Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Vương Cung Thánh Đường - Bồ Đào Nha, Ngày 12,13 Tháng 5 Năm 2025

(Vương Cung Thánh Đường, Fatima12/5/2025) 

Từ xưa nay chỉ nghe trong nhạc nhắc 4 chữ" Vương Cung Thánh Đường". Tháng 5.2025 tôi được tận mắt nhìn được tất cả những di tích mầu nhiệm, trang nghiêm, kiến trúc đồ sộ còn tồn tại nơi đây.
Nơi đây là đâu, và ý nghĩa như thế nào? Theo tài liệu tìm hiểu:

"Đền Thánh Fátima (Santuário de Fátima), tên chính thức là Đền Đức Mẹ Mân Côi tại Fátima (Santuário de Nossa Senhora do Rosário de Fátima), là một trung tâm hành hương được cung hiến cho Đức Mẹ Fátima tọa lạc tại thành phố Fátima, quận Ourém, Bồ Đào Nha.
Đền Thánh Fátima bao gồm nhiều công trình Công giáo trong đó Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi (Basílica de Nossa Senhora do Rosário) là công trình trọng điểm.

Bên cạnh Vương Ccung Thánh Đường, Đền Thánh còn có:
- Nhà nguyện Cầu Nguyện Liên Lỉ (Capela do Lausperene),
- Một cây Sồi lớn đứng gần nơi mà Đức Mẹ hiện ra vào năm 1917,
- Một bức tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu (Monumento ao Sagrado Coração de Jesus)
- Nhà nguyện Đức Mẹ Hiện Ra (Capelinha das Aparições),

Bao quanh khu vực được cho là nơi 3 chứng nhân: Lúcia dos Santos, Francisco và Jacinta Marto thấy Đức Maria Đồng trinh hiện ra lần đầu tiên với mình.
Ngoài ra còn có nhiều công trình kiến trúc và tượng đài khác được dựng lên để kỷ niệm những năm mừng kính phép lạ tại Fátima.

( Ba đứa trẻ và Cây Sồi nơi Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất tại Fatima. 13-05-1917)

Nhà nguyện nơi Đức Mẹ hiện ra, được xây dựng ngày 28/4/1919, có diện tích khá nhỏ chỉ dài 3,30 mét, rộng 2,80 mét và cao 2,85 mét, được xây chủ yếu bằng đá và vôi, lợp ngói bên trên.
Trung tâm thị trấn là Lễ đài Thánh Tâm Chúa Giêsu (1932), ngắm Đền Valhnos.
Phía đối diện đền thánh có Vương Cung Thánh Đường Thiên Chúa Ba Ngôi được khánh thành sau năm 1953 để đáp ứng nhu cầu hành hương và phụng tự quy mô lớn thay cho Đền Thánh Fátima với sức chứa có giới hạn".

Cova da Iria là một địa điểm nằm trong thành phố Fatima, thuộc quận Santarém, miền Trung Bồ Đào Nha. Nơi đây nổi tiếng trên toàn thế giới.vì là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với ba em vào năm 1917, được biết đến với tên gọi Đức Mẹ Fatima.

Ngày 12 và 13 tháng 5 luôn là những ngày đặc biệt ở Fatima, nơi hàng ngàn người hành hương đổ về để mừng Đức Mẹ hiện ra ở Cova da Iria.
(Từ nguồn Wikipedia). 

 

Rất nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo và du khách từ khắp mọi nơi đổ dồn về thánh địa Fatima này. Hình như tôi có được duyên lành với địa danh linh hiển Fatima, nên tôi có mặt ở đây đúng vào ngày Thánh Lễ mà không hề biết, cứ ngỡ các bạn rủ tôi đi du lịch thôi.

Trong năm ấy, là Năm Thánh cứ 25 năm mới có một lần, Tất cả những người trong đạo, họ rất tha thiết đi Hành Hương. Đã nhiều lần tôi ao ước được đến Đất Thánh, nơi Mẹ hiện ra để tôi được tạ ơn Mẹ, Người đã ban phép nhiệm mầu cứu thoát con tàu tôi trong tay của tử thần.

( Chiều 12.5.2026)

Vào  11.5.2025, tôi cùng các bạn trong ca đoàn và cô bạn nhỏ, tất cả 6 người cùng đáp chuyến bay đến Bồ Đào Nha, phi trường Lisbon.Thủ đô Lisbon cách Fatima khá xa 142km, chúng tôi có xe Taxi đưa về khách sạn ở Đất Thánh Fatima vào một buổi tối.
Thành phố vắng im lìm, tôi không mường tượng cứ ngỡ như mình đến đây du lịch cầu nguyện thế thôi.

Sáng hôm sau 12.5.2025 vừa bước khỏi cửa khách sạn, tôi ngỡ ngàng, ôi người đâu mà đông và tấp nập thế này... Có những đoàn cùng đi chung, cầm cờ của từng nhóm khác nhau. Khách Sạn, nhà trọ không còn chỗ trống, họ cắm lều, Caravan trong ngăn nắp và trật tự.
Đến quảng trường, càng ngạc nhiên hơn, không ngờ tôi có thể chiêm ngưỡng một khu đất Thánh thật uy nghi, rộng lớn và thiêng liêng.

Đêm đó số lượng khoảng hơn 400,000 người đến từ khắp nơi trên thế giới, tụ hội về đây tham dự Thánh Lễ. Thực ra không có gì đáng nói, nhưng mọi người đã tụ họp với một thái độ thân thiện, cởi mở cho dù không cùng màu da, không phân biệt chủng tộc, không phân biệt tuổi tác, họ tự giữ sự trật tự và an toàn. Quả thật không phải là điều đơn giản.
Fatima có những thông điệp từ một tôn giáo tạo thành một niềm tin, một đức tin cho con người, sống trong tình thương yêu đùm bọc, thân thiện và nhân nhượng lẫn nhau. Có những đức tin mình chỉ học hỏi được khi nhìn thấy những người khác biểu lộ đức tin đó.


Những ngọn nến thắp lên, không chỉ là một tia sáng trong đêm mà còn tượng trưng cho đức tin và lòng sùng kính, dìu dắt ta đi trong cuôc sống. Tại nơi này, với đức tin mạnh mẽ như được kết nối bởi ánh sáng và sự bảo vệ của Đức Mẹ, tâm trở nên bình an và lòng vui phơi phới...

Phải nói là đêm nay cả một rừng người trong ánh nến huyền diệu thiêng liêng. Vô cùng xúc động vì cách nay 46 năm, đêm nay cũng là đêm tôi được đặt chân đến bến bờ tự do ở Mã Lai ngày 12.5.1979.
Tạ Ơn Đức Mẹ cho con được sống trong ánh sáng ấm áp đang ôm ấp lấy anh chị em chúng con!

Đêm nay 13 tháng 5, dưới cơn mưa, đứng từ trên cao nhìn xuống, cả rừng dù dù đủ sắc. Tôi lo ngại sức khoẻ vì đây là điểm đến đầu tiên, tôi còn đi một chuyền dài đến Bắc Âu. cô em đi chung bảo, chị đừng lo vì cách nay hơn 100 năm cũng mưa thế này, cầu nguyện Mẹ, mưa sẽ tạnh ngay. Tôi cầu nguyện ngay. Ồ, thật lạ lùng, tôi vừa dứt lời nguyện cầu cơn mưa chấm dứt. Tôi là người "đạo theo" tôi chưa bao giờ lại cảm thấy rõ ràng Đức Mẹ lại đến gần tâm hồn tôi, Mẹ nghe tiếng thì thầm trong tôi đến thế.


Với số người tham dự Thánh Lễ 13 Tháng 5, các tín hữu trên toàn thế giới kỷ niệm lễ Đức Mẹ Fatima, đặc biệt tại Đền Thánh Fatima ở Bồ Đào Nha Lễ này là để tưởng nhớ sự kiện Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn cừu vào năm 1917.

Tạ ơn Mẹ đã cho con thông suốt, thu hút lòng tin yêu, phép nhiệm mầu, con thấu hiểu hơn về đức tin của những người tề tựu về đây, nơi họ đã làm mới tâm hồn con và suy nghĩ của con. Tất cả đều qua tình yêu bao la của Mẹ! 

Cũng đêm nay Mẹ đã nghe tiếng con van xin, Mẹ đã dang đôi tay ôm ấp, xoa dịu lo lắng, nỗi đau và cho con một sức khoẻ đề tiếp tục sống một  đời sống chứng nhân. 


Tình Mẹ Fatima đầy ơn phúc
Luôn nâng đỡ con những lúc khổ đau
Hồng Ân Mẹ như dòng sữa ngọt ngào
Ru con ngủ bài ca dao êm ái
Mẹ êm dịu như suối nguồn tuôn chảy
Tắm mát cuộc đời mãi mãi yêu thương
Là vầng trăng thanh soi sáng đêm trường
Cho đàn con trên bước đường ly xứ
Fatima đêm nay gió mưa bất tử
Muôn ngàn người tề tụ trở về đây
Những ngọn nến trên tay lời khấn nguyện
Sưởi ấm lòng chuyền hơi ấm đức tin
Mắt rưng rưng...Mẹ ơi cảm tạ huyền linh
Con được hưởng với trọn tình của Mẹ!

Amen!

Kim Oanh.
* Bồ Đào Nha 12, 13.5.2025 - Melbourne 13.5.2926
* Cảm ơn Anh Hy, Tuyết, Bích, Hường và  Hà cho Kim Oanh đồng hành trong Năm Thánh 2025 một chuyến đi đầy thương yêu và ý nghĩa nhất.

Một vài hình ảnh ở Fatima 


Xe đưa vào Làng Fatima, nơi có căn nhà của 3 đưá trẻ

(Trước và cạnh căn nhà của 3 đứa trẻ)
 


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Tình Yêu Má!


Đêm dần buông nơi hàng hiên vắng
Lòng nghĩ gì dưới ánh trăng thanh
Gió nhớ ai chao đọng lay cành
Hay ta nhớ ngày xanh tuổi nhỏ

Nhớ một đời Má Ba khốn khó
Trọn khối tình vui có bên nhau
Vượt biết bao giông tố ba đào
Chỉ mong ước đời sau hạnh phúc.

Và... sông có khúc người có lúc
Bởi yêu con chẳng phút nghỉ ngơi
Theo dòng định mệnh xa trôi
Nơi xứ lạ vun bồi công sức

Mong cháu con hưởng đức sống đời
Rèn tài trí thành người hữu dụng
Tâm nhân ái khoan dung độ lượng
Không uổng công nuôi dưỡng sinh thành.

Mother's Day là ngày hiếu hạnh
10 tháng 5 chạnh nhớ Má nhiều
Lời nguyện cầu dâng Má bao nhiêu
Cũng không đủ tình yêu của Má!

Kim Oanh
Mother's Day 10.5.2026


Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Cánh Hoa Dâng Mẹ!

 

Có những chiều nghe biển hát
Rộn ràng cát cũng nghêu ngao
Trùng dương xanh ngát pha màu 
Dạt dào tràn bờ ký ức.

Vọng thức từ tiếng chuông ngân
Được sống chứng nhân trong đời
Tình Mẹ tha thiết khôn ngơi
Bao la trùng dương vời vợi

Bầu trời mở ra lối mới
Vòng tay ấm áp thiêng liêng
Hồng ân siêu nhiên huyền diệu
Cạnh Mẹ hiển thiếu thốn chi

Tháng 5 Mân Côi xin quỳ
Dâng lên những cánh hoa tâm
Âm thầm câu kinh chúc tụng
Bên Mẹ khấu phục. Tạ Ơn!


Kim Oanh
*Tháng 5 Vượt biển bình an 1979
 *Tháng 5 Mân Côi 2026

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Bóng Thu!

Mang theo nỗi nhớ xuyến xao
Bao mùa lá đỗ nắng vàng chiều rơi
Bóng thu lặng lẽ bên đời
Chờ người diệu vợi suốt thời biết chăng


Bao chiều men theo ngõ vắng
Lá thay màu bóng lẵng lặng thềm hoang
Mong người diệu vợi về ngang
Đúng mùa hẹn ước lá vội vàng chín rơi

  

Đêm bóng mỏi mòn tàn hơi
Sầu dâng chồng chất trăng lơi cuối ngàn
Người diệu vợi quên cả thời gian
Quên câu ước hẹn chẳng màng bóng đau!
 
Hình Ảnh & Thơ: Kim Oanh



Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch 春夜洛城聞笛 - Lý Bạch 李白 (Thịnh Đường)


(Bát Sách biên soạn,
Tôi viết bài này vì sắp tới ngày Quốc hận )

Đêm Buồn

Tháng tư, năm 1975, tôi đang phục vụ tại Trung Tâm IV Hồi Lực, Cần Thơ, với chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Trưởng khối chuyên môn. Ngày 30/04/1975, vì BS Tô Văn Nghiễn về Sài Gòn, tôi xử lý thường vụ Chỉ huy trưởng, vẫn đi làm việc như thường lệ, cùng anh bạn sau tôi một khoá là BS Trần Cao Thăng. Lúc 10 giờ, Dương Văn Minh đọc thông điệp đầu hàng trên đài phát thanh, tôi tập họp thương binh, tuyên bố rã ngũ, ai lo phận nấy. Nhìn bệnh nhân của mình, kẻ què, người cụt, vết thương chưa lành, đi chân hoặc nạng, thất thểu ra cổng trại, tôi không sao cầm được nước mắt, khóc cho đồng đội, cho gia đình và cho chính mình.... Tương lai nào biết ra sao. Sau đó, Thăng và tôi đi tìm đường chạy. Vì có bạn là Nha Sĩ Trần Văn Bé ở căn cứ hải quân Bình Thuỷ, Cần Thơ, tụi tôi được gửi lên mấy chiếc tầu há mồm, theo giòng Hậu Giang ra biển. Tầu chìm, được tầu Song Long của Đại Hàn vớt, ghé Thái Lan, rồi chở về trại tị nạn ở Phú San, ngày 21/05/1975.

Trong thời gian ở trại, tôi cũng có nhiều việc, khám tại bệnh xá, phân chia đồ cứu trợ, làm thông dịch viên, một mối tình Hàn Việt thơ mộng và lãng mạn. Những chi tiết vui buồn, gian lao khổ sở, nhục nhằn đã được kể trong bài Phú San, đăng trên Tập SanY Sĩ. Trại gần 2000 người, tôi đã biết trước một số nhỏ như BS Trịnh Cao Hải, và phu nhân là chị Mộng Ngọc, giáo sư, hỏi vấn đáp khi tôi thi tú tài, các đồng nghiệp khác như các BS Lê Dư Khương, Phó Đức Mùi, Nguyễn Văn Thạnh, Dương Hồng Huy, Trần Cao Thăng, Lê Lữ, Lê Thiện Nhân... Bạn mới, tôi cũng có thêm, như Hoàng Văn Thuận, Nguyễn Văn Điềm, Lê Khuê Hào, Trịnh Thiếu Sinh...Trong số bạn mới, tôi nhớ nhất là một anh lính hải quân, tên thật là gì, tôi không biết, anh xưng là Kim Chi. Số là khi đó, Tổng Thống Phác Chính Hy nuôi dân tỵ nạn bằng mì luộc và kim chi, món ăn bình dân nhưng độc đáo của Hàn Quốc, và bạn tôi lấy nó làm tên của mình.

Kim Chi hiền lành, nói chuyện vui vẻ, đặc biệt là rất nghệ sĩ, anh biết hát và thổi sáo. Chẳng hiểu sao, anh ngoại giao, anh xin được một ống nhựa bao giây điện, rồi mầy mò làm thành ống sáo. Từ đó, tối nào, tụi tôi cũng theo Kim Chi, nghe anh trổ tài, mang theo chút kẹo hoặc thuốc lá để trợ hứng. Khi ngồi cả đám thì không sao, nhưng lâu lâu, có những đêm khuya mất ngủ, nằm trằn trọc, mà nghe văng vẳng tiếng sáo của Kim Chi, thổi những bài như Lòng mẹ, Con thuyền không bến, thì kẻ vong quốc, tha hương, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, ai mà không rơi nước mắt.

Lúc đó, trên người chỉ có một bộ quần áo, làm gì ra sách vở, nhưng còn nhớ được mấy bài thơ Đường, bèn tìm một bài hợp tình, hợp cảnh, đem ra dịch cho qua thì giờ. Đó là bài:

春夜洛城聞笛    Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch
李白                      Lý Bạch

誰家玉笛暗飛聲 Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
此夜曲中聞折柳, Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình.

Nghĩa:

Đêm xuân, ở Lạc Dương, nghe tiếng sáo.

Tiếng sáo ngọc nhà ai thoảng bay,
Tan vào gió xuân, đầy thành Lạc Dương.
Đêm nay, nghe điệu bẻ liễu trong khúc sáo, (Điệu bẻ liễu là điệu biệt ly)
Ai là người không dậy lên mối tình nhớ vườn xưa.

Dịch thơ:

Đêm Xuân,  Lạc Dương, Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai tiếng địch thoảng bay,
Quyện vào trong gió, tan đầy Lạc Dương,
Nghe câu ly biệt đêm trường,
Ai người chẳng thấy nhớ thương quê nhà.

Đây là một bài trung trung của Lý Bạch, tôi thích chỉ vì nó nói đúng tâm trạng của mình, Nhưng xét cho cùng, thì thấy câu thứ 2 sao hay lạ lùng, tiếng sáo mà tan vào gió xuân, bay đầy thành phố, thì chỉ có Lý mới viết nổi.
Hồi ở Phú San, câu chót tôi dịch là: Ai người chẳng nhớ cố hương xa vời. Nhưng tôi có lây bệnh Thôi, Xao của Giả Đảo, nên đã sửa lại như trên, mong các bạn cho ý kiến.

Nguyễn Thanh Bình( Bát Sách)
***

Nhà ai sáo ngọc thoảng bay nhanh
Nương gió xuân loang khắp Lạc thành.
Khúc sáo lắng nghe như "Chiết Liễu”
Hỏi ai chẳng nhớ đến quê mình

Con Cò
***
Đêm Xuân Ở Lạc Thành Nghe Sáo.

Nhà ai sáo vọng suốt canh trường,
Quyện gió xuân bay khắp Lạc Dương.
Khúc nhạc đêm nay nghe " Bẻ Liễu,"
Người nào chẳng nhớ tới quê hương.

Mỹ Ngọc.
Apr. 14/2026
***
Đêm xuân nghe sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ngọc nhà ai thoảng tiếng bay
Gió xuân mang rải Lạc Dương đầy
Đêm nay Chiết Liễu chìm trong nhạc
Ai chẳng chạnh lòng chốn cũ đây?


Lục bát


Nhà ai sáo ngọc thoảng bay
Gió xuân chuyên chở rắc đầy Lạc Dương
Điệu nghe Chiết Liễu đêm trường
Ai người mà chẳng nhớ thương quê nhà?


Lộc Bắc
Mars2019
***
Tiếng sáo đêm xuân ở Thành Lạc Dương

Vi vu tiếng sáo vọng nhà ai
Theo gió mùa xuân dìu dặt bay
“Chiết liễu” Lạc Dương vang điệu nhạc
Quê hương nỗi nhớ thiết tha đầy

Thanh Vân
***
Đêm Xuân Nghe Sáo Ở Thành Lạc Dương

Canh trường tiếng sáo nhà ai
Quyện nương theo gió xuân bay Lạc thành
Nghe câu ly biệt đêm thanh
Mấy ai sao nỡ quên đành quê hương.

Kim Oanh
***
Nguyên tác: Phiên âm:

春夜洛城聞笛-李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch


誰家玉笛暗飛聲 Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
此夜曲中聞折柳 Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình

Bài thất ngôn tứ tuyệt này được viết vào năm Đường Huyền Tông Khai Nguyên thứ 23 (năm 735) khi Lý Bạch viếng thành Lạc Dương. Có mộc bản trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Giải nghĩa chữ khó:

Lạc Thành: thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, một thành phố rất thịnh vượng trong thời nhà Đường, kinh đô cổ kính của Trung Hoa ngày xưa, còn được gọi là Đông Đô.
Văn địch: Vào thời Ngụy Tấn, Hướng Tú làm bạn với Kê Khương và Lữ An, Khương và An bị Tư Mã Chiêu giết chết. Tú về nơi ở cũ của Kê Khương tại Sơn Dương, nghe tiếng sáo của hàng xóm, cảm thấy nhớ người bạn đã khuất của mình. Sau đó, văn địch được sử dụng như một từ để thương tiếc người quá cố.
Thùy gia: nhà ai, ở đâu
Ngọc địch: sáo ngọc, tên đẹp của sáo
Ám phi thanh: âm thanh không biết từ đâu đến; tiếng sáo bay bổng, vẳng lại một cách kín đáo, mơ hồ trong đêm tối; tiếng sáo vang lên trong đêm và truyền đi xa
Xuân phong: gió mùa xuân, ẩn dụ ân trạch, bầu không khí hòa hợp
Chiết Liễu: tên bản nhạc xưa; ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi, sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt.
Cố viên: vườn uyển cổ xưa, từ dùng để chỉ quê hương

Dịch nghĩa:

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch


Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Nhà ai có tiếng sáo ngọc vẳng trong đêm,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Theo gió xuân bay khắp thành Lạc Dương.
Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
Đêm nay trong khúc nhạc ta nghe lại có điệu "Chiết Liễu",
Hà nhân bất khởi cố viên tình
Thử hỏi có ai mà không cảm thấy nhớ quê hương.

Bình luận:

Bài thơ được Lý Bạch sáng tác vào khoảng năm 734-735 (niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông), khi ông đang lưu lạc và tạm trú tại thành Lạc Dương. Sống nơi đất khách trong một đêm xuân tĩnh lặng, âm thanh của tiếng sáo vẳng lại đã chạm vào nỗi lòng xa xứ của nhà thơ.

Dù viết về nỗi nhớ quê, Lý Bạch không dùng những từ ngữ bi lụy. Ông dùng câu hỏi tu từ Hà nhân bất khởi (Ai mà không chạnh lòng) để nâng cảm xúc cá nhân lên thành một tình cảm phổ quát, khẳng định rằng tình yêu quê hương là bản năng sâu thẳm của mỗi con người khi đứng trước những rung động tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Bài thơ ngắn nhưng giàu nhạc tính, hình ảnh trong trẻo mà thấm buồn. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Đường về tâm trạng tha hương, sánh cùng Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch hay Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ.
Bài thơ này hơi khó so sánh với bài Văn Địch của Triệu Hỗ vì khác thể thơ, nhưng có thể so sánh với bài tứ tuyệt Tái Thượng Văn Địch của Trương Hỗ. Cả hai bài đều nghe sáo ban đêm. Bài của Lý Bạch, như chúng ta đã biết, được làm vào mùa xuân ấm áp ở nơi phồn hoa đô thị khi ông đến Lạc Dương tìm danh vọng. Bài thơ của Trương Hỗ, bên dưới, được làm vào mùa đông lạnh lẽo ở biên thùy Tây Bắc, hình ảnh một chiến binh cô đơn nhớ nhà.

Dịch thơ:

Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương


Thể thất ngôn:

Tiếng sáo nhà ai gợi vấn vương,
Gió xuân đưa khắp nẻo Lạc Dương.
Khúc nhạc chia tay ôi tha thiết,
Sao khỏi chạnh lòng nhớ cố hương.


Thể lục bát:


Nhà ai tiếng sáo nhẹ nhàng,
Gió xuân đưa khắp nẻo đàng Lạc Dương.
Khúc Chiết Liễu gợi vấn vương,
Hỏi ai viễn xứ chẳng thương quê mình.


Thể song thất lục bát:


Tiếng sáo ngọc, nhà ai trầm bổng
Khắp Lạc Thành, theo ngọn gió xuân
Đêm nay Chiết Liễu ru ngân
Hỏi ai chẳng khởi bâng khâng nhớ nhà?


Flute On A Spring Night in Luoyang by Li Bai

From whose house arises the melodious flute
Spring wind carries it all over the city of Luoyang
Tonight the song is the Willow Breaking melody
Who does not have feeling for his old country?

From whose house comes the sound of a jade flute, discretly flying?
The spring wind scatters them across the whole city of Luoyang.
Tonight, within that drifting melody, I hear the tune "Breaking the Willow."
Who could listen without being moved by memories of their father land?

The above translations focuse on conveying the sense and emotion of the original poem rather than reproducing its rhyme.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

李白. Tên của thi nhân họ Lý đã được chuyển sang chữ Latin thành Li Bai, Li Po hay Li Bo tùy hệ thống chuyển ngữ nhưng Lý Bạch trong tiếng Việt có thể gần gũi nhất với lối phát âm /baek/ hay /bhæk/ của thời Trung Cổ. Ngoài tên cúng cơm Bạch, ông còn được biết dưới các tên Thanh Liên Cư Sĩ, Thi Tiên, Tửu Tiên, Trích Tiên Nhân và Thi Hiệp.

折柳. Liễu trong tục chiết liễu là cây thùy liễu (Salix babylonica) có gốc ở bắc Hoa Lục rồi lan tràn qua miền ôn đới Tây phương nên cho dù người (nhiệt đới) Việt có tên cây liễu, ít ai ở quốc nội thấy cây đó, vì dĩ nhiên ít ai (kể cả người Viết) biết tục bẻ liễu có ý nghĩa gì. Và trừ khi người đọc hiểu rằng liễu (柳) và lưu (留) là hai từ đồng âm [cùng bính âm liǔ] thì họ cũng không hiểu rằng từ liễu là biểu tượng của sự chia ly, để diễn tả ước muốn níu kéo người đi ở lại hay trở về. Thời xưa người đi xa thường dùng thuyền – đường bộ rất hiểm nghèo - nên việc chia tay thường xẩy ra bên bờ sông nơi cây liễu thích sống, hay thường được trồng. Mặc dù đa số thổ âm Hoa Lục phát âm 留 với phụ âm /l/, người Thành Đô, Tứ Xuyên phát âm nó giống hệt như níu của tiếng Việt nhưng có lẽ đây không phải là ngữ nguyên của ‘níu’ trong các nghĩa níu lại, níu kéo.

玉笛. Từ thời Đường, từ địch được dùng riêng để chỉ loại sáo thổi ngang nên dùng các hình vẽ với sáo thổi dọc (có tên là tiêu, 簫) không hợp với bài thơ. Nguyên liệu cho sáo thường là trúc hay gỗ vì khả năng cộng hưởng của chúng làm tăng phẩm chất của tiếng sáo. Ngọc (bích) và kim loại ít khi được dùng (trừ trường hợp các flute gốc Âu Châu) vì âm thanh từ chúng không ấm bằng tiếng sáo gỗ hay trúc. Và cụm từ ngọc địch có thể hàm ý rằng người thổi sáo đang ở trong một lầu đài, cung điện nào chứ không phải là một nghệ sĩ chuyên dùng sáo, vì ít ai đủ giàu mua sáo ngọc và người chuyên nghề thổi sáo thì lại thích sáo gỗ hay sáo trúc. Họ Lý sáng tác bài thơ này năm 734 khi đang lang thang qua đông đô Lạc Dương và ngữ cảnh của bài thơ gợi ý – ít nhất cho người viết ni – rằng ‘cố viên tình’ (故園情) nói đến một người quen mà Lý đã nhờ tiến cử vào triều đình. Một điều ít người biết về cuộc đời họ Lý là ông đã nhiều lần viết thư tự tiến cử đến triều thần ở Trường An.

Nếu người ni đoán đúng thì sáo của người bạn Kim Chi của Bát Sách chế tạo là địch, không phải tiêu, và phân vân âm thanh từ cái địch này như thế nào vì nhựa làm vỏ dây điện không cứng lắm (cứng quá thì không uốn quanh được).

Huỳnh Kim Giám




Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Tôi Không Là Một Người Lính


Tôi không phải là một người lính, nhưng tháng Tư lại kéo tôi vào trận chiến, trái tim tôi tan nát với mỗi nhịp đập, lồng ngực tôi nặng trĩu những ký ức tôi không thể cưỡng lại. Tiếng hát vang vọng đã làm nhức nhối bao người khi lần đầu nghe một ca khúc của Nhạc sĩ Nam Lộc được cất lên.

"Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng."

Tôi có cảm tưởng gió mang theo tiếng vọng của lòng dũng cảm đã ngã xuống, và tôi cảm nhận được điều đó trong xương cốt, trong nỗi đau trống rỗng của ruột gan. Một nỗi đau mà chỉ tháng Tư mới biết. Tôi không dũng cảm, nhưng trái tim tôi làm chứng, nước mắt tôi tiếc thương những người đã mất, và tâm hồn tôi đau buốt với sức nặng của một tháng không bao giờ quên. 

Tôi không phải là một người lính, nhưng mỗi tháng Tư, trong tôi lại cảm nhận như đang ở nơi chiến trường. Mỗi nhịp đập kéo tôi chìm vào sự hỗn loạn của những ký ức, tôi không thể trốn chay, và nỗi đau phủ lấy tôi như một cơn bão thầm lặng. Tôi cảm nhận được nỗi mất mát, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người đã chiến đấu. Dù tôi chưa từng cầm súng hay hành quân cùng họ. 

Mỗi tháng Tư về, lồng ngực tôi đau nhói, ruột gan thắt lại, và nước mắt không kềm được khi đọc những bài thơ, một đoản văn, những ca khúc về một thời khói lửa nơi chôn nhau cắt rún, nỗi lòng khắc khoải của ngày tháng sống ly hương. Tháng Tư không tha cho những người vô tội, nó nhắc nhở tất cả chúng ta về những gì đã mất, những gì đã trao đi, và những gì không bao giờ có thể lấy lại được. 
Một nỗi buồn tháng Tư khôn nguôi.......

Không biết vì sao tôi hay buồn
Khi tháng Hè về lệ mãi tuôn
Nhớ phút chia tay cùng ước thệ
Của Người lặn lội chốn sơn khê

Tôi biết vì sao tôi hay buồn
Mỗi tháng Tư về nhuốm đau thương
Quê Hương xa khuất trong trời nhớ
Thương Người Chiến Sĩ dãi dầu sương

Tôi không là người Lính chiến đâu
Tháng Tư sao dạ lắm cồn cào
Tim se sắt nhói từng hơi nhịp
Ruột đứt rã rời tháng Tư đau.


Kim Oanh
30-4-2026


Những Người Không Chết - Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ - Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ
Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Người Ở Đâu Đêm Nay? - Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành - Tiếng Hát: An Minh

 
1.
Người ở đâu đêm nay khi ngoài kia bóng tối
khi ngoài kia giá buốt giăng đầy?
Một vì sao đơn côi đang lập loè chỉ lối
Cho nguời ngay bước tới giữa chốn u mê nơi nơi.
Người ở đâu đêm nay khi niềm tin sắp đuối
Khi rừng gươm giáo mới đã đứng vây quanh cuộc đời dân tôi.

Người ở đâu đêm nay xin về nơi chốn ấy
Cho triệu dân sẽ thấy một chút yên tâm đêm nay.
Tân cùng 30 năm, bao cầu xin đã vắng
Bao mùa Đông đã trắng, dấu vết đau thương hôm nay đã hằn.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
khi 30 năm vẫn nguyên lời nguyện này.
Người hỡi, thử thách này lớn quá không?
Hay niềm tin con héo hon?
Hay dân tộc này đang cơn nghiệt ngã giữa sống còn?

2.
Người ở đâu đêm nay khi vòng vây đã xiết
Giáo đường xưa đã hết lối về
Nào người chăn chiên xưa, đâu về miền đất hứa
Cho niềm tin cứu rỗi hôm nao trở thành chiêm bao.
Người buồn không đêm nay, bao lời kinh đã cấm
Máu đàn chiên đã thấm trên bao bản làng xa xăm.

Người ở đâu đêm nay, xin gọi Hồn Sông Núi
Cho người người sẽ thấy cùng nỗi đau thương quanh đây
đoạ đày kia anh em, suy tàn kia giáo giới
để cùng nhau bước tới làm sáng danh tên của Người.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
Nhưng 30 năm vẫn xin lời nguyện này.
Người hỡi, chỉ có Người đến đêm nay (thấu cơn đau)
chỉ có Người biết đêm nay (mai sau)
Xin cho dân tộc này (can đảm thêm một ngày) cùng đứng lên một ngày.

Nguyễn Văn Thành