Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)

 


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh

Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Phế Trạch của Ngô Dung.

Ngôi nhà sang trọng bỏ hoang
Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha m

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

 Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Thơ Ngây Trăng Mộng Mơ Hoa



Một mùa trăng mộng mơ hoa
Vai kề má tựa chung nhà thơ ngây
Trăm thương ngàn nhớ tóc mây
Bể dâu ly cách còn đầy hương mê...


MD.07/16/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Một Mùa Trăng & Bến Mê Ký Ức"
của TVS đa tài hoa thật quý Kim  Oanh


Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Trưởng Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Minh Triết - Cựu Đạo Trưởng Đạo Phiên An - Châu Gia Định (Trần Đình Phước)

(Kính tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết và các Cựu Hướng Đạo Sinh Đạo Phiên An,) 

Trưởng Nguyễn Minh Triết và tôi biết nhau từ những năm còn rất trẻ. Trưởng Triết lúc đó là Đạo Trưởng Đạo Phiên An, còn tôi là một Trưởng của một đơn vị trực thuộc Đạo Phiên An. 

Đạo là tên gọi một đơn vị trong tổ chức của Hội Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) gồm nhiều Liên Đoàn và Đoàn, một Đạo thường có từ vài trăm đoàn viên trở lên. Thiết tưởng cũng nên biết qua Phong Trào Hướng đạo là một Phong Trào Giáo Dục Thanh Thiếu Niên có phạm vi toàn cầu với mục đích góp phần phát triển thanh thiếu niên có được thân thể cường tráng, đạt được tiềm năng về trí tuệ, về xã hội và về tâm linh cho chính bản thân cũng như trở thành các công dân có trách nhiệm, trở thành các thành viên của cộng đồng địa phương, của quốc gia và của quốc tế". 

Phong trào dùng ‘Phương Pháp Hướng đạo’ là một chương trình giáo dục chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm cắm trại trong rừng và các trò chơi do Huân Tước Baden Powell sáng lập năm 1906 tại Anh quốc, rồi sau đó lan tỏa ra toàn cầu. 


Đạo Phiên An, thuộc Châu Gia Định thành lập vào năm 1965, được tách ra từ Đạo Bến Nghé do Trưởng Nguyễn Minh Triết có Tên Rừng là Sói Trầm Ngâm được Trưởng Tổng Uỷ Viên Hội Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Hữu Mưu ký quyết định giao trách nhiệm làm Đạo Trưởng.
Lúc ban đầu, Đạo Phiên An có 3 Liên đoàn và 3 đơn vị Đoàn, nhưng sau đó không lâu đã phát triển thành một trong vài Đạo có nhiều đoàn sinh trong vùng Sài Gòn và Gia Định. 
Địa bàn sinh hoạt của Đạo Phiên An gồm ba nơi là: Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, Vườn Tao Đàn, và Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Dưới sự dẫn dắt của Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết.

Đạo Phiên An đã tích cực tham gia mọi sinh hoạt do Hội HĐVN khởi xướng, đặc biệt là sinh hoạt ở Châu Gia Định. Trưởng Nguyễn Minh Triết là một Trưởng có nhiều khả năng trong việc ứng dụng phương pháp giáo dục Hướng Đạo, vì đã trải qua mọi khóa trại huấn luyện ở mọi cấp từ trong nước và ngoại quốc như: các khóa trại huấn luyện Bạch Mã, Bằng Rừng ở đồi Tùng Nguyên, cạnh hồ Than Thở, Đà-lạt và khóa huấn luyện ITTC ở Seoul, Đại Hàn. Nhờ khả năng và thành tích trong việc phát triển sinh hoạt Hướng Đạo trong giới thanh thiếu niên nên Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Hội Hướng Đạo Việt Nam đề cử các công tác sau: 
 - Năm 1967 là. Đại Diện Hướng Đạo Việt Nam tham dự trại Họp Bạn Hướng Đạo Quốc Tế tổ chức tại Jindalee, Brisbane, Queensland (Australia,) từ 28 Tháng 12, 1967 tới 06 Tháng 01, năm 1968. 
 - Năm 1969 tham dự trại Huấn Luyện ITTC (International Training The Team Course) tại Seoul, Đại Hàn và sau đó là thành viên trong phái đoàn Hướng Đạo Việt Nam do Hội Trưởng Phan Thành Hy và Tổng Ủy Viên Huỳnh Văn Diệp hướng dẫn tham dự Hội Nghị Trưởng Hướng Đạo Quốc Tế cũng tổ chức ở Séoul (Đại Hàn). Trên đường về nước phái đoàn ghé thăm hữu nghị Hướng Đạo Đài Loan và Hong Kong.


 - Năm 1970, Trưởng Nguyễn Minh Triết lại được tham gia vào Ban Tổ Chức Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn quốc tổ chức tại Suối Tiên (Thủ Đức) từ ngày 26/12/1970 đến ngày 30/12/1970. 

Trại Trưởng là Trưởng Tổng Uỷ Viên HĐVN Trần Văn Luợc, tên Rừng là Bò Lém. Trại mang tên Giữ Vững để kỷ niệm 40 năm thành lập Phong Trào HĐVN.Trong lễ khai mạc trại, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đại diện Ban Quản Trại hướng dẫn Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đi thăm toàn trại.

 Ngoài, ra, giữa tháng 06 năm 1969, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Trưởng Nguyễn Tuyên Thùy, nguyên Thiếu Tá Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, cũng là một Trưởng Hướng Đạo kỷ cựu biết Trưởng Nguyễn Minh Triết có nhiều khả năng về hướng đạo do được đào tạo có bài bản và nhiều kinh nghiệm về tổ chức, nên tin tưởng giao trách nhiệm tổ chức ra mắt Đoàn Thiếu Nhi Quân Đội Trường Bộ Binh Thủ Đức gồm tất cả con em quân nhân thuộc Trường Bộ Binh và Trại Gia Binh. Buổi lễ ra mắt thành công mỹ mãn dưới sự chủ toạ của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức Trong lãnh vực sinh hoạt cộng đồng và hoạt động xã hội,


Trưởng Nguyễn Minh Triết được hai phụ tá đắc lực của Đạo Phó Trưởng Huỳnh Văn Nhì và Trưởng Phụ Tá Trang Thế Phương đã dẫn dắt Đạo Phiên An tham gia các công tác như: - Mùa Hè năm 1966, Kha Đoàn Nguyễn Huệ tham gia giúp ban tổ chức cuộc thi Săn Bắn dưới đáy biển do Bộ Thanh Niên tổ chức tại Hòn Yến, Nha Trang. - Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Đạo Phiên An gồm Thiếu Đoàn Trương Cộng Định và Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định tiếp đón đồng bào chiến nạn tại Trường Chi Lăng 2, Gia Định. Các Trưởng và Đoàn sinh giúp Ty Xã Hội phân phát thực phẩm, quần áo, thuốc men và hướng dẫn sinh hoạt hướng đạo cho các thiếu nhi là con em của đồng bào chiến nạn. - Giúp Tỷ Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức cho các em mồ côi du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu. - Hợp tác với các đoàn thể bạn xây dựng các Trại Tạm Cư chung quanh khu vực Trường Pétrus Ký, Quận 5, Sài Gòn cho đồng bào chiến nạn Mậu Thân và Việt Kiều bị cáp duồng (Cap Youn) ở Nam Vang (Kampuchea)) chạy lánh nạn về. - Tổ chức lạc quyên vật chất, thuốc men, quần áo khi có Thiên Tai, Bão Lụt xảy ra. Đạo Phiên An đã hoạt động và phát triển rất mạnh với hơn 500 đoàn sinh và Trưởng phụ trách. Lệnh Tổng Động Viên của chính phủ sau Tết mậu Thân 1968 và Mùa Hè Lửa Đỏ 1972, khiến một số Trưởng phải nhập ngũ. Cũng trong năm này, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã tốt nghiệp Cao Học tại Học viện Quốc Gia Hành Chánh được trường cấp học bổng đi du học Hoa Kỳ theo chương trình đào tạo Tiến Sĩ để tăng cường cho Ban Giảng Huấn của trường. Do đó, sinh hoạt của Đạo Phiên An bị ảnh hưởng rất nhiều, vì thiếu Trưởng hướng dẫn. 

Đạo Phiên An tham dự Trại Họp Bạn HĐVN Toàn Quốc cuối cùng là Trại Tự Lực từ ngày 21/12/1974 đến ngày 25/12/1974. Trại nằm trên một khu đất rộng, bên cạnh Dòng Đồng Công, thuộc Xã Tam Bình, Huyện Thủ Đức, Tỉnh Gia Định. Sau ngày 30 Tháng 04, năm 1975, chính quyền mới cấm mọi sinh hoạt Hướng Đạo, trụ sở Hội HĐVN tại số 18 Đường Bùi Chu bị tịch thu. Đạo Phiên An, các Đạo khác và Phong Trào Hướng Đạo VN coi như không còn nữa!
Hiện nay, tại một số công viên ở Sài Gòn và tỉnh thành trong nước, vào cuối tuần xuất hiện sinh hoạt giống như hướng đạo ngày trước do các Cựu Trưởng HĐVN hướng dẫn. Chính quyền không ra lệnh cấm vả cũng không chính thức cho phép hoạt động. 


Hy vọng, trong tương lai không xa, Phong Trào Hướng Đạo sẽ được chính quyền xem lại và cho phép tái hoạt động. Cá nhân tôi, may mắn có dịp gặp Trưởng Nguyễn Minh Triết hai lần:
 - Lần thứ nhất tại Virginia vào Tháng 05, năm 2007, khi gia đình tôi tình nguyện giúp Ban Quản Lý Trại Truyền Thống 7 tổ chức tại đây, trùng hợp với Trưởng Nguyễn Minh Triết đi dự họp mặt Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành. Trước đó, gia đình tôi gồm: con trai, vợ tôi và tôi đã tham dự Trại Truyền Thống 4 tổ chức tại Orange County, Nam Cali vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 2003 
 - Lần thứ hai, khi gia đình tôi tham dự Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn Thế Giới, Thẳng Tiến 10 tổ chức từ 27 Tháng 06, năm 2014 đến 03 Tháng 07, năm 2014 tại Trại Strake, Thành Phố Houston (Texas). Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đầt trại thăm. Sau đó, khi trại bế mạc Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đón gia đình tôi về nhà ở một ngày, chở đi thăm các thắng cảnh ở Thành Phố Houston và dùng cơm tối tại một nhà hàng trong vùng. Hai anh em có dịp cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm Hướng Đạo ngày xưa, sau nhiều năm xa cách, tưởng chừng không bao giờ có thể gặp lại. 


Giờ đây! Anh Chị Em Đạo Phiên An tứ tán khắp nơi, kẻ còn, người đã giã từ cuộc chơi. Hầu hết đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, có người sắp sửa 90 tuổi, nhưng một số vẫn còn giữ mối dây liên lạc Hướng Đạo, và hẹn sẽ gặp lại các Trường Hướng Đạo đi trước để cùng nhau đưa hai tay lên hông “ Nhảy Lửa” và hát bài “ Giữ Chặt Mối Dây.” Theo tôi, trong bất cứ hoàn cảnh nào.Tinh Thần và Tinh Huynh Đệ Hướng Đạo vẫn luôn luôn bền vững. Đúng như câu châm ngôn của Hướng Đạo. "Hướng Đạo một ngày là Hướng Đạo Mãi Mãi - Once a Scout, always a Scout." 

 Trần Đình Phước 
 (Voi Chăm Chỉ - Đạo Phiên An)

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Quy Tín Ngâm 歸信吟 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)


Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Thơ ông chứa đựng nhiều nước mắt khi nói về tử mẫu và hiền phụ

Nguyên tác Dịch âm

歸信吟 Quy Tín Ngâm


淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân.

Dịch nghĩa

Khúc ngâm gửi thư về

Mực hoà nước mắt viết thành thư*
Gửi đến người thân xa vạn dặm
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại thân này.

Dịch thơ

Khúc Ngâm Gửi Thư Về


Mài mực bằng nước mắt
Ngàn dặm gởi người thương.
Thư gởi hồn cũng gởi,
Còn lại xác vô thường.


Quản Mỹ Lan & Con Cò
--------
Lời bàn thêm của Con Cò

*Người Tàu mài cục mực đen với nước trong cái nghiên. Vai chính trong bài thơ này là người nữ, đã dùng lệ thế nước để mài mực viết thư (lệ của người nam ít lắm, không đủ để mài mực). Yếu tố này không thực mấy cho nên không hợp với thơ Đường; có lẽ vì vậy mà có vài thi sĩ đương thời cho rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo).

Gửi Thư Về Ngâm Khúc.

Mục hòa lệ viết thơ,
Gửi tới người xa mờ.
Hồn cũng theo đi mất,
Còn thân ta thẫn thờ.

Lục Bát.

Lệ hòa mực viết thành thơ,
Gởi người yêu dấu xa mờ dậm muôn.
Hồn theo cánh gió đi luôn,
Thân ta bỗng chốc u buồn ngẩn ngơ.

Mỹ Ngọc.
May 28/2026.
***
Gởi Thơ Cho Người

Viết thư nước mắt mực hòa
Gửi người yêu dấu cách xa vạn đèo
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng nhiên cảm thấy đìu hiu phận mình!

Thanh Vân
***
Khúc Ngâm Gửi Thư Về

Mực hòa nước mắt, viết tờ thư,
Gửi người muôn dặm, chốn xa mờ,
Thư đi, hồn cũng đi theo mất,
Còn lại một mình, dạ ngẩn ngơ.

Bát Sách.
(Ngày 03/06/2026)
***
Khúc Ngâm Thư Về

Lệ tưới mực thành thư
Vạn dặm gởi người thân
Thư gởi hồn cũng gởi
Ngẩn ngơ trống rỗng thân.

Song thất lục bát

Cánh thư viết, lệ rơi hòa mực
Gởi người thân xa ngút dặm ngàn
Thư đi hồn cũng đi hoang
Ngẩn ngơ cảm thấy thân tàn rỗng không!

Lộc Bắc
***
Khúc Ngâm Thư Về

Mực hoà mắt đẵm viết lời thư
Gởi đến người xa chốn mịt mờ
Thư đi hồn phách thẫn thờ
Xác thân trống rỗng ngẩn ngơ một mình

Kim Oanh
***
Mực Hoà Nước Mắt 

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

歸信吟-孟郊 Quy Tín Ngâm – Mạnh Giao

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư                  Nước mắt đẫm mực nhoà,
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân           Gởi người vạn dặm xa.
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ          Thơ đi hồn nối gót,
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân Trơ trọi một thân ta.

Nguyên tác chép từ sách của thi nhân: 诗词 孟郊 归信吟
Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao 孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Thi Phẩm Hối - Minh - Cao Bính 唐诗品汇-明-高柄
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các từ khó:

Quy tín: thư gửi về nhà, thư báo tin quay về.
Ngâm: một thể thơ cổ, thường dùng để ngâm nga, bộc lộ tình cảm, nỗi lòng.
Lệ mặc: nước mắt làm ướt thỏi mực, hòa lẫn với mực.
Sái: vẩy, rảy, nhỏ xuống, thấm đẫm.
Tương ký: đem gửi, chuẩn bị gửi đi.
Vạn lý thân: người thân ở nơi xa cách vạn dặm.
Ngột nhiên: ngơ ngác, thẫn thờ, bất động như khúc gỗ.
Không nhất thân: thân xác trống rỗng, trơ trọi một mình.

Dịch nghĩa:

Quy Tín Ngâm Khúc Ngâm Khi Gởi Thơ Về Nhà

Lệ mặc sái vi thư Hòa nước mắt vào mực viết thành bức thư,
Tương ký vạn lý thân Để gửi cho người thân đang ở xa vạn dặm.
Thư khứ hồn diệc khứ Thư gởi đi rồi thì hồn cũng đi theo luôn,
Ngột nhiên không nhất thân Chỉ còn lại thân trơ trọi, thẫn thờ một mình.

Dịch thơ:

Gởi Thơ Về Nhà

Thể ngũ ngôn:

Mực lệ viết thành thơ,
Gởi người muôn dặm chờ.
Thơ đi hồn cũng mất,
Thờ thẩn thân bơ vơ.

Thể lục bát:

Lệ hòa vào mực viết thơ,
Gởi người muôn dặm mong chờ tin ta.
Thư đi hồn cũng bay xa,
Thẫn thờ trơ trọi thân già cô đơn.


詩囚:孟郊、賈島 。Thi tù: Mạnh Giao, Giả Đảo.
元好问《放言》称 “长沙一湘累,郊岛两诗囚”. 诗作多写世态炎凉, 民间苦难, 反映了唐朝从鼎盛时期走向衰落的士人心态.

Nguyên Hảo Vấn "phóng ngôn" xưng “ Trường Sa nhất Tương lũy, Giao Đảo lưỡng thi tù ”. Thi tác đa tả thế thái viêm lương, dân gian khổ nan, phản ánh liễu đường triêu tòng đỉnh thịnh thì kì tẩu hướng suy lạc đích sĩ nhân tâm thái.

Trong bài thơ Phóng Ngôn (Nói thẳng), Nguyên Hạo Vấn đã nhận định: "Trường Sa chỉ có một Tương lũy; còn Giao và Đảo là hai kẻ tù thi ca." Thơ ca acủa hai ông thường khắc họa những thăng trầm của thế sự cùng nỗi thống khổ của tầng lớp dân thường, qua đó phản ánh tâm thế của giới sĩ phu thời Đường trong giai đoạn chuyển giao từ đỉnh cao thịnh trị sang thời kỳ suy thoái.

Bình luận:

Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 4 câu 20 chữ nhưng dồn nén cảm xúc nhớ thương quê hương và gia đình, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật biểu cảm nhờ những điểm đặc sắc sau đây:

Câu đầu tiên mở ra một hình ảnh đầy ám ảnh. Tác giả không chỉ khóc, mà nước mắt rơi lã chã hòa cùng dòng mực trên giấy. Bức thư không viết bằng mực thường, nó được viết bằng nỗi đau và sự nhớ thương đọng lại thành giọt lệ. Thực tế không ai lấy nước mắt mài mực viết thơ, mà ta cần xem như một ẩn dụ của sự đau khổ chia ly trong nhiều tháng năm và cả cuộc đời.

Hai câu cuối là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Thông thường, thư đi là đã xong. Nhưng với Mạnh Giao, toàn bộ tâm can, linh hồn, tình yêu thương của ông đã đặt hết vào phong thư đó để gởi về người thân. Khi bức thư rời tay, ông cảm thấy phần "hồn" của mình như đã đi theo thư, vượt vạn dặm đường dài.

Thư khứ hồn diệc khứ đối xứng và tương phản mạnh mẽ với Ngột nhiên không nhất thân. Sự trống rỗng của thân xác (như một khúc gỗ vô hồn) nhấn mạnh cái giá của nỗi nhớ. Người viết thư đã rút cạn kiệt năng lượng sống và tinh thần của mình để gửi vào trang giấy.

Bài thơ không dùng từ ngữ hoa mỹ nhưng có sức nặng ngàn cân. Nó lột tả một cách trần trụi và đau đớn tình cảm gia đình, nỗi cô đơn của những người con ly hương trong xã hội ngày xưa.

Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ ra đời trong thời gian xa gia đình, ông dồn toàn bộ tâm trí và tình cảm để viết một lá thư gửi về. Hàn Dũ từng nhận xét về Mạnh Giao: Trời đất dường như cố tình làm cho ông ấy nghèo khổ, bế tắc để ông ấy dồn hết tinh huyết vào thơ ca.

Tô Thức trong bài "Đọc thơ Mạnh Giao" từng nhận xét về thơ Mạnh Giao như sau: Thơ từ phế phủ ra, ra liền sầu phế phủ. (Thơ từ ruột gan viết ra, viết ra lại làm sầu muộn ruột gan).

A Song of the Home-Bound Letter by Meng Jiao

Tears and ink blend, splashing onto the page to make a letter,
To be sent to my loved ones ten thousand miles away.
As the letter departs, my soul departs with it too,
Leaving behind only a dazed, hollow frame of a man.

Phi Minh Tâm
***
@ Ý kiến của Huỳnh Kim Giám:

...rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo.

Chỉ một bài từ tuyệt 20 chữ thôi mà mỗi người có một ý kiến!

書去魂亦去 thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 ngột nhiên không nhất thân.

Hồn đi theo lá thư rồi thì chỉ còn lại xác không hồn, nghĩa là người viết chết theo thơ. Đây không phải là khái niệm vô thường trong Phật học mà phản ảnh tâm tình của người kể chuyện.

Tô Thức viết thế này về thơ Mạnh Giao trong 《讀孟郊詩》"Độc Mạnh Giao thi"; “詩從肺腑出,出輒 愁肺腑” “ thi tòng phế phủ xuất, xuất triếp sầu phế phủ", có thể hiểu là lời thơ xuất phát từ cõi lòng, nỗi buồn cũng đi theo ngay lúc đó.

肺腑=phế phủ (phổi, bộ đồ lòng) là một khái niệm người Tàu dùng để nói đến tình cảm sâu đậm, chân thật từ đáy lòng. Nếu Tô Đông Pha hiểu thơ họ Mạnh như thế thì làm sao mà nghĩ nhạt nhẽo? Nhưng thôi, người đọc không phải là Tô Thức thì hiểu bài thơ như thế nào?

歸信吟=Quy tín ngâm nghĩa là gì? Tín là thư, quy là trở về và quy tín có nghĩa là thư viết về nhà. Viết cho ai? Từ 親=thân cuối câu nhì cho người đọc hiểu rằng đây không phải là thư tình mà là thư cho thân nhân, gia dình. Nếu người đọc tò mò hỏi AI " 歸信" là gì thì sẽ bị đưa đến một khái niệm tôn giáo có lẽ chưa có thời Đường! Thi nhân đi đâu, làm gì mà phải buồn đến độ mực hòa với nước mắt? Mạnh Giao chưa hề bị đi đày nên người ni chỉ có thể đoán là nhà nho lại thi rớt lần nữa! Nếu bối cảnh của bài thơ là như thế thì có nên nói rằng tâm lý của một nhà nho thất chí nhạt nhẽo ?!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ nhạt nhẽo với ngay hai chữ đầu tiên của câu 1. lệ mặc nghĩa đen là lấy nước mắt mài mực hoặc nước mắt hòa vào mực. Do đó cần nhiều nước mắt mà phải người nữ mới có đủ. Thực tế thì có ai mà làm thế bao giờ! Lấy nước mắt hòa mực phải có đồ hứng. Đây là một bài thơ nặng ký dù chỉ có 20 chữ, nên ta phải có cách hiểu khác cho hợp lý hơn.

Lệ mặc là một ẩn dụ có thể hiểu theo hai cách khác nhau. hoặc là những giọt nước mắt làm ướt thỏi mực, hoặc chính những giọt nước mắt ấy đóng vai trò như mực viết. Động từ vãi diễn tả dòng lệ tuôn trào vô tận. Ở đây thi nhân đã dùng phép cường điệu lấy nước mắt thay thế cho tình cảm của mình. Tình cảm dâng trào khi bắt đầu viết và không sao kìm hãm được trong lúc viết nên như hóa thành nước mắt hoà vào mực trôi vài chữ.

Trong hai câu kết thi nhân, cho biết đã để hết tâm tình vào thơ. Thơ đi rồi chỉ còn lại thân xác không hồn. Để hiểu vì sao tình cảm của thi nhân với gia đình lại nhiều đau khổ như thế. Ta nên biết qua về cuộc đời lận đận của ông. Thi đậu lúc đã già, chức vụ nhỏ việc nhàm chán, nghèo không phụng dưỡng được mẹ già, 3 con chết yểu vì thiếu thốn, chết trên đường đi nhậm chức mới vợ không có tiền làm đám ma, phải nhờ bạn bè (trong đó có Hàn Dũ người quý mến và giúp đỡ ông) cho tiền chôn cất…pmt

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Một Mùa Trăng

 

Mở cửa tìm ánh trăng xuân
Đón lấy hương gió bâng khuâng giao mùa
Khơi lại vương vấn thời xưa
Ấp yêu choàng lấy chợt vừa đâu đây

Cạn chén hương vị nồng say
Luyến lưu chưa kịp môi cay đắng lòng
Buông dòng tư tưởng hư không
Cài then đóng cửa tim hồng vì ai

Xót xa hạnh phúc an bàì
Căn nhà k​ý​ ức chia hai ngăn đời
Ngậm ngùi bắt bóng mù khơi
Trăng tàn canh vắng tình vời vợi xa....

Trăng xuân lặng lẽ rời ta
Tình trầm ngậm ngải trăng già vẫn son


Kim Oanh
Đêm trăng 2026