, Châu Định Viễn, đất Vĩnh Long thuộc Dinh Long Hồ. 

Đến năm Đinh Sửu (1757) thì chuyển đến xứ Tầm Bào (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là Thành phố Vĩnh Long). Thành Long Hồ được xây dựng tại xứ Tầm Bào là thủ phủ của một vùng rộng lớn. Nhờ đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm…, Dinh Long Hồ trở thành một trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, Chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn...

Đến giữa thế kỷ 18, Dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội chúa Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, ổn định và bảo vệ đất nước. Sử cũ còn ghi:
“ Vào năm Canh Dần 1770, tại vùng đất này, lưu thủ Dinh Long Hồ đã chặn đánh tan tác quân Xiêm La do Chiêu Khoa Liên cầm quân, tiêu diệt 300 tên địch, làm tan vỡ âm mưu xâm chiếm nước Việt của chúng ”

Nơi đây, trong khoảng 10 năm (1776-1787), cũng từng là chiến trường diễn ra nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn với quân (chúa Nguyễn và Nguyễn Ánh), từ trận đầu tiên là trận tập kích Long Hồ của Nguyễn Lữ. Năm 1784, tại sông Mang Thít (Vĩnh Long) nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh thắng trận Rạch Gầm-Xoài Mút, làm liên quân Xiêm La do Nguyễn Ánh cầu viện đại bại.
 
( Sông Long Hồ)

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh đổi dinh Long Hồ, châu Định Viễn thành dinh Vĩnh Trấn. Năm Mậu Thân (1788), sau khi lấy lại đất Nam Bộ từ tay nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đem 2 đạo Long Xuyên và Kiên Giang của trấn Hà Tiên nhập vào dinh Vĩnh Trấn.

Thời nhà Nguyễn, năm Quý Hợi (1803), Gia Long (Nguyễn Ánh) cắt đất dinh Long Hồ xưa lập thành dinh Hoằng Trấn. Năm Gia Long thứ 7 (1808), Vĩnh Trấn, Hoằng Trấn được đổi làm trấn Vĩnh Thanh thuộc tổng trấn Gia Định, đồng thời thăng châu Định Viễn làm phủ với 3 Quận: Vĩnh Bình, Vĩnh An và Tân An. Năm 1810, lại cắt 2 đạo Kiên Giang và Long Xuyên về trấn Hà Tiên như cũ. Năm 1813, Gia Long lập thêm huyện Vĩnh Định thuộc trấn Vĩnh Thanh. Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là quan Hiệp trấn Vĩnh Thanh, với chức phó là quan Tham Hiệp. Các quan Trấn thủ Vĩnh Thanh gồm: Nguyễn Văn Thoạ,..

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Minh Mạng chia huyện Tân An thành 2 huyện Tân An và Bảo An thuộc phủ mới lập tên là Hoằng An. Năm 1832, Minh Mạng đổi tên trấn Vĩnh Thanh thành Vĩnh Long, lấy thêm 2 huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh của phủ Lạc Hóa thành Gia Định nhập vào Vĩnh Long và đổi trấn thành tỉnh Vĩnh Long (chữ Hán:永隆). Nhưng đồng thời, lại cắt các huyện Vĩnh Định, An Định và đạo Châu Đốc sang tỉnh An Giang. Cùng năm 1832, Minh Mạng cho lập thêm huyện Vĩnh Trị thuộc phủ Định Viễn tỉnh Vĩnh Long. Đặt chức tổng đốc Long-Tường để thống lĩnh 2 tỉnh Vĩnh Long và Định Tường, cùng với các chức Án sát và Bố chính lo các công việc thuộc chức năng của Bộ Hình và Bộ Hộ ở cấp tỉnh, giúp cho Tổng đốc. Quần đảo Côn Lôn (tức Côn Đảo) thuộc tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn.

Năm 1833, tỉnh Vĩnh Long bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng án sát Vĩnh Long là Doãn Uẩn lấy lại được tỉnh thành (thành Long Hồ) từ tay quân của Khôi. Năm 1837, Minh Mạng lập thêm ở Vĩnh Long 1 phủ Hoằng Trị và 2 quận (Bảo Hựu, Duy Minh).

Tỉnh Vĩnh Long, ở Nam Kỳ, giai đoạn (1832-1867).


Năm Tự Đức thứ 4 (1851), nhà Nguyễn bỏ phủ Hoằng An, gộp các huyện của phủ này vào phủ Hoằng Trị. Thời vua Tự Đức cho đến khi Pháp chiếm Vĩnh Long (1851-1862), tỉnh Vĩnh Long gồm 3 phủ là Hoằng An, Định Viễn, Lạc Hóa, Cùng với 8  quận là: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị, Bảo Hựu,Tân Minh, huyện Bảo An, Duy Minh, Tuân Nghĩa,  Trà Vinh, đồng thời Quần Đảo Côn Lôn (Côn Đảo) cũng thuộc sự quản hạt của tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 6 tháng 8 năm 1867, hạt thanh tra Định Viễn đổi thành hạt thanh tra Vĩnh Long. Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt thanh tra Vĩnh Long được đổi thành hạt tham biện Vĩnh Long, có 14 tổng. 
Ngày 12 tháng 5 năm 1879, giải thể tổng Vĩnh Trung, nhập các làng vào tổng Bình Long. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, hạt tham biện Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Long. Ngày 25 tháng 1 năm 1908, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được chia thành 5 quận là Long Châu, Chợ Lách, Cái Nhum, Vũng Liêm, Ba Kè. Ngày 9 tháng 2 năm 1913, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm địa bàn tỉnh Sa Đéc giải thể. Ngày 1 tháng 12 năm 1913, lập thêm 2 quận Cao Lãnh, Sa Đéc. Ngày 1 tháng 4 năm 1916, lập quận Lai Vung. Ngày 29 tháng 6 năm 1916, đổi tên quận Ba Kè thành quận Chợ Mới.

Ngày 9 tháng 2 năm 1917, địa bàn tỉnh Vĩnh Long được sắp xếp lại, gồm 7 quận gồm có Châu Thành, Chợ Lách, Vũng Liêm, Chợ Mới, Sa Đéc, Cao Lãnh, Lai Vung. Ngày 7 tháng 11 năm 1917, quận Chợ Mới được đổi thành quận Tam Bình. Ngày 29 tháng 2 năm 1924, tách 3 quận Sa Đéc, Lai Vung, Cao Lãnh ra khỏi tỉnh Vĩnh Long để lập lại tỉnh Sa Đéc, tỉnh Vĩnh Long lúc này còn 4 quận. Ngày 11 tháng 8 năm 1942, tỉnh Vĩnh Long còn 3 quận là Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm.

Trước năm 1948, hai quận Cầu Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ, từ năm 1948.
Đến năm 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 1951 đến năm 1954, thuộc tỉnh Vĩnh Trà (Chính quyền Cách Mạng), Từ năm 1954 đến năm 1971, Trà Ôn thuộc huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh. Thời kỳ 1971 đến năm 1975 huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Phân chia hành chánh tỉnh Vĩnh Long 1973



Sang thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Đệ Nhất Cộng hòa chia tỉnh Vĩnh Long13 làm 6 quận, 22 tổng, 81 xã (Nghị định số 308-BNV/NC/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 8 tháng 10 năm 1957): 

Các quận là Châu Thành, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Sa Đéc. Ngày 10 tháng 3 năm 1961, quận Cái Nhum được tái lập và đến ngày 31 tháng 5 năm 1961 thì đổi tên thành quận Minh Đức. Ngày 11 tháng 7 năm 1962, 2 quận là Đức Tôn, Đức Thành được thành lập. 

Ngày 24 tháng 9 năm 1966, 4 quận gồm Lấp Vò, Sa Đéc, Đức Tôn, Đức Thành được thành lập để tái lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 14 tháng 1 năm 1967, tỉnh Vĩnh Long nhận thêm quận Trà Ôn, Vũng Liêm từ tỉnh Vĩnh Bình.

Đến ngày 2 tháng 8 năm 1969, Theo Nghị định số 856-NĐ/NV của Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa, thì Vĩnh Long có 7 quận, 18 tổng, 65 xã. 

Các quận là Châu Thành - Vĩnh Long, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Minh Đức, Trà Ôn, Vũng Liêm.

Kim Oanh sưu tầm từ Internet.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Mình Trăng


1/ 
Xướng:

Tình Trăng

Trăng ai căng nhựa tình tơ
Cho tôi dệt võng gối mơ mộng chờ
Âu lo cửa sổ khép hờ
Lỡ đêm qua vội trăng vờ đừng đi​

Kim Oanh
***
Họa: 
 
Mình Trăng

Trăng ơi! se mấy sợi tơ
Để ta dệt áo lụa thơ mong chờ
Ấu ơ... sao cứ hững hờ?
Đế đêm Trăng Lạnh u mờ lối đi...

2/
Xướng:

Hỏi Người

Có những đêm Trăng một mình
Dòng suy nghĩ ừ cái tình không nợ
Lấn cấn hoài ôi cắc cớ
Buông nhẹ lòng hay trăn trở đời nhau?

Kim Oanh
***
Họa: 

Có Những Đêm Trăng

Có những đêm Trăng giật mình
Nằm nuối tiếc mối Duyên tình chẳng Nợ
Lẩm cẩm chia tay vô cớ
Hàn gắn lại hay ơ hờ xa nhau?

Vô Nhiễm


Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

Giá Chi..

 

Giá chi anh hóa làm mưa
Tóc mây hứng giọt hương chưa phai tàn
Giá chi anh đổi thu sang
Vườn xưa thay sắc lá vàng nhuộm xanh
Giá chi anh giấc mộng lành
Đong đưa tơ võng chòng chành vẫn yên
Giá chi anh suối tinh tuyền
Một đời mơ được làm tiên giáng trần
Giá chi anh quạt gió xuân
Hạ vàng phượng thắm chẳng ngừng van mưa
Bâng khuâng tắm mát bốn mùa
Hạt yêu hạt nhớ hạt lùa… tự dưng….

Kim Oanh
25/6/2016

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Bồ Tát Man 菩薩蠻 - Ôn Đình Quân ( Kỳ 5)

 

Bồ Tát Man 菩薩蠻là tên một khúc nhạc của Đường Giáo Phường 唐教坊, về sau dùng làm tên từ bài. Sự kiện này có liên quan tới phái đoàn tiến cống của nước “Nữ Man Quốc女蠻國” vào thời vua Đường Tuyên Tông 唐宣宗. Sử liệu rất lờ mờ về vị trí của tiểu quốc này, chỉ biết họ thuộc về Thái tộc 傣族 hay Miến Điện tộc 緬甸族 chi đó. Nữ Man Quốc không phải là “Đông Nữ Quốc 東女國” (tên khác là Tây Khương 西羌) theo chế độ mẫu hệ, lại càng không phải là Tây Lương Nữ Quốc 西梁女國, một nước hư cấu trong truyện Tây Du Ký 西遊記.

Sách “Đỗ Dương Tạp Biên 杜陽雜編 quyển hạ” của Tô Ngạc 蘇鄂 đời Đường chép rằng “Vào năm đầu niên hiệu Đại Trung 大中 (Đường Tuyên Tông) Nữ Man Quốc đem tiến cống nhiều phẩm vật quý giá. Người nước này búi tóc cao, đội mũ kim quan, đeo xâu chuỗi ngọc (trông giống như hình Bồ Tát Trong sách Phật Giáo) vì vậy gọi là Bồ Tát Man. Lúc đó các nhạc công giỏi (Của Đường Giáo Phường) bèn chế ra khúc nhạc gọi là Bồ Tát Man”. Các văn thi sĩ cũng hát và điền từ thành từ bài Bồ Tát Man.

Lại có thuyết nói rằng vào đời Đường tục xưng mỹ nữ là “Bồ Tát”. Do đó khi người Nữ Man Quốc đến thì được gọi là “Bồ Tát Man” và Đường Giáo Phường cũng đồng thời sáng tác ra điệu nhạc Bồ Tát Man

Sách Tống Sử phẩm Nhạc Chí (宋史·樂志) chép rằng Bồ Tát Man là tên của đội múa nữ (女弟子舞队). Không rõ đội nữ múa này có phải là cống phẩm của Nữ Man Quốc?

Sách Linh Mặc Tân Tiên 零墨新箋 của Dương Hiến Ích 楊憲益, xuất bàn khoảng 1940, nhận định Bồ Tát Man là khúc nhạc cổ của Miến Điện, do ngả Vân Nam 雲南 du nhập vào Trung Nguyên.

Vào thời Ngũ Đại五代, có vị Triệu Sùng Tộ 趙崇祚sưu tập Đường Thi Đường Từ, chép thành 10 quyển đặt tên là “Hoa Gian Tập花間集”, trong đó quyển 1 chép 14 bài Bồ Tát Man của Ôn Đìng Quân. Từ của Ôn Đình Quân được liệt vào “Hoa Gian Phái花間派”, thường viết về khuê trung thiếu nữ, khuê oán, tình cảm nam nữ, phong cảnh ưu mỹ, lời lẽ hoa lệ, nùng diễm, kỹ lưỡng.

Ôn Đình Quân 溫庭筠 vốn tên là Kỳ 岐, tên chữ là Phi Khanh 飛卿. Ông quê ở Thái Nguyên Kỳ太原祁 (nay là Kỳ huyện祁縣, tỉnh Sơn Tây 山西, TH) là thi Nhân, từ nhân đời Đường. Ông thi tiến sĩ nhiều lần không đậu, chung thân bất đắc chí nhưng lại có thiên tài về Thi, Từ. Về Thi, ông được ngang danh với Lý Thương Ẩn 李商隱, về Từ, ông ngang danh với Vi Trang 韋莊. Người đời sau sưu tập hơn 70 bài từ chép thành “Ôn Phi Khanh Tập 溫飛卿集” và “Kim Liêm Tập 金奩集”.

Trong bài này, xin cống hiến quý bạn bài Bồ Tát Man kỳ 5 của Ôn Đình Quân.

菩薩蠻 - 溫庭筠 Bồ Tát Man - Ôn Đình Quân Kỳ 5

杏花含露團香雪,Hạnh hoa hàm lộ đoàn hương tuyết,
綠楊陌上多離別。Lục dương mạch thuợng đa ly biệt.
燈在月朧明, Đăng tại nguyệt lung minh,
覺來聞曉鶯。 Giác lai văn hiểu oanh.

玉鉤褰翠幕, Ngọc câu khiên thúy mạc,
妝淺舊眉薄。 Trang thiển cựu my bạc.
春夢正關情, Xuân mộng chính quan tình,
鏡中蟬鬢輕。 Kính trung thiền mấn khinh.

Chú Thích

1 Bồ tát man 菩薩蠻: tên từ điệu, gồm 44 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, 2 trắc vận và 2 bình vận. Có 3 cách luật đươc ghi nhận. Cách luật thông dụng nhất chiếu theo bài “Bình lâm mạc mạc yên như chức 平林漠漠煙如織” của Lý Bạch 李白 (hoặc Vô Danh thị):

Câu 1 và 2 có vận trắc, mỗi câu có 7 chữ.
X B X T B B T (trắc vận),
X B X T B B T (vận).

Câu 3 và 4 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ.
X T T B B (bằng vận),
X B X T B (vận).

Câu 5 và 6 có vận trắc, mỗi câu có 5 chữ.
X B B T T (đổi trắc vận),
X T X B T (vận).

Câu 7 và 8 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ,
X T T B B (đổi bằng vận),
X B X T B (vận).

X = bất luận; B = bình thanh; T = trắc thanh.

2 Hạnh hoa 杏花: hoa của cây hạnh nhân hoặc một loại hoa đào, có đào hồng, đào bạch.
3 Hàm lộ含露: đọng sương, có giọt sương trong hoa đóa.
4 Hương tuyết 香雪:hoa hạnh mầu trắng nên gọi là hương tuyết.
5 Đoàn 團: viên, tròn. Đoàn hương tuyết 團香雪: chỉ những khóm hạnh hoa.
6 Lục dương 綠楊: lá xanh của cây dương liễu.
7 Mạch thượng 陌上: trên đường.
8 Ly biệt 離別: chia tay, người đi kẻ ở.
9 Lung minh 朧明:ánh trăng mông lung mờ ảo.
10 Giác lai 覺來: tỉnh lại, tỉnh giấc.
11 Ngọc câu 玉鉤: cái móc bằng ngọc để treo màn.
12 Khiên 搴: kéo lên.
13 Thúy mạc 翠幕: màn cửa, rèm xanh, rèm hoa lệ.
14 Trang thiển 妝淺: trang điểm xơ xài.
15 Cựu my bạc 舊眉薄: my mắt trang điểm ngày hôm qua, hôm nay đã bạc mầu.
16 Xuân mộng 春夢: giấc mộng mùa xuân thường ám chỉ những cuộc vui ngắn ngủi.
17 Quan tình 關情 = quan tâm 關心.
18 Kính trung 鏡中: nhìn trong gương, soi gương.
19 Thiền mấn 蟬鬢: 1 kiểu tóc của phụ nữ ngày xưa như hình cánh ve sầu do 1 vị cung nhân của Ngụy Văn Đế Tào Phi 魏文帝曹丕 là Mạc Quỳnh Thụ 莫瓊樹 sáng chế ra.
20 Khinh 輕 = bạc薄: mỏng.

Dịch Nghĩa

Từng cụm hoa hạnh còn đọng những hạt sương,
Trên con đường trồng cây dương liễu xanh thường là nơi ly biệt nhau.
Ánh đèn ở dưới ánh sáng trăng mông lung,
Tỉnh lại nghe tiếng chim oanh hót buổi sáng.

Cái móc bằng ngọc treo cái màn xanh thúy,
Trang điểm xơ xài hôm qua, hôm nay đã bạc mầu.
Tình cảnh trong giấc mộng xuân gây nên tình tự đầy vơi.
Soi gương thấy mái tóc chải kiểu cánh ve sầu đã thưa thớt.

Phỏng Dịch:

1. Bồ Tát Man - Giấc Mộng Xuân

Chùm hoa sương đọng trắng như tuyết,
Đầu đường dương liễu xanh ly biệt.
Đèn sáng dưới trăng thanh,
Tỉnh ra nghe tiếng oanh.

Màn xanh treo móc ngọc,
Son phấn cũ phai bạc.
Xuân mộng giấc tình mơ,
Mầu guơng mái tóc thưa.

2. Giấc Mộng Xuân

Hạnh hoa tuyết trắng đọng sương,
Biệt ly buồn mấy con đường liễu xanh.
Ánh đèn mờ tỏ trăng thanh,
Tỉnh ra nghe tiếng chim oanh gọi đời.

Móc ngọc màn thúy buông lơi,
Phấn son ngày cũ nhạt phai tháng ngày.
Mộng xuân một giấc tình say,
Mầu gương soi bóng tóc mây thưa dần.

HHD
4- 2019
***
Bồ Tát Man, Kỳ 5- Ôn Đình Quân

Hoa hạnh ngâm sương, khối hương tuyết
Liễu xanh trên đường nhiều ly biệt
Đèn dưới trăng lung linh
Tỉnh sớm nghe tiếng oanh

Móc ngọc treo màn biếc
Điểm sơ, mi giờ nhạt
Mộng xuân chút tình xưa
Trong gương búi tóc thưa

Song thất lục bát:

Hạnh ngậm sương, trắng tinh bông tuyết
Đường liễu xanh ly biệt tiêu sơ
Đèn le lói, chiếu trăng mờ
Sớm mai oanh hót tỉnh mơ mộng sầu

Rèm lụa thêu ngọc câu xanh biếc
Điểm trang sơ, giờ nét nhạt phai
Mộng xuân tình cũ đầy vơi
Kiểu ve tóc bới gương soi thưa dần!

Lộc Bắc
Mai26
***
Xuân Mộng

Hạnh hoa sương đọng trắng phau
Liễu xanh ly biệt gợi bao lối buồn
Đèn mờ dưới ánh trăng suông
Tỉnh ra nghe tiếng chim muông gọi ngày

Màn xanh móc ngọc lơi cài
Điểm trang xưa nhạt giờ phai sắc màu
Mộng xuân tỉnh giấc canh thâu
Soi gương kiểu tóc ve sầu dần thưa


Kim Oanh

5.2026

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

Le Jour De La Traversée – 30 Avril - Sáng Tác: Tommy Nguyễn

Le Jour de la Traversée – 30 Avril - Sáng Tác: Tommy Nguyễn

Le 30 avril de cette année-là
Saigon en pleur, les drapeaux
tombaient déjà.
Papa m'a pris sans un mot d'adieu.
Maman regardait notre bateau dire adieu.
Frait l'esquive
sur une mer en colère
portant le rêve du mot liberté.
Mais l'océan engloutit des
frères qui n'ont jamais toucher la terre espérée,
laissant derrière nos maisons en France,
laissant le pays, les cocotiers les ranents.
Une photo fanée, une prière
dans la nuit. noir perdu sur la mer
le jour de la traversé
les larmes rejoignent la mer
maman, je pars sans te serrer une dernière
papa est resté dans les camps de misère
nous les enfants
dispersés sur la terre
Avril noir, pourquoi dures-tu encore ?
Tant de vie partie loin du pays qui dort.
Ils ont payé de sang le prix d'être libre.
Oh liberté,
pourquoi coûtes-tu si cher ?
Il y avait des mères tenant leur bébés.
Quand le bateau sombrait dans l'obscurité,
elle murmurait
dor mon âme,
je dors puis la mer les berca
jusqu'à la mort.
Il y avait des soldats du suden vert morts en prison
sanstombe,
sans lumière.
Sans nom,
sans fleurs,
sans dernier champ,
juste des veuves pleurant depuis 50 ans.
30 avril, jour de deuil national,
un million de cœurs saignent encore mal.
Allumons une bougie
pour ceux sous les eaux et serrons fort ce qui porte ce fardeau
le jour de la traversée.
N'oubliais jamais les âmes pied d'or au fond des maré
des mers aux cheveux blancs guettent l'entrée
attendant un fils qui ne reviendra jamais
avril nois, nous nous inclinons pour les boats people pour notre nation.

Prions qu'un jour le Vietnam soit uni pour qu'il n'y ait plus de bateau qui fuit.
Je suis parti.
Tu es resté notre pays.
Pourquoi déchirais
dans une autre vie ?
Je serai vietnamien.
Mais mon Dieu,
plus jamais d'avril comme celui-là.
----------
Google Translated:

Ngày Vượt Biên – 30 tháng 4 – Sáng Tác: Tommy Nguyễn

Ngày 30 tháng 4 năm ấy, Sài Gòn khóc than, những lá cờ đã bắt đầu rơi.
Cha đưa tôi đi mà không một lời tạm biệt.
Mẹ nhìn con thuyền của chúng tôi ra khơi.
Chiếc thuyền nhỏ trên biển cả giận dữ
mang theo giấc mơ về tự do.
Nhưng đại dương nuốt chửng
những người anh em không bao giờ đặt chân đến vùng đất mong ước,
bỏ lại những ngôi nhà ở Pháp,
bỏ lại quê hương, những hàng dừa
những cơn rùng mình.
Một bức ảnh phai màu, một lời cầu nguyện
trong đêm. Đen kịt, lạc lõng trên biển ngày vượt biên
nước mắt hòa cùng biển cả
Mẹ ơi, con đi mà không được ôm mẹ lần cuối
Cha ở lại trong những trại khổ đau
chúng con rải rác khắp nơi trên trái đất

Tháng Tư đen tối, sao ngươi vẫn còn vương vấn?
Biết bao sinh mạng đã ra đi xa khỏi vùng đất đang ngủ yên.
Họ đã trả giá bằng máu cho sự tự do. Ôi tự do,
sao người lại đắt đỏ đến thế?
Có những người mẹ ôm con nhỏ.
Khi con thuyền chìm vào bóng tối,
người mẹ thì thầm
ngủ đi linh hồn tôi,
tôi ngủ rồi biển cả ôm ấp họ cho đến chết.
Có những người lính của miền Nam xanh đã chết trong tù
không có mộ phần,
không có ánh sáng.
Vô danh,
không có hoa,
không có cánh đồng cuối cùng,
chỉ có những góa phụ khóc than suốt 50 năm.
Ngày 30 tháng 4, ngày quốc tang,
hàng triệu trái tim vẫn rỉ máu đau đớn. Chúng ta hãy thắp một ngọn nến
cho những người nằm dưới đáy biển và ôm chặt những người đang gánh chịu gánh nặng này
vào ngày vượt biển.
Đừng bao giờ quên những linh hồn chân vàng dưới đáy thủy triều
của biển cả, với mái tóc bạc, canh giữ lối vào
chờ đợi người con trai sẽ không bao giờ trở về.

Tháng Tư, chúng ta cúi đầu tưởng niệm những người tị nạn trên thuyền, cho đất nước chúng ta.
Chúng ta hãy cầu nguyện rằng một ngày nào đó Việt Nam sẽ thống nhất để không còn những con thuyền chạy trốn nữa.
Tôi đã ra đi. Bạn vẫn luôn là đất nước của chúng tôi.
Tại sao lại xé xác tôi ra
trong một kiếp khác?
Tôi sẽ vẫn là người Việt Nam.
Nhưng lạy Chúa,
sẽ không bao giờ có một tháng Tư nào như tháng Tư này nữa.

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Vương Cung Thánh Đường - Bồ Đào Nha, Ngày 12,13 Tháng 5 Năm 2025

(Vương Cung Thánh Đường, Fatima12/5/2025) 

Từ xưa nay chỉ nghe trong nhạc nhắc 4 chữ" Vương Cung Thánh Đường". Tháng 5.2025 tôi được tận mắt nhìn được tất cả những di tích mầu nhiệm, trang nghiêm, kiến trúc đồ sộ còn tồn tại nơi đây.
Nơi đây là đâu, và ý nghĩa như thế nào? Theo tài liệu tìm hiểu:

"Đền Thánh Fátima (Santuário de Fátima), tên chính thức là Đền Đức Mẹ Mân Côi tại Fátima (Santuário de Nossa Senhora do Rosário de Fátima), là một trung tâm hành hương được cung hiến cho Đức Mẹ Fátima tọa lạc tại thành phố Fátima, quận Ourém, Bồ Đào Nha.
Đền Thánh Fátima bao gồm nhiều công trình Công giáo trong đó Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi (Basílica de Nossa Senhora do Rosário) là công trình trọng điểm.

Bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, Đền Thánh còn có
- Nhà nguyện Cầu Nguyện Liên Lỉ (Capela do Lausperene),
- Một cây Sồi lớn đứng gần nơi mà Đức Mẹ hiện ra vào năm 1917,
- Một bức tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu (Monumento ao Sagrado Coração de Jesus)
- Nhà nguyện Đức Mẹ Hiện Ra (Capelinha das Aparições),

Bao quanh khu vực được cho là nơi 3 chứng nhân: Lúcia dos Santos, Francisco và Jacinta Marto thấy Đức Maria Đồng trinh hiện ra lần đầu tiên với mình.
Ngoài ra còn có nhiều công trình kiến trúc và tượng đài khác được dựng lên để kỷ niệm những năm mừng kính phép lạ tại Fátima.

(Ba trẻ mục đồng)
(Cây Sồi nơi Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất tại Fatima. 13-05-1917)

Nhà nguyện nơi Đức Mẹ hiện ra, được xây dựng ngày 28/4/1919, có diện tích khá nhỏ chỉ dài 3,30 mét, rộng 2,80 mét và cao 2,85 mét, được xây chủ yếu bằng đá và vôi, lợp ngói bên trên.
Trung tâm thị trấn là Lễ đài Thánh Tâm Chúa Giêsu (1932), ngắm Đền Valhnos.
Phía đối diện đền thánh có Vương Cung Thánh Đường Thiên Chúa Ba Ngôi được khánh thành sau năm 1953 để đáp ứng nhu cầu hành hương và phụng tự quy mô lớn thay cho Đền Thánh Fátima với sức chứa có giới hạn".

Cova da Iria là một địa điểm nằm trong thành phố Fatima, thuộc quận Santarém, miền Trung Bồ Đào Nha. Nơi đây nổi tiếng trên toàn thế giới.vì là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với ba em vào năm 1917, được biết đến với tên gọi Đức Mẹ Fatima.

Ngày 12 và 13 tháng 5 luôn là những ngày đặc biệt ở Fatima, nơi hàng ngàn người hành hương đổ về để mừng Đức Mẹ hiện ra ở Cova da Iria.
(Từ nguồn Wikipedia). 

 

Rất nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo và du khách từ khắp mọi nơi đổ dồn về thánh địa Fatima này. Hình như tôi có được duyên lành với địa danh linh hiển Fatima, nên tôi có mặt ở đây đúng vào ngày Thánh Lễ mà không hề biết, cứ ngỡ các bạn rủ tôi đi du lịch thôi.

Trong năm ấy, là Năm Thánh cứ 25 năm mới có một lần, Tất cả những người trong đạo, họ rất tha thiết đi Hành Hương. Đã nhiều lần tôi ao ước được đến Đất Thánh, nơi Mẹ hiện ra để tôi được tạ ơn Mẹ, Người đã ban phép nhiệm mầu cứu thoát con tàu tôi trong tay của tử thần.

( Chiều 12.5.2026)

Vào  11.5.2025, tôi cùng các bạn trong ca đoàn và cô bạn nhỏ, tất cả 6 người cùng đáp chuyến bay đến  phi trường Lisbon, Bồ Đào Nha,.Thủ đô Lisbon cách Fatima khá xa 142km, chúng tôi có xe Taxi đưa về khách sạn ở Đất Thánh Fatima vào một buổi tối.
Thành phố vắng im lìm, tôi không mường tượng, Nơi đây có gì để du lịch? 

Sáng hôm sau 12.5.2025 vừa bước khỏi cửa khách sạn, tôi ngỡ ngàng, ôi người đâu mà đông và tấp nập thế này... Có những đoàn cùng đi chung, cầm cờ của từng nhóm khác nhau. Khách Sạn, nhà trọ không còn chỗ trống, họ cắm lều, Caravan trong ngăn nắp và trật tự.
Đến quảng trường, càng ngạc nhiên hơn, không ngờ tôi có thể chiêm ngưỡng một khu đất Thánh thật uy nghi, rộng lớn và thiêng liêng.

Đêm đó số lượng khoảng hơn 400,000 người đến từ khắp nơi trên thế giới, tụ hội về đây tham dự Thánh Lễ. Thực ra không có gì đáng nói, nhưng mọi người đã tụ họp với một thái độ thân thiện, cởi mở cho dù không cùng màu da, không phân biệt chủng tộc, không phân biệt tuổi tác, họ tự giữ sự trật tự và an toàn. Quả thật không phải là điều đơn giản.
Fatima có những thông điệp từ một tôn giáo tạo thành một niềm tin, một đức tin cho con người, sống trong tình thương yêu đùm bọc, thân thiện và nhân nhượng lẫn nhau. Có những đức tin mình chỉ học hỏi được khi nhìn thấy những người khác biểu lộ đức tin đó.


Những ngọn nến thắp lên, không chỉ là một tia sáng trong đêm mà còn tượng trưng cho đức tin và lòng sùng kính, dìu dắt ta đi trong cuôc sống. Tại nơi này, với đức tin mạnh mẽ như được kết nối bởi ánh sáng và sự bảo vệ của Đức Mẹ, tâm trở nên bình an và lòng vui phơi phới...

Phải nói là đêm nay cả một rừng người trong ánh nến huyền diệu thiêng liêng. Vô cùng xúc động vì cách nay 46 năm, đêm nay cũng là đêm tôi được đặt chân đến bến bờ tự do ở Mã Lai ngày 12.5.1979.
Tạ Ơn Đức Mẹ cho con được sống trong ánh sáng ấm áp đang ôm ấp lấy anh chị em chúng con!

Đêm nay 13 tháng 5, dưới cơn mưa, đứng từ trên cao nhìn xuống, cả rừng dù dù đủ sắc. Tôi lo ngại sức khoẻ vì đây là điểm đến đầu tiên, tôi còn đi một chuyền dài đến Bắc Âu. cô em đi chung bảo, chị đừng lo vì cách nay hơn 100 năm cũng mưa thế này, cầu nguyện Mẹ, mưa sẽ tạnh ngay. Tôi cầu nguyện ngay. Ồ, thật lạ lùng, tôi vừa dứt lời nguyện cầu cơn mưa chấm dứt. Tôi là người "đạo theo" tôi chưa bao giờ lại cảm thấy rõ ràng Đức Mẹ lại đến gần tâm hồn tôi, Mẹ nghe tiếng thì thầm trong tôi đến thế.


Với số người tham dự Thánh Lễ 13 Tháng 5, các tín hữu trên toàn thế giới kỷ niệm lễ Đức Mẹ Fatima, đặc biệt tại Đền Thánh Fatima ở Bồ Đào Nha Lễ này là để tưởng nhớ sự kiện Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn cừu vào năm 1917.

Tạ ơn Mẹ đã cho con thông suốt, thu hút lòng tin yêu, phép nhiệm mầu, con thấu hiểu hơn về đức tin của những người tề tựu về đây, nơi họ đã làm mới tâm hồn con và suy nghĩ của con. Tất cả đều qua tình yêu bao la của Mẹ! 

Cũng đêm nay Mẹ đã nghe tiếng con van xin, Mẹ đã dang đôi tay ôm ấp, xoa dịu lo lắng, nỗi đau và cho con một sức khoẻ đề tiếp tục sống một  đời sống chứng nhân. 


Tình Mẹ Fatima đầy ơn phúc
Luôn nâng đỡ con những lúc khổ đau
Hồng Ân Mẹ như dòng sữa ngọt ngào
Ru con ngủ bài ca dao êm ái
Mẹ êm dịu như suối nguồn tuôn chảy
Tắm mát cuộc đời mãi mãi yêu thương
Là vầng trăng thanh soi sáng đêm trường
Cho đàn con trên bước đường ly xứ
Fatima đêm nay gió mưa bất tử
Muôn ngàn người tề tụ trở về đây
Những ngọn nến trên tay lời khấn nguyện
Sưởi ấm lòng chuyền hơi ấm đức tin
Mắt rưng rưng...Mẹ ơi cảm tạ huyền linh
Con được hưởng với trọn tình của Mẹ!

Amen!

Kim Oanh.
* Bồ Đào Nha 12, 13.5.2025 - Melbourne 13.5.2926
* Cảm ơn Anh Hy, Tuyết, Bích, Hường và  Hà cho Kim Oanh đồng hành trong Năm Thánh 2025 một chuyến đi đầy thương yêu và ý nghĩa nhất.

Một vài hình ảnh ở Fatima 


Xe đưa vào Làng Fatima, nơi có căn nhà của 3 trẻ em 

(Trước và cạnh căn nhà của 3 trẻ em )