Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Thiếu Đoàn Đống Đa - Hướng Đạo Việt Nam Đạo Phiên An - Châu Gia Định

(Kính Tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết, Đạo Trưởng Đạo Phiên An, các Anh Chị Trưởng và các Hướng Đạo Sình Đạo Phiên An)

Thiếu Đoàn Đống Đa, Đạo Phiên An, Châu Gia Định được thành lập vào năm 1967. Thiếu Trưởng là Trưởng Phan Hùng Tiến. hai Trưởng Phụ Tá là Nguyễn Văn Trí và Trần Đình Phước.Cả ba chúng tôi đều được Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết đề cử theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu. Lúc này, tình hình chiến sự đang sôi động, nên các Khoá Huấn Luyện của Hội Hướng Đạo đến tổ chức tại Thảo cầm Viên, Sài Gòn vào hai ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật cuối tuần, chia ra làm hai lần.

Tôi được theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu Khoá Trần Quốc Toản 15 vào 4 ngày 5, 6 và 12, 13 Tháng 07, năm 1967 do Trưởng kỳ cựu của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam làm Trại Trưởng. Đó là Trưởng Lê Mộng Ngọ, tên Rừng là Ong Lắm Mật. Các học sinh Trường Trung Học Công Lập Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định đều không thể nào quên Trưởng, vì Trưởng là Tổng Giám Thị có tiếng là kỷ luật và nghiêm khắc với học sinh.

Thiếu Đoàn họp mặt vào mỗi Chúa Nhật từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Quận Bình Thạnh, Tỉnh Gia Định. Ngoài những sinh hoạt Hướng Đạo thường lệ như học luật, lời hứa, ca hát, kỹ năng chuyên môn Morse, Sémaphore, nút dây, dựng lều, cứu thương…Thiếu Đoàn Đống Đa còn tham gia các hoạt động thiện nguyện, phục vụ cộng đồng và công tác xã hội.

Đặc biệt, cùng Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định đón tiếp, phân phát thực phẩm, thuốc men cho bà con lánh nạn Tết Mậu Thân năm 1968 tại Trường Tiểu Học Đông Ba, thuộc Ấp Đông Ba, Đường Trần Tế Xương, Quận Phú Nhuận, Tỉnh Gia Định, gần trường Trung Học Tư Thục Đạt Đức. Công tác tiếp đến, giúp Ty Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu cho các em mồ côi.

Giữa Năm Mậu Thân, Trưởng Phan Hùng Tiến và tôi tình nguyện vào Không Quân VNCH, còn Trưởng Nguyễn Văn Trí tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH. Vì thế! Thiếu Đoàn Đống Đa không có Trưởng hướng dẫn các em sinh hoạt.

Để giúp các em không bị gián đoạn. Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết và Đạo Phó Huỳnh Văn Nhì thay phiên hướng dẫn các em. Nếu tuần nào hai Trưởng bận công việc không đến được thì các em sinh hoạt theo:”Hàng Đội Tự Trị”.

Tôi nhập ngũ Khoá 7/68 Không Quân vào ngày 30 Tháng 09, năm 1968. Trước đó, các Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân đều được gửi đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân, Nha Trang. Nhưng vì nhu cầu cấp thiết Khoá 7/68 KQ và vài Khoá thuộc tài khoá năm 1968 được gửi đi học giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Nhờ thế! Tôi có dịp trở lại sinh hoạt với các Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đống Đa mỗi khi được đi phép vào cuối tuần.

Thấm thoát đã hơn nửa Thế Kỷ trôi qua. Giờ đây, các Trưởng và các em đều, hoặc ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy. Kẻ còn, người mất, tứ tán khắp mọi nơi. Tôi chỉ còn gặp lại vài Trưởng và vài em Hướng Đạo Sinh ngày xa xưa đó!

Những kỷ niệm sinh hoạt Hướng Đạo, những kỳ trại Đoàn, Đạo ở Long Thành (đất nhà của Song Thân Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết), Suối Lồ Ồ, Long Hải, Vũng Tàu, Suối Tiên, Con Nai Vàng Ngơ Ngác (Thủ Đức), Bình Nhâm ( Lái Thiêu), Thanh Đa (Bình Quới)…

Các em được tham gia các trò chơi theo Phương Pháp Hướng Đạo rất bổ ích, những bài hát ngắn vui tươi, những đêm thanh vắng trong ánh lửa bập bùng, cùng ngồi tĩnh tâm, tâm sự, nói lên những suy nghĩ từ đáy lòng về thời gian tham gia Hướng Đạo đã học hỏi được những điều gì hữu ích cho bản thân bên lửa tàn, mà kỷ niệm này không thể nào quên được.

Đặc biệt, những Hướng Đạo Sinh sáng sớm hôm sau được làm lễ Tuyên Hứa, Khi đưa bàn tay trái đặt lên lá cờ Hướng Đạo, tay phải giơ cao chào 3 ngón và môi ấp úng xúc động không thể thốt ra lời:

Tôi lấy Danh Dự hứa cố gắng hết sức:

- Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi.
- Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào.
- Tuân theo Luật Hướng Đạo.
Luật Hướng Đạo (trước năm 1975)

1-Hướng đạo sinh trọng Danh Dự để ai cũng có thể tin lời của Hướng ĐạoSinh.
2- Hướng Đạo Sinh trung thành với Tổ Quốc, cha mẹ và người cộng sự.
3- Hướng Đạo Sinh có bổn phận giúp ích mọi người bất cứ lúc nào..
4- Hướng Đạo Sinh là bạn của khắp mọi người và xem các Hướng Đạo Sinh khác như ruột thịt.
5 -Hướng Đạo Sinh lễ độ và liêm khiết.
6- Hướng Đạo Sinh yêu thương các sinh vật.
7- Hướng Đạo Sinh vâng lời cha mẹ, huynh trưởng mà không biện bác.
8- Hướng Đạo Sinh gặp khó khăn vẫn vui tươi.
9- Hướng Đạo Sinh tằn tiện của mình và của người.
10 -Hướng Đạo Sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Chỉ những Hướng Đạo Sinh được Tuyên Hứa mới chính thức được công nhận là Hướng Đạo Sinh của Phong Trào.

Các Hướng Đạo Sinh dễ nhận ra nhau bằng tiếng huýt gió ” Là La Lá La Là Lá Là Là Là Là La”.Khi gặp nhau đưa bàn tay trái ra bắt và giơ cao tay phải chào 3 ngón (trỏ, giữa và đeo nhẫn) tượng trưng cho 3 điều trong Lời Hứa Hướng Đạo. Ngón cái để trên ngón út, tượng trưng cho kỷ luật và đoàn kết. Người mạnh bảo vệ kẻ yếu đuối và cô thế.

Châm Ngôn Hướng Đạo luôn luôn nằm lòng:

“Once a Scout, Always a Scout”
Xin gửi vài hình ảnh sinh hoạt với các em Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đồng Đa trong một lần tôi được về phép đặc biệt cuối tuần vào Chúa Nhật 12 Tháng 01, năm 1969, lúc đó tôi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức và vài hình ảnh Hướng Đạo “Ngày Xưa Còn Bé” của tôi.





Voi Chăm Chỉ Trần Đình Phước
(Đạo Phiên An - Châu Gia Định)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Trung Thu Và Má ...

   

Nhắc đến ngày Trung Thu và những dòng cảm xúc về Mẹ, người ta thường nhớ ngay đến áng văn tràn đầy tình cảm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, mang tên Bông Hồng Cài Áo. 

"Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta..."

Đoạn văn ấy thấm đẫm chất thơ, dịu dàng và sâu lắng như một vầng trăng tỏa sáng và hình ảnh người Mẹ đẹp vô ngần

Từ ý niệm thiêng liêng đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Thật diễm phúc cho những ai đang còn Mẹ.

"Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn"

Tôi nhớ ngày con gái tôi còn bé, tôi đưa cháu học tiếng Việt cuối tuần. Khi đón cháu về,trên xe cháu tự hào khoe với tôi. Mẹ ơi, hôm nay Dì Sáu Phượng dạy,(chị tôi là cô giáo dạy tiếng Việt) con học thuộc làu bài thơ. Tôi bảo con đọc và tôi bật cười vì ...

"Năm xưa tôi còn bé, 
Mẹ tôi mới chào đời, 
Lần đầu tôi mới hiểu 
Thân phận kẻ mồ côi. 

Bạn có biết sao tôi cười không?
Cháu đã đọc nhầm chữ "qua đời" thành chữ "chào đời". Hai chữ này có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược 
Vì sự nhầm lẫn ngây ngô của trẻ thơ, câu thơ của cháu bỗng nhiên mang một ý nghĩa rất nghịch lý: Mẹ mới sinh ra "chào đời" mà người con lại thành "kẻ mồ côi". Thực chất, đây là những dòng thơ vô cùng xúc động trong bài Mất Mẹ (hay còn có tên là Khóc Mẹ) của nhà thơ Xuân Tâm:

"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận kẻ mồ côi..."

Đi học về mà con tự hào khoe đã "thuộc làu" bài thơ để tặng mẹ thì đúng là một kỷ niệm vừa ấm áp, vừa buồn cười, vừa đáng yêu vô cùng. 

Má của con ơi...

Như đêm nay bầu trời thật sáng, con lại thấm " thân phận kẻ mồ côi" .Bên vầng trăng con thì thầm nhớ Má. Mới đó mà ngày Má qua đời đã 24 năm rồi

Trăng ơi vằng vặc trên cao
Có nghe tiếng má ngọt ngào ầu ơ
Lặng chờ cho đến bao giờ
Giọt rơi giọt tủi bơ vơ một mình

Ngày Tết Trung Thu chính là ngày Tết của đoàn viên, ngày mà vầng trăng rằm tỏa sáng tròn đầy nhất trên bầu trời. Đứng dưới ánh trăng ấy, những người con viễn xứ hay những ai may mắn còn mẹ đều không khỏi bồi hồi khi nghĩ về đấng sinh thành.
Có phải vầng thơ hay đoạn văn trong tác phẩm ấy đang gợi lại cho con những kỷ niệm sâu sắc trong lòng. Những hoài niệm đón Trung Thu thanh bình ngày xưa bên gia đình mình.

Năm nay ngày giỗ Má cũng đúng ngày Tết Trung Thu, con cũng được an ủi phần nào khi nhớ về ngày tháng xa xưa, một hồi ức khó quên, một kỷ niệm này lại làm con nhớ đến khoảng thời gian ấm áp ấy. 

Cả nhà quây quần quanh manh chiếu trải ở sân vườn, cùng nhau đàn hát dưới ánh trăng, những bài ca nhi đồng, chóp chép hạt dưa, hạt sen rang, bánh mứt ngọt ngào hương vị, Như bài hát Rước Đèn Tháng Tám rộn rã niềm vui của Nhạc Sĩ Đức Quỳnh:

"Tết Trung Thu
Bánh quà đầy mâm
Em bé nhà
Ưa đứng quây quần
.....
Hạt dưa
Nghe cắn nổ lốp đốp
Người vui hoan
Nói cười hấp tấp
Bao tấm lòng
Mừng đón trăng rằm"
....
Tít trên cao dáng tròn xinh xinh.
Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng.
Rằm tháng tám bóng hằng trong sáng.
Em múa ca vui đón chị Hằng."


Nhất là hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm con, dáng Má ôm đàn Mandolin, đàn và reo dòn dã. Cả nhà hòa tiếng hát Thằng Cuội của Nhạc Sĩ Lê Thương. Phải chăng Má là chị Hằng của con, để con được " múa ca vui đón Má". Giờ đây tâm trạng con cũng không khác chi chú Cuội đang ôm mãi "một mối mơ"... 

"Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ
....
Mười lăm tháng Tám trời cho
Một ông trăng sáng thật to
Các em thích cười muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang"

Thật là một niềm hạnh phúc trọn vẹn và ấm áp vô cùng. Việc  tiếp tục truyền ngọn lửa văn hóa từ thế hệ con sang thế hệ cháu, rồi đến cả các em thiếu nhi trong cộng đoàn, chính là cách giữ gìn cội nguồn bền vững nhất của người Việt nơi hải ngoại.
Hình ảnh người bà, người cô cùng các em nhỏ rước đèn, trong đêm rằm gợi lên sự nối tiếp thiêng liêng đầy tình gia đình và nghĩa đồng bào. 

'Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
.....
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính
Em rước đèn này đến cung trăng"

Dù không còn ở quê nhà, nhưng chính những lớp học tiếng Việt cuối tuần và những đêm Trung Thu như thế này đã tạo nên một không gian văn hóa Việt Nam thu nhỏ, thanh bình và đầy ắp tiếng cười trẻ thơ.
Nhìn các cháu nhỏ tung tăng cầm chiếc lồng đèn giấy kiếng, bập bẹ hát những bài đồng dao tiếng Việt, chắc hẳn trong lòng các phụ huynh cũng đầy ắp niềm tự hào và xúc động.
Chính Ba Má đã gieo vào lòng con trẻ sợi dây yêu thương thiêng liêng này, từ đời này qua đời khác trong con cháu đời nay.

Má ơi, đêm nay dưới ánh trăng con khẩn nguyện cho Má của con thật vui và hạnh phúc, trong từng lời  hát con đang thì thầm với Má. Má là ánh trăng soi sáng đời các con cháu và dẫn dắt chúng con, để chúng con được  tiếp bước Ba Má đi trong thánh thiện và yêu thương nha Má của con!
Thương yêu con gửi về Má!

Con gái Chín của Má.
Kim Oanh
Giỗ lần thứ 24 của Má 2026
 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Những Đóa Hoa Đời - Huy Văn(HVC)

 

Tôi gửi tặng Em đóa hoa lòng
Dù đã qua rồi tuổi đợi mong
Vẫn còn đâu đó tim thổn thức
Rồi Xuân sẽ đến lúc tàn đông.

Tôi giữ cho đời đóa tình thương
Là hoa tôi hái giữa chiến trường
Một thời chinh chiến buồn đất nước
Hoa Tình Thương vẫn thắm nồng hương.

Tôi mang cho người đóa hoa mơ
Đẹp như tâm tưởng lúc ban sơ
Mang mùa trăng cũ vào giấc ngủ
Thả mộng khải huyền trên nhánh thơ.

Tôi ép trong lòng cánh hướng dương
Làm nguồn đuốc sáng lúc soi đường
Cho thiên thu tỏ lòng Sắp Sẵn
Tâm an, thân lạc giữa vô thường.

Tôi vẫn vun trồng hoa Bách Hợp
Trong vườn Hướng Đạo đến cuối đời
Ba ngón chỉ trời, lòng tuyên hứa
Mang trái tim yêu tặng muôn nơi.

Tôi vẫn hằng mong đóa từ tâm
Là lòai hoa nở rất âm thầm
Trong Anh, trong Chị, trong cuộc sống
Sẽ mãi tỏa hương suốt đời trần.

Huy Văn

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long Ca

Trích từ CD "Tình Khúc Văn An & Vũ Nhân", gồm 10 ca khúc do ca sĩ của các đài phát thanh trình bày.

01. Thu Tàn (Văn An & Vũ Nhân) - Minh Đỗ đơn ca 
02. Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long đơn ca 
03. Sóng Tình (Vũ Nhân) - Tuyết Hằng đơn ca 
04. Kìa Vầng Trăng Lên (Văn An) - Minh Ngọc đơn ca
05. Tình Gửi Một Đêm Trăng (Vũ Nhân) - Từ Hà đơn ca 
06. Tình Thắm (Vũ Nhân) - Mai Hương đơn ca 
07. Chiều Đợi Chờ (Văn An) - Thanh Hằng đơn ca 
08. Màu Ngọc Bích (Vũ Nhân) - Thục Hiền đơn ca 
09. Cung Đàn Nhớ Nhau (Vũ Nhân) - Kim Tước đơn ca 
10. Tình Mơ (Văn An & Thanh Hằng) - Văn Huy & Thanh Hằng song ca 

Ghi chú: 
Từ Hà là ca sĩ trong chương trình Nhạc Chủ Đề do Vũ Thành An & Nguyễn Đình Toàn sáng lập. Từ Hà và Nguyễn Đình Toàn có thể là cùng một người. 
Minh Đỗ & Minh Ngọc là ca sĩ của đài vô tuyến điện Hà Nội trong thập niên 1940. 
Thục Hiền là ca sĩ trong ban nhạc Thanh Bình do nhạc sĩ Vũ Nhân điều khiển. 
Vũ Nhân và Văn Như Hoàng Băng là cùng một người. 
Văn Huy và Văn An là cùng một người. 
Thanh Hằng là ca sĩ, Thủ Khoa kỳ thi hát của đài phát thanh Hà Nội, 1953. 
Kim Tước, Mai Hương, Ngọc Long & Tuyết Hằng là ca sĩ đài phát thanh Sài Gòn.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Mãi Gọi Tên...

 

Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Hãy giữ tình ta mãi vững bền.
Gói chút hương nồng trong nếp áo,
Giữ lòng nguyên vẹn thuở kề bên.

Dẫu lối đường đời muôn ngả rẽ,
Mưa chiều giá lạnh bến hoàng hôn.
Người ơi nghe tiếng lòng tha thiết,
Nỗi nhớ âm thầm mãi gọi tên
.

Kim Oanh
9. 2026

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Những Con Tàu Đã Kéo Người Việt Ra Khỏi Cõi Chết - Phạm Sơn Liêm


Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng.
Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước.
Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay.
Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa.
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy…
đã có hai con tàu mang hình dáng của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay…
những người từng được vớt lên từ lòng biển chết ấy còn nhớ không?
Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi?
Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại:
“Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô.
Đứa con gái tôi mới ba tuổi nằm mê man vì sốt.
Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc:
-Mình ơi… chắc gia đình mình chết ngoài biển rồi…
Tôi không trả lời được.
Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la lớn:
- Slowly! Slowly!
- Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước.
Đứa bé đã bất tỉnh.
Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong.
Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay:
- Trời ơi… con tôi sống rồi… con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt.
Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau.
Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière — “Đảo Ánh Sáng.”
Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể:
“Tôi bị sốt rét và kiệt sức.
Tưởng mình chết rồi.
Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm chậm:
- No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh.
Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào.
Không hỏi họ giàu hay nghèo.
Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur — con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình:
“Nếu không có Cap Anamur…
thì hôm nay làm gì có ba.
Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh.
Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức…
Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng cứu gia đình mình.
Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa từng quen biết. Họ không cùng màu da.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng quê hương.
Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam.
Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá.
Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và
Île de Lumière
cùng
Cap Anamur
chính là hai tượng đài như thế.

Phạm Sơn Liêm