Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Từ Điệu Lâm Giang Tiên

  


Sau khi nhà Đường 唐 bị Chu Ôn 朱溫 soán ngôi và diệt vong, nước TH tiến vào thời kỳ “Ngũ Đại Thập Quốc 五代十國”. Những khúc hát của Đường giáo phường vẫn lưu truyền trong dân gian, kể cả những đoản kịch và những bài ca múa, được gọi là “Đôn Hoàng Khúc Tử 敦煌曲子”, “Đôn Hoàng Khúc Tử Từ 敦煌曲子詞”, “Đôn Hoàng Ca Từ 敦煌歌辭”, hay giản đơn là “Đôn Hoàng Khúc 敦煌曲”. Những bài hát này làm nền móng cho Tống Từ sau này. Các thi sĩ thời Ngũ Đại bắt đầu thích thú với việc đặt lời ca mới cho đôn hoàng ca từ, động tác này gọi là “Điền Từ”, khởi đầu cho một thời hưng vượng của từ.

Vào thời Ngũ Đại, Đôn hoàng khúc hẳn phải có rất nhiều. Rất tiếc đã bị mai một theo thời gian, chỉ còn lại khoảng vài trăm bài. Một trong những bài xưa nhất là “Lâm Giang Tiên”. Sách “Liệt Tiên Truyện 列仙傳” kể rằng có một vi tiên người nước Triệu thời Chiến Quốc, không ai biết tên thật của ông, chỉ biết người đời gọi ông là “Cầm Cao 琴高”. Ông rất giỏi âm luật, thường gẩy đàn cầm và hát rất hay trong đó có bài hát sau này là từ điệu Lâm giang tiên. Sau khi tu tiên đắc đạo, ông thường ngao du vùng Ký Châu 冀州, Trác Quận 涿郡 trong vòng hơn 200 năm. Sau cùng ông cùng một người đệ tử, cưỡi cá chép đỏ bơi trên sông Trác Thủy rồi đi vào trong nước.

Một thuyết nói tên từ bài Lâm giang tiên là tưởng niệm và ca tụng các vị thủy thần kể cả nữ thần sông Tương湘. Theo truyền thuyết vua Nghiêu 堯có 2 người con gái là bà Nga Hoàng 娥皇và Nữ Anh女英 đều gả cho vua Thuấn舜. Khi vua Thuấn băng hà, 2 bà tự trầm ở sông Tương và trở thành nữ thần ngự trị sông Tương.

Cái tên Lâm Giang Tiên lấy từ lời của bài Đôn hoàng ca từ:

岸闊臨江底見沙,Ngạn khoát lâm giang để kiến sa,
東風吹柳向西斜。Đông phong xuy liễu hướng tây tà.

Chữ “tiên thêm vào để chỉ các vị thủy tiên.

Vào thời Ngũ Đại, Lý Tuần 李珣 ở nước Tiền Thục là người đầu tiên điền bài từ này. Sau đó nhiều thi sĩ cũng điền bài từ này với nhiều tên khác nhau như “Tạ Tân Ân 謝新恩”, “Thụy Hạc Tiên 瑞鶴仙”, “Uyên Ương Mộng 鴛鴦夢”, v.v.

Trong bài này tôi xin cống hiến quý độc giả 2 bài từ của thi sĩ thời Ngũ Đại là Lộc Kiền Ỷ 鹿虔扆 và Lý Dục 李煜. Chúng ta đã biết nhiều về Lý Dục. Tôi xin nói chút ít về Lộc Kiền Ỷ. Ông đỗ tiến sĩ nước Hậu Thục後蜀 trong thời Ngũ Đại, dưới triều vua Mạnh Sưởng孟昶, còn được gọi là Hậu Chủ 後主. Mạnh Sưởng là ông vua xa xỉ, thích tiệc tùng ca hát, nghe lời xàm tấu hại người hiền. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn 趙匡胤 đánh tan nuớc Hậu Thục, bắt Mạnh Sưởng làm tù binh. Mạnh sưởng uất ức hoặc bị đầu độc mà chết. Vợ của Mạnh Sưởng là bà Hoa Nhụy Phu Nhân 花蕊夫人 có nhan sắc bị Triệu Khuông Dẫn thu dụng. Tuy phải hầu hạ kẻ chiến thắng, bà vẫn lén lút thờ bài vị của Mạnh Sưởng. Bà cũng là tác giả của bài “Vong Quốc Thi” mà chúng ta đã biết. Thương cho một kiếp hồng nhan sống trong “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”.

Lộc Kiền Ỷ là 1 trong 5 vị quan của nước Hậu Thục, chuyên làm từ soạn nhạc giúp hậu chủ Mạnh Sưởng giải khuây, bị dân gian ghép cho cái tên “Ngũ Quỷ”. Tuy nhiên sau khi Thục vong, ông về quê ở ẩn, từ chối làm quan cho Tống Triều.

臨江仙 - 鹿虔扆 Lâm Giang Tiên - Lộc Kiền Ỷ

金鎖重門荒苑靜, Kim tỏa trùng môn hoang uyển tĩnh,
綺窗愁對秋空。 Ỷ song sầu đối thu không.
翠華一去寂無蹤。 Thúy hoa nhất khứ tịch vô tung.
玉樓歌吹, Ngọc lâu ca xúy,
聲斷已隨風。 Thanh đoạn dĩ tùy phong.

煙月不知人事改, Yên nguyệt bất tri nhân sự cải,
夜闌還照深宮。 Dạ lan hoàn chiếu thâm cung.
藕花相向野塘中, Ngẫu hoa tương hướng dã đường trung,
暗傷亡國, Ám thương vong quốc,
清露泣香紅。 Thanh lộ khấp hương hồng.

Chú Thích


1- Lâm Giang Tiên 臨江仙: nguyên là tên 1 bài hát của Đường giáo phường, sau dùng làm tên từ bài. Bài này song điệu có 58 hoặc 60 chữ, vần bằng. Có người nói Lộc Kiền Ỷ làm bài này để thương tiếc nhà Hâu Thục Mạnh Sưởng孟昶, cũng có người nói ông thương tiếc nhà Tiền Thục Vương Diễn王衍. Cách luật:

X X B X B X T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
X T T B B vận

X X T X B X T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
X T T B B vận

2- Kim tỏa trùng môn 金鎖重門: nhiều lớp cửa khóa.
3- Hoang uyển荒苑: vường của hoàng gia bị bỏ hoang phế.
4- Ỷ (khỉ) song 綺窗:Song hộ có vẽ hoa văn mầu sắc.
5- Thu không 秋空: bầu trời mùa thu.
6- Thúy hoa 翠華 = Thúy vũ hoa cái 翠羽華蓋: những võ khí hoặc cờ xí mà những người tùy tùng của hoàng đế mang theo đã dùng lông chim phỉ thúy làm trang sức. Trong bài này chữ “thúy hoa” ám chỉ hoàng đế.
7- Vô tung 無蹤: không có tung tích.
8- Ngọc lâu玉樓: nhà lầu trong cung vua.
9- Ca xúy 歌吹: tiếng đàn hát.
10 Yên nguyệt 煙月: khói và trăng hoặc ánh sáng trăng khi trời có mây mỏng.
11- Dạ lan 夜闌: đêm sắp hết, thâm khuya.
12- Thâm cung 深宮: cung cấm của hoàng gia.
13- Ngẫu hoa 藕花: hoa sen.
14- Tương hướng 相向: đối diện nhau.
15- Dã đường 野塘: ao hồ hoang vắng.
16- Ám thương 暗傷: âm thầm thương tiếc.
17- Thanh lộ 清露: giọt sương trong trẻo.
18- Hương hồng 香紅: chỉ hoa sen.

Dịch Nghĩa


Nhiều lớp cửa cung khóa kín, vường thượng uyển hoang vu yên tĩnh.
Cửa sổ hoa lệ đượm buồn nhìn bầu trời thu.
Nhà vua đã ra đi hoàn toàn không tung tích.
Những tiếng đàn hát trên lầu ngọc ngày xưa,
Đã tan biến theo làn gió.

Khói trăng không biến đến việc người thay đổi,
Trong đêm tàn còn chiếu trên cung xưa.
Trên mặt hồ hoang phế chỉ còn hoa sen soi bóng.
Âm thầm thương tiếc cho quốc gia đã mất,
Những giọt sương trong trẻo đọng trên lá sen rơi xuống như những giọt châu lệ.

Phỏng Dịch

1 Lâm Giang Tiên – Non Nước Xưa

Khóa kín cửa đôi vườn hoang lặng,
Song thưa sầu ngắm trời không.
Đế vương mai một tuyệt vô tung.
Đàn ca lầu ngọc,
Tan biến ngọn thu phong.

Nhân vật đổi thay tàn trăng khói,
Đêm thâu mờ chiếu thâm cung.
Hồ xưa hoang vắng phù dung.
Thầm thương vong quốc,
Sương trắng khóc sen hồng.


2 Non Nước Xưa


Cửa cung khóa kín trùng trùng,
Vườn hoa thượng uyển một vùng hoang vu.
Đượm buồn song hộ trời thu,
Người xưa nay đã phiêu du nơi nào.
Lầu cao đàn hát xôn xao,
Âm thanh ngày ấy tan vào gió khơi.
Khói trăng không biết đổi dời,
Đêm tàn mờ chiếu một trời cung xưa.
Hoa sen hồ cũ còn trơ,
Ngậm ngùi vong quốc hững hờ giọt sương.
Như dòng lệ khóc hồng hương.


HHD 12-2019
***
Lâm Giáng Tiên, Lộc Kiển Ỷ

1-

Cửa kép khóa vàng, vườn hoang vắng
Song gấm buồn ngó thu không
Xe vua một xuất, biệt vô tung
Sáo ca lầu ngọc
Thanh dứt theo gió đông

Trăng mờ không biết người thay đổi
Đêm tàn còn chiếu thâm cung
Hoa sen soi bóng xuống hồ hoang
Thầm thương nước mất
Sương trong khóc búp hồng


2- Sầu Vong Quốc

Thượng uyển hoang, khóa vàng cửa cấm
Ngó trời thu song gấm sầu buồn
Xe vua xuất, biệt tăm luôn
Sáo ca lầu ngọc gió luồn mang theo

Người thay đổi, trăng treo nào biết
Đêm gần tàn chiếu miết thâm cung
Hoa sen soi bóng hồ rong
Thầm thương nước mất, búp hồng móc vương!

Lộc Bắc
Aug26
***
Sầu Non Nước

Cửa cung khóa kín hoang vu
Song thưa lệ đẵm trời thu đượm sầu
Cố nhân nay biết tìm đâu
Thanh âm xưa vẳng lầu cao tiếng đàn
Âm thầm theo gió biến tan
Khói trăng bất biến chẳng màn​g đổi thay
Mặt hồ hoang phế bóng ai
Tiếc thương non nước tàn phai suy rồi
Búp sen đọng giọt sương rơi
Như dòng lệ khóc sao vơi ngậm ngùi

Kim Oanh
Oct.2026
--------o0o--------

臨江仙 - 李煜 Lâm Giang Tiên – Lý Dục
(謝新恩 Tạ Tân Ân) 其一 Kỳ 1


秦樓不見吹簫女, Tần lâu bất kiến xuy tiêu nữ,
空餘上苑風光。 Không dư thượng uyển phong quang.
粉英含蕊自低昂。 Phấn anh hàm nhụy tự đê ngang.
東風惱我, Đông phong não ngã,
才發一衿香。 Tài phát nhất câm hương.

瓊窗夢醒留殘日, Quỳnh song mộng tỉnh lưu tàn nhật,
當年得恨何長! Đương niên đắc hận hà trường!
碧闌干外映垂楊。 Bích lan can ngoại ánh thùy dương.
暫時相見, Tạm thời tương kiến,
如夢懶思量。 Như mộng lại tư lương.

Chú Thích

1 Tác giả làm để tưởng nhớ bà Đại Chu Hậu 大周后qua đởi ở tuổ 29.

Bài này tác giả đặt tên là “Tạ Tân Ân 謝新恩”. Bình luận gia Vương Quốc Duy王国维 nhận thấy bài này hát theo điệu lâm giang tiên 臨江仙 nên xếp vào loại “Lâm giang tiên”. Hiện nay còn lưu lại 5 bài từ theo điệu Tạ tân ân. Chỉ có kỷ 3 là tìm thấy cách luật trên trang mạng “Từ bài 詞牌”. Với bài này tôi cũng chép lại cách luật ấy duy những chữ không phù hợp đã được sửa lại thành “X”, thường ở vị trí số 1 và 3 của câu thơ.

B B T T B B T cú
X B T T B B vận
X B X T T B B vận
X B X T cú
B T T B B vận

B B T T B B T cú
X B X T B B vận
X B X T T B B vận
X B B T cú
B T T B B vận

2 Tần lâu 秦楼: căn lầu do Tần Mục Công 秦穆公xây cho con gái là nàng Lộng Ngọc弄玉. Tên khác là Phụng Hoàng đài鳳凰台.
3 Xuy tiêu nữ 吹箫女: tức là nàng Lộng Ngọc弄玉 trong truyên cổ xưa, thổi tiêu rồi cưỡi phụng bay đi. Người đời sau nhắc đến việc này để biểu thị tình cảm nhớ người ra đi bỏ lầu trống không, nhìn vật nhớ người.
4 Thượng uyển上苑: vườn hoa của hoàng gia.
5 Phong quang 風光: cảnh sắc, phong cảnh.
6 Phấn anh粉英: các loại hoa. Có bản chép sai là “Phấn mạc 粉莫".
7 Hàm Nhụy含蕊: chứa nhụy hoa. Bản khác chép “Kim nhụy金蕊: nhụy vàng”. Phấn anh hàm nhụy: chỉ các loại hoa mầu sắc.
8 Tự 自 = các tự各自: mỗi hoa tự có.
9 Đê ngang 低昂: cao thấp khác nhau.
10 Đông phong東風: gió xuân.
11 Não惱: làm cho phiền muộn, khổ não, phiền não.
12 Tài才: chỉ có.
13 Phát 發: đưa ra, phân bố.
14 Câm (khâm) 衿= khâm襟: cổ áo. Nhất câm hương一衿香: hương thơm ám trên y phục.
15 Quỳnh song 瓊窗: cửa sổ làm bằng ngọc, phiếm chỉ cửa sổ hoa lệ.
16 Tỉnh 醒: nguyên chính bản lưu lại thì chữ này mất hoặc không đọc được nên người đời sau tùy tiện thêm vào. Có người dùng chữ “Địa地: đất” thành “Mộng địa 夢地: vùng đất mộng”. Có người dùng chữ “Tỉnh: tỉnh dậy” thành “Mộng tỉnh 夢醒: tỉnh mộng”.
17 Đắc hận 得恨: ôm hận.
18 Hà trường 何長: dài làm sao.
19 Bích lan can 碧闌干: lan can sơn mầu xanh hoặc lan can có khảm ngọc xanh.
20 Thùy dương 垂楊: cành dương liễu rủ xuống. Trong văn chương thường gọi cây dương liễu 楊柳 là “Dương 楊”, ngoài đời thường gọi là “Liễu 柳”.
21 Tạm thời tương kiến 暫時相見: gặp nhau trong giấc mộng ngắn ngủi.
22 Lãn (lại) 懒: lười hoặc chán ghét. Có bản chép sai là “Nộn 嫩: non", hay Nga 娥: người đẹp".
23 Tư lương 思量 = tư niệm 思念: suy tư.

Dịch Nghĩa

Lên lầu Tần mà không nhìn thấy cô gái thổi tiêu,
Chỉ còn lại quang cảnh của khu vườn thượng uyển.
Các loại hoa nở nhiều mầu sắc tự mọc cao thấp (không ai xem).
Gió xuân làm tôi phiền não,
Chỉ đưa đến cổ áo y phục của tôi một chút hương.

Tỉnh mộng ra thì ngoài cửa sổ hoa lệ còn lưu lại tí ánh sáng của ngày tàn. (Hoặc ngoài song cửa hoa lệ trên vùng đất mộng còn lưu lại tí ánh sáng của ngày tàn, nếu dùng chữ “Địa” thay cho chữ “Tỉnh”).
Năm xưa hoan lạc chỉ còn là mối hận dài đăng đẳng.
Ngoài lan can xanh thắm có bóng rặng thùy dương,
Đều là cảnh tạm,
Như thấy trong giấc mộng. Tôi chán ngán không muống nghĩ tới nữa (Thực sự vẫn phải nghĩ tới, vẫn phải luôn luôn nuối tiếc thời vàng son đã mất).

Phỏng Dịch

1 Lâm Giang Tiên - Nhớ Người Xưa


Lầu Tần chẳng thấy người tiêu nữ,
Còn đây thượng uyển thênh thang.
Muôn hoa sắc thắm tự bầy hàng,
Gió đông áo não,
Còn thổi chút hương tàn.

Bên song tỉnh giấc ngày trầm lắng,
Năm xưa mối hận còn vương.
Lan can vừa ánh bóng thùy dương.
Thấy nhau chăng nữa,
Như mộng mãi buồn thương.

2 Nhớ Người Xưa

Lầu Tần người đã đi đâu?
Còn đây vườn cũ muôn mầu sắc hoa.
Gió xuân phiền não chan hòa,
Đưa hương thoang thoảng ngày qua lỡ làng.

Bên song tỉnh giấc, ngày tàn,
Năm xưa ôm hận, phũ phàng thời gian.
Ánh dương liễu, ngoài lan can,
Thấy nhau như mộng nghĩ cằn tâm tư.

HHD 
12-2019
***
Lâm Giáng Tiên kỳ 1, Lý Dục

1-

Lầu Tần không thấy nàng thổi sáo
Chỉ còn vườn thượng cảnh quang
Sắc mầu hoa nở tự dọc ngang
Gió xuân phiền não
Cổ áo chút hương tàn

Tỉnh mộng song quỳnh ngày tàn nắng
Vui xưa tiếc hận mãi vương
Ngoài rào biếc bóng thùy dương
Gặp nhau cảnh tạm
Như mộng, lười tiếc thương!

2- Người xưa

Nàng thổi tiêu lầu Tần không thấy
Chỉ vườn vua còn mấy cảnh quang
Hoa đua nở, tự dọc ngang.
Gió xuân phiền não hương loang áo sồng

Khi tỉnh mộng, ngoài song tàn nắng
Hoan lạc xưa sầu đắng mãi vương
Ngoài rào biếc bóng thùy dương
Thấy nhau cảnh tạm, tiếc thương cũng đành!

Lộc Bắc
Aug26
***
Nhớ Người Xưa

Lầu Tần lặng tiếng tiêu nàng
Vườn hoa thượng uyển thênh thang vắng người
Sắc màu đua nở xinh tươi
Gió đông áo não kém vui hương tàn
Bên song tỉnh giấc mơ màng
Năm xưa mối hận còn mang ngút ngàn
Ánh thùy dương ngoài lan can
Chỉ là giấc mộng dở dang thôi đành!


Kim Oanh
Oct. 2026


Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

Hữu Nhân Dạ Phỏng 友人夜訪 - Bạch Cư Dị (Trung Đường)

 

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.


Lời phi lộ

Mời các bạn giao hoan với một con yêu tinh, tuy chỉ được cấu tạo bởi 20 chữ, nhưng có đầy đủ các yếu tố hấp dẫn để thu hút khách làng chơi:
— Có thềm cao, chiếu đẹp, gió mát.
— Có thông vi vu, rượu nồng ấm, trăng sáng soi.
— Chưa đù hấp dẫn ư?
— Vậy thì cộng thêm cố nhân cho vui vẻ mọi bề!
Hay vô cùng! Thoạt nhìn cứ tưởng tục; nhưng nó thanh hơn cả một thiếu nữ “thanh” nhất:

Nguyên tác     Dịch âm

友人夜訪         Hữu Nhân Dạ Phỏng

簷間清風簟 Thiềm gian thanh phong điệm
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi.
幽意正如此 U ý chính như thử,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai.

Dịch thơ

Người Bạn Đến Thăm Đêm

Chiếu, thềm cao, gió mát.
Thông, rượu, trăng sáng soi.
Thâm ý rõ như thế,
Huống cố nhân đến chơi./.

Lời bàn

Đây là nét súc tích điển hình của ngũ ngôn tứ tuyệt, súc tích đến độ cô đọng. Bài dịch phải sử dụng 5 dấu phẩy (,) 2 dấu chấm (.) và một dấu chấm hết (./.) để diễn đạt gẫy gọn ý của nguyên bản. Nói cách khác, đây là một bài thơ Đường dịch ra chữ Quốc-ngữ chứ không phải dịch ra chữ Nôm (chữ Nôm không có dấu).

Con Cò
***
Có Bạn Đến Thăm

Thềm nhà gió mát hiu hiu,
Bóng tùng soi chén trăng khêu rạng ngời
Nhẹ nhàng lòng cảm thảnh thơi
Bạn cũ ghé đến niềm vui dâng trào.

Kim Oanh
***
Bạn Đến Thăm Đêm

Trên thềm gió chiếu manh,
Chén rượu trăng thông xanh.
Nhàn nhã nào hơn được.
Còn thêm bạn suốt canh.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Oct. 3/2026.
***
Có Bạn Đến Thăm Trong Đêm

Gió mát hiên nhà với chiếu manh
Bóng tùng chén rượu ánh trăng thanh
Lòng vui thanh thản nơi yên tịnh
Tri kỷ đến chơi bạn chí thành.

Thanh Vân
***

Tri kỷ Thăm Đêm

Hiên cao, chiếu, gió mát.
Tùng hạ, rượu, trăng rằm
Thế đó thanh nhàn thú
Huống chi bạn cũ thăm

SongThất Lục Bát :

Trên thềm cao chiếu tre gió mát
Dưới tàn thông rượu bát trăng rằm
Như thế đó, thanh nhàn tâm
Huống chi bạn cũ tới thăm rỡ ràng!

Lộc Bắc
Oct26
***
Chữ Thiềm, cũng có âm Diêm, là cái vành, như vành nón, hay mái hiên nhà.
Chữ cuối câu đầu là chữ Điệm, cái chiếu, không phải Đạm. Nhờ Lộc Bắc sửa giùm.(đã sửa.tk)
U là tối tăm, cõi âm, sâu kín. U Ý là ý ở trong lòng.
Huống nãi là huống chi, huống hồ. Hai chữ này làm tăng thêm ý của câu trên: trước hiên nhà, gió mát, trải chiếu ngồi, dưới cây tùng, trăng sáng, có ly rượu. Thâm ý của ta là hưởng nhàn nhã, nhưng cô đơn, huống chi có bạn cũ tới (thì vui hơn nhiều)
Bài thơ ngũ ngôn quá cô đọng, Bát Sách dịch không nổi theo nguyên tác, đành dùng thất ngôn :

Đêm Bạn Đến Thăm

Hiên nhà trải chiếu, gió nhẹ qua,
Trăng sáng dưới tùng, rượu rót ra,
Thâm ý trong lòng đà như vậy,
Huống hồ bạn cũ tới thăm ta.

Bát Sách.
(Ngày 04/10/2026)
***
Bạch Cư Dị -白居易

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

友人夜訪       Hữu Nhân Dạ Phỏng Có       Bạn Đến Thăm

簷間清風簟* Thiềm gian thanh phong điệm Hiên mát trải chiếu ngồi,
松下明月盃 Tùng hạ minh nguyệt bôi           Dưới tùng trăng sáng ngời.
幽意正如此 U ý chính như thử                       Nhàn hạ bên chung rượu,
況乃故人來 Huống nãi cố nhân lai                 Lại có bạn đến chơi.


Ghi chú: 江夏黃海書 Giang Hạ Hoàng Hải thư

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁 cho dị bản trong câu 1 với chữ tiền前 thay vì chữ gian間.

Các sách khác cổ hơn, nhưng không cho dị bản:

Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷 代詩選-明-曹學佺
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Bạch Cư Dịch 白氏長慶集-唐-白居易
Bạch Hương San Thi Tập - Bạch Cư Dịch 白香山詩集-唐-白居易

Giải nghĩa chữ khó:

Dạ phỏng: Đến thăm vào ban đêm.
Thiềm gian: Giữa hiên nhà, dưới mái hiên.
Điệm: Chiếc chiếu trúc, chiếu manh (tạo cảm giác mát mẻ, giản dị).
Tùng hạ: Dưới bóng cây tùng (biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên định và thanh cao).
U ý: Ý niệm sâu lắng, thanh tĩnh, không màng thế sự; cõi lòng tĩnh lặng.
Chính như thử: Chính là như thế này, đang lúc như thế này.
Huống nãi: Huống chi là, huống hồ lại có thêm.
Cố nhân: Người bạn cũ, tri kỷ lâu năm.

Dịch nghĩa bài thơ:

Hữu Nhân Dạ Phỏng 
Thiềm gian thanh phong điệm
Tùng hạ minh nguyệt bôi
U ý chính như thử
Huống nãi cố nhân lai

 Bạn Cũ Đến Thăm Ban Đêm

Gió mát thổi qua hiên nhà, trải sẵn chiếc chiếu trúc,
Dưới bóng tùng, ánh trăng sáng chiếu rọi vào chén rượu.
Cõi lòng thanh tĩnh, ý vị uyên thâm chính là đang ở cảnh này,
Huống chi lại có thêm người bạn tri kỷ thuở xưa tìm đến chơi.

Với sự đồng tình của gió mát trăng thanh, sự u tĩnh trở thành thoải mái. Uống rượu một mình cũng là một thú tiêu khiển thanh tao. Tuy nhiên, vui một mình không giống cùng vui với bạn bè. Niềm vui dường như tăng gấp đôi khi chia sẻ với bạn bè.

Dịch thơ:

Có Bạn Đến Chơi

Thể lục bát:

Giữa hiên gió mát chiếu manh,
Dưới thông trăng sáng, rượu thanh đầy vò.
Tĩnh lòng bỗng thấy hết lo,
Huống chi bạn quý lại mò sang chơi.

Thể song thất lục bát:

Gió hiên mát, trải manh chiếu trúc,
Bóng tùng cao, trăng trút đầy bôi.
Thanh nhàn chính lúc đây rồi,
Huống chi bạn cũ bao đời lại qua.

Literal translation:
Have a Friend Visit At Night by Bai Ju Yi

A mat was set in the porch and the wind was cool.
Under the pine tree the moon was bright, wine was bought.
That was the main idea of leisure behind this deep thought,
Specially when a friend would be visiting soon.

Poetic translation:
A Friend’s Night Visit

Cool breeze through the eaves, a bamboo mat laid bare,
Beneath the pines, bright moonlight fills the wine cup fair.
The serene essence of solitude is exactly found right here,
How much more blessed it is, now that an old friend arrives to share.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Ngũ ngôn tứ tuyệt là loại thơ khó sáng tác vì tư tưởng thi nhân muốn diễn tả được cô đọng trong 20 chữ và các câu thơ phải theo đúng luật âm vận; chuyện không dễ làm khi nghĩa của từ được chọn phải hợp với ý. Bài thơ bắt đầu bằng ba từ vần bằng nên luật cho thơ là thế này:

第二种:平起不入韵式 (đệ nhị chủng: bình khởi bất nhập vận thức)
平平平仄仄 ,Thiềm gian thanh phong đạm
仄仄仄平平 。Tùng hạ minh nguyệt bôi
仄仄平平仄 ,U ý chính như thử
平平仄仄平 Huống nãi cố nhân lai

Bài này đã được Cò đưa ra từ hơn 7 năm trước.
Người có phương tiện thường lên lầu để uống rượu, ngắm trăng nhưng thi nhân họ Bạch lại trải chiếu dưới hiên nhà, dưới cây thông nên có lẽ bài thơ được làm khi Bạch đang đi đày và hoàn cảnh không sang cả cho lắm. Từ kép 幽意=u ý có hai nghĩa, hoặc để diễn tả sự ưu tư, suy nghĩ thâm trầm, đơn côi; hoặc để diễn tả cảnh nhàn dật. Từ 此=thử cuối câu nhì không thể hiểu là bên ấy, mà có nghĩa là như thế, hay bây giờ, hàm ý thi nhân đang đơn côi.
Từ kép 況乃=huống nãi có thể hiểu là huống chi, cho dù, vả lại và người đọc dĩ nhiên phải phân vân sự viếng thăm của cố nhân nào đó tạo kết quả gì trên tâm thần thi nhân. Vì tứ thơ quá cô đọng, người đọc chỉ có thể đoán mò cuối cùng thi nhân vui hay buồn!

Viết thêm:

友人=hữu nhân
Tôi tưởng là các bạn biết nên không viết đến vì người Việt thường dùng cụm từ bằng hữu (朋友) để gọi bạn bè, hay thân hữu (親友) để gọi bạn thân. Các link xanh đưa tới các trang Wiktionary cho các từ kép đó.
Tiếng Tàu có nhiều từ đồng âm /hữu/ và phải dùng bộ để phân biệt chúng. Hữu (有) nghĩa 'có' viết với bộ nguyệt (月) , hữu (右) nghĩa bên 'phải' viết với bộ khẩu (口), hữu 友 nghĩa 'bạn' dùng bộ hựu (又) , và hữu (囿) nghĩa 'vườn' dùng bộ vi (囗). Phần chung ở trên của các chữ đó 𠂇 là chữ 左 (tả, tá).

Huỳnh Kim Giám

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Ở Lại Không Thu?!


Mùa thu đã đến rồi đi biết bao lần, đến nỗi ngay cả những chiếc lá xanh cũng đã học được cách già đi. Những gì từng tươi mới giờ đây mang nặng gánh ký ức, như thể mỗi mùa đều để lại một dấu vết không bao giờ hoàn toàn biến mất. 

Thì thầm gió gọi Thu sang
Nắng chưa phai nhạt hương ngan ngát mùa
Lá ươm vàng độ chợt vừa...

Tôi nhặt nhanh những chiếc lá rụng này một cách cẩn thận, như thể chúng là những mảnh ghép của thứ gì đó tôi từng trân trọng. Mỗi chiếc lá giống như một mảnh vỡ của tình yêu khô héo, dễ vỡ, nhưng vẫn còn hiện hữu. Muộn màng chăng? Dẫu muộn cũng xin thu một lần ru giấc đời nhau....!

Muộn màng cũng một sắc hương
Rộn ràng nắng mới sau vườn góc riêng
Ước mơ tình thắm dịu êm
Tiếng chim hòa khúc an nhiên ...ru đời


Tôi giữ chúng không phải để sống lại quá khứ, bởi vì buông bỏ hoàn toàn, giống như đánh mất một phần của chính mình. Và ai vẫn ở rất xa. Vì vậy, tôi thấy mình cầu xin thời gian hãy thương xót, hãy chậm lại, đừng vội vã vượt qua tôi như thế này. Hãy để màu sắc, thoáng hương lưu lại thêm một chút nữa, hãy để sự phai tàn diễn ra nhẹ nhàng, như vuốt ve trìu mến nhé thu.

Mộng hiền ngày tháng dần trôi...
Thu ơi! Chậm lại khoan rơi lá mùa
Gió ơi! Lay chút hương xưa
Vuốt ve hôn khẽ cho vừa... ngọt môi!

Nếu mùa thu phải lấy đi những gì đã cho, hãy làm điều đó thật nhẹ nhàng, để những chiếc lá không héo tàn cùng một lúc. Bởi vì trong sự rơi rụng của lá, tôi thấy những nỗi buồn thầm lặng của chính mình đang trút xuống, từng chút.. từng chút một. Và tôi chưa sẵn sàng để mất thu trước khi tôi hiểu được thu

Lá ơi đừng vội vàng rơi
Để ta được chút thảnh thơi đón mùa
Êm êm tròn mộng thu cho


Hãy để tôi nhặt chúng lên. Hãy để tôi giữ chúng trong tay đủ lâu để hàn gắn những gì đã vỡ vụn trong tôi, để khâu lại những vết thương vô hình, để tạo nên một điều gì đó trọn vẹn từ nỗi đau âm thầm này. Có lẽ khi đó, khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống và cành cây trơ trụi, tôi sẽ không còn cảm thấy trống rỗng nữa. Có lẽ khi đó, tôi sẽ học được cách ở lại.

Xin kéo thời gian thu chậm qua
Cho đêm mê mải ngắm trăng già
Vương hồn hoang lạc tình năm cũ
Ôm giữ trọn đời tóc điểm pha

Ai lá tình thu! Chợt vương sang
Nâng niu ấp ủ nắng ươm vàng
Cho vào túi áo bên ngực trái
Tựa vào tim phải khẽ yêu ai!

Kim Oanh
Gửi Thu 2026


Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Tuổi Học Trò - Mộng Mơ

 

Bài Xướng:

Tuổi Học Trò


(Thể Lưỡng Đầu Xà)

Hờ hững chi em chớ hững hờ
Thơ tình anh viết gửi tình thơ
Hẹn hò trước cổng trường hò hẹn
Chờ đợi bên tàng Phượng đợi chờ
Nghếch ngốc mỏi mòn thời ngốc nghếch
Ngơ ngu si dại thuở ngu ngơ
Bút lưu kỷ niệm trang lưu bút
Mơ mộng học trò tuổi mộng mơ!


Duy Anh
Summer in Orlando FL. 5/2026
***
Bài Họa:

Mộng Mơ

Hờ ơ người hỡi chớ ơ hờ
Thơ thẩn đêm trường dạ thẩn thơ.
Hẹn ước se duyên nguyền ước hẹn
Chờ mong kết tóc vẹn mong chờ.
Ngốc ngu trí lãng nên ngu ngốc
Ngơ ngẩn lòng buồn khiến ngẩn ngơ.
Bút nét ngày xanh từng nét bút
Mơ tình để lỡ chuyện tình mơ...


Kim Oanh
 

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)

  

Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn)

Con Cò
***
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương.
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?

Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.

Kim Oanh
***

Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?

Thanh Vân
***
Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia


Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn:

Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?

Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:

This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Thiếu Đoàn Đống Đa - Hướng Đạo Việt Nam Đạo Phiên An - Châu Gia Định

(Kính Tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết, Đạo Trưởng Đạo Phiên An, các Anh Chị Trưởng và các Hướng Đạo Sình Đạo Phiên An)

Thiếu Đoàn Đống Đa, Đạo Phiên An, Châu Gia Định được thành lập vào năm 1967. Thiếu Trưởng là Trưởng Phan Hùng Tiến. hai Trưởng Phụ Tá là Nguyễn Văn Trí và Trần Đình Phước.Cả ba chúng tôi đều được Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết đề cử theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu. Lúc này, tình hình chiến sự đang sôi động, nên các Khoá Huấn Luyện của Hội Hướng Đạo đến tổ chức tại Thảo cầm Viên, Sài Gòn vào hai ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật cuối tuần, chia ra làm hai lần.

Tôi được theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu Khoá Trần Quốc Toản 15 vào 4 ngày 5, 6 và 12, 13 Tháng 07, năm 1967 do Trưởng kỳ cựu của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam làm Trại Trưởng. Đó là Trưởng Lê Mộng Ngọ, tên Rừng là Ong Lắm Mật. Các học sinh Trường Trung Học Công Lập Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định đều không thể nào quên Trưởng, vì Trưởng là Tổng Giám Thị có tiếng là kỷ luật và nghiêm khắc với học sinh.

Thiếu Đoàn họp mặt vào mỗi Chúa Nhật từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Quận Bình Thạnh, Tỉnh Gia Định. Ngoài những sinh hoạt Hướng Đạo thường lệ như học luật, lời hứa, ca hát, kỹ năng chuyên môn Morse, Sémaphore, nút dây, dựng lều, cứu thương…Thiếu Đoàn Đống Đa còn tham gia các hoạt động thiện nguyện, phục vụ cộng đồng và công tác xã hội.

Đặc biệt, cùng Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định đón tiếp, phân phát thực phẩm, thuốc men cho bà con lánh nạn Tết Mậu Thân năm 1968 tại Trường Tiểu Học Đông Ba, thuộc Ấp Đông Ba, Đường Trần Tế Xương, Quận Phú Nhuận, Tỉnh Gia Định, gần trường Trung Học Tư Thục Đạt Đức. Công tác tiếp đến, giúp Ty Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu cho các em mồ côi.

Giữa Năm Mậu Thân, Trưởng Phan Hùng Tiến và tôi tình nguyện vào Không Quân VNCH, còn Trưởng Nguyễn Văn Trí tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH. Vì thế! Thiếu Đoàn Đống Đa không có Trưởng hướng dẫn các em sinh hoạt.

Để giúp các em không bị gián đoạn. Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết và Đạo Phó Huỳnh Văn Nhì thay phiên hướng dẫn các em. Nếu tuần nào hai Trưởng bận công việc không đến được thì các em sinh hoạt theo:”Hàng Đội Tự Trị”.

Tôi nhập ngũ Khoá 7/68 Không Quân vào ngày 30 Tháng 09, năm 1968. Trước đó, các Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân đều được gửi đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân, Nha Trang. Nhưng vì nhu cầu cấp thiết Khoá 7/68 KQ và vài Khoá thuộc tài khoá năm 1968 được gửi đi học giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Nhờ thế! Tôi có dịp trở lại sinh hoạt với các Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đống Đa mỗi khi được đi phép vào cuối tuần.

Thấm thoát đã hơn nửa Thế Kỷ trôi qua. Giờ đây, các Trưởng và các em đều, hoặc ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy. Kẻ còn, người mất, tứ tán khắp mọi nơi. Tôi chỉ còn gặp lại vài Trưởng và vài em Hướng Đạo Sinh ngày xa xưa đó!

Những kỷ niệm sinh hoạt Hướng Đạo, những kỳ trại Đoàn, Đạo ở Long Thành (đất nhà của Song Thân Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết), Suối Lồ Ồ, Long Hải, Vũng Tàu, Suối Tiên, Con Nai Vàng Ngơ Ngác (Thủ Đức), Bình Nhâm ( Lái Thiêu), Thanh Đa (Bình Quới)…

Các em được tham gia các trò chơi theo Phương Pháp Hướng Đạo rất bổ ích, những bài hát ngắn vui tươi, những đêm thanh vắng trong ánh lửa bập bùng, cùng ngồi tĩnh tâm, tâm sự, nói lên những suy nghĩ từ đáy lòng về thời gian tham gia Hướng Đạo đã học hỏi được những điều gì hữu ích cho bản thân bên lửa tàn, mà kỷ niệm này không thể nào quên được.

Đặc biệt, những Hướng Đạo Sinh sáng sớm hôm sau được làm lễ Tuyên Hứa, Khi đưa bàn tay trái đặt lên lá cờ Hướng Đạo, tay phải giơ cao chào 3 ngón và môi ấp úng xúc động không thể thốt ra lời:

Tôi lấy Danh Dự hứa cố gắng hết sức:

- Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi.
- Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào.
- Tuân theo Luật Hướng Đạo.
Luật Hướng Đạo (trước năm 1975)

1-Hướng đạo sinh trọng Danh Dự để ai cũng có thể tin lời của Hướng ĐạoSinh.
2- Hướng Đạo Sinh trung thành với Tổ Quốc, cha mẹ và người cộng sự.
3- Hướng Đạo Sinh có bổn phận giúp ích mọi người bất cứ lúc nào..
4- Hướng Đạo Sinh là bạn của khắp mọi người và xem các Hướng Đạo Sinh khác như ruột thịt.
5 -Hướng Đạo Sinh lễ độ và liêm khiết.
6- Hướng Đạo Sinh yêu thương các sinh vật.
7- Hướng Đạo Sinh vâng lời cha mẹ, huynh trưởng mà không biện bác.
8- Hướng Đạo Sinh gặp khó khăn vẫn vui tươi.
9- Hướng Đạo Sinh tằn tiện của mình và của người.
10 -Hướng Đạo Sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Chỉ những Hướng Đạo Sinh được Tuyên Hứa mới chính thức được công nhận là Hướng Đạo Sinh của Phong Trào.

Các Hướng Đạo Sinh dễ nhận ra nhau bằng tiếng huýt gió ” Là La Lá La Là Lá Là Là Là Là La”.Khi gặp nhau đưa bàn tay trái ra bắt và giơ cao tay phải chào 3 ngón (trỏ, giữa và đeo nhẫn) tượng trưng cho 3 điều trong Lời Hứa Hướng Đạo. Ngón cái để trên ngón út, tượng trưng cho kỷ luật và đoàn kết. Người mạnh bảo vệ kẻ yếu đuối và cô thế.

Châm Ngôn Hướng Đạo luôn luôn nằm lòng:

“Once a Scout, Always a Scout”
Xin gửi vài hình ảnh sinh hoạt với các em Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đồng Đa trong một lần tôi được về phép đặc biệt cuối tuần vào Chúa Nhật 12 Tháng 01, năm 1969, lúc đó tôi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức và vài hình ảnh Hướng Đạo “Ngày Xưa Còn Bé” của tôi.





Voi Chăm Chỉ Trần Đình Phước
(Đạo Phiên An - Châu Gia Định)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Trung Thu Và Má ...

   

Nhắc đến ngày Trung Thu và những dòng cảm xúc về Mẹ, người ta thường nhớ ngay đến áng văn tràn đầy tình cảm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, mang tên Bông Hồng Cài Áo. 

"Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta..."

Đoạn văn ấy thấm đẫm chất thơ, dịu dàng và sâu lắng như một vầng trăng tỏa sáng và hình ảnh người Mẹ đẹp vô ngần

Từ ý niệm thiêng liêng đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Thật diễm phúc cho những ai đang còn Mẹ.

"Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn"

Tôi nhớ ngày con gái tôi còn bé, tôi đưa cháu học tiếng Việt cuối tuần. Khi đón cháu về,trên xe cháu tự hào khoe với tôi. Mẹ ơi, hôm nay Dì Sáu Phượng dạy,(chị tôi là cô giáo dạy tiếng Việt) con học thuộc làu bài thơ. Tôi bảo con đọc và tôi bật cười vì ...

"Năm xưa tôi còn bé, 
Mẹ tôi mới chào đời, 
Lần đầu tôi mới hiểu 
Thân phận kẻ mồ côi. 

Bạn có biết sao tôi cười không?
Cháu đã đọc nhầm chữ "qua đời" thành chữ "chào đời". Hai chữ này có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược 
Vì sự nhầm lẫn ngây ngô của trẻ thơ, câu thơ của cháu bỗng nhiên mang một ý nghĩa rất nghịch lý: Mẹ mới sinh ra "chào đời" mà người con lại thành "kẻ mồ côi". Thực chất, đây là những dòng thơ vô cùng xúc động trong bài Mất Mẹ (hay còn có tên là Khóc Mẹ) của nhà thơ Xuân Tâm:

"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận kẻ mồ côi..."

Đi học về mà con tự hào khoe đã "thuộc làu" bài thơ để tặng mẹ thì đúng là một kỷ niệm vừa ấm áp, vừa buồn cười, vừa đáng yêu vô cùng. 

Má của con ơi...

Như đêm nay bầu trời thật sáng, con lại thấm " thân phận kẻ mồ côi" .Bên vầng trăng con thì thầm nhớ Má. Mới đó mà ngày Má qua đời đã 24 năm rồi

Trăng ơi vằng vặc trên cao
Có nghe tiếng má ngọt ngào ầu ơ
Lặng chờ cho đến bao giờ
Giọt rơi giọt tủi bơ vơ một mình

Ngày Tết Trung Thu chính là ngày Tết của đoàn viên, ngày mà vầng trăng rằm tỏa sáng tròn đầy nhất trên bầu trời. Đứng dưới ánh trăng ấy, những người con viễn xứ hay những ai may mắn còn mẹ đều không khỏi bồi hồi khi nghĩ về đấng sinh thành.
Có phải vầng thơ hay đoạn văn trong tác phẩm ấy đang gợi lại cho con những kỷ niệm sâu sắc trong lòng. Những hoài niệm đón Trung Thu thanh bình ngày xưa bên gia đình mình.

Năm nay ngày giỗ Má cũng đúng ngày Tết Trung Thu, con cũng được an ủi phần nào khi nhớ về ngày tháng xa xưa, một hồi ức khó quên, một kỷ niệm này lại làm con nhớ đến khoảng thời gian ấm áp ấy. 

Cả nhà quây quần quanh manh chiếu trải ở sân vườn, cùng nhau đàn hát dưới ánh trăng, những bài ca nhi đồng, chóp chép hạt dưa, hạt sen rang, bánh mứt ngọt ngào hương vị, Như bài hát Rước Đèn Tháng Tám rộn rã niềm vui của Nhạc Sĩ Đức Quỳnh:

"Tết Trung Thu
Bánh quà đầy mâm
Em bé nhà
Ưa đứng quây quần
.....
Hạt dưa
Nghe cắn nổ lốp đốp
Người vui hoan
Nói cười hấp tấp
Bao tấm lòng
Mừng đón trăng rằm"
....
Tít trên cao dáng tròn xinh xinh.
Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng.
Rằm tháng tám bóng hằng trong sáng.
Em múa ca vui đón chị Hằng."


Nhất là hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm con, dáng Má ôm đàn Mandolin, đàn và reo dòn dã. Cả nhà hòa tiếng hát Thằng Cuội của Nhạc Sĩ Lê Thương. Phải chăng Má là chị Hằng của con, để con được " múa ca vui đón Má". Giờ đây tâm trạng con cũng không khác chi chú Cuội đang ôm mãi "một mối mơ"... 

"Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ
....
Mười lăm tháng Tám trời cho
Một ông trăng sáng thật to
Các em thích cười muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang"

Thật là một niềm hạnh phúc trọn vẹn và ấm áp vô cùng. Việc  tiếp tục truyền ngọn lửa văn hóa từ thế hệ con sang thế hệ cháu, rồi đến cả các em thiếu nhi trong cộng đoàn, chính là cách giữ gìn cội nguồn bền vững nhất của người Việt nơi hải ngoại.
Hình ảnh người bà, người cô cùng các em nhỏ rước đèn, trong đêm rằm gợi lên sự nối tiếp thiêng liêng đầy tình gia đình và nghĩa đồng bào. 

'Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
.....
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính
Em rước đèn này đến cung trăng"

Dù không còn ở quê nhà, nhưng chính những lớp học tiếng Việt cuối tuần và những đêm Trung Thu như thế này đã tạo nên một không gian văn hóa Việt Nam thu nhỏ, thanh bình và đầy ắp tiếng cười trẻ thơ.
Nhìn các cháu nhỏ tung tăng cầm chiếc lồng đèn giấy kiếng, bập bẹ hát những bài đồng dao tiếng Việt, chắc hẳn trong lòng các phụ huynh cũng đầy ắp niềm tự hào và xúc động.
Chính Ba Má đã gieo vào lòng con trẻ sợi dây yêu thương thiêng liêng này, từ đời này qua đời khác trong con cháu đời nay.

Má ơi, đêm nay dưới ánh trăng con khẩn nguyện cho Má của con thật vui và hạnh phúc, trong từng lời  hát con đang thì thầm với Má. Má là ánh trăng soi sáng đời các con cháu và dẫn dắt chúng con, để chúng con được  tiếp bước Ba Má đi trong thánh thiện và yêu thương nha Má của con!
Thương yêu con gửi về Má!

Con gái Chín của Má.
Kim Oanh
Giỗ lần thứ 24 của Má 2026