Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)

  

Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn)

Con Cò
***
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương.
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?

Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.

Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?

Thanh Vân
***
Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia


Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn:

Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?

Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:

This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Thiếu Đoàn Đống Đa - Hướng Đạo Việt Nam Đạo Phiên An - Châu Gia Định

(Kính Tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết, Đạo Trưởng Đạo Phiên An, các Anh Chị Trưởng và các Hướng Đạo Sình Đạo Phiên An)

Thiếu Đoàn Đống Đa, Đạo Phiên An, Châu Gia Định được thành lập vào năm 1967. Thiếu Trưởng là Trưởng Phan Hùng Tiến. hai Trưởng Phụ Tá là Nguyễn Văn Trí và Trần Đình Phước.Cả ba chúng tôi đều được Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết đề cử theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu. Lúc này, tình hình chiến sự đang sôi động, nên các Khoá Huấn Luyện của Hội Hướng Đạo đến tổ chức tại Thảo cầm Viên, Sài Gòn vào hai ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật cuối tuần, chia ra làm hai lần.

Tôi được theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu Khoá Trần Quốc Toản 15 vào 4 ngày 5, 6 và 12, 13 Tháng 07, năm 1967 do Trưởng kỳ cựu của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam làm Trại Trưởng. Đó là Trưởng Lê Mộng Ngọ, tên Rừng là Ong Lắm Mật. Các học sinh Trường Trung Học Công Lập Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định đều không thể nào quên Trưởng, vì Trưởng là Tổng Giám Thị có tiếng là kỷ luật và nghiêm khắc với học sinh.

Thiếu Đoàn họp mặt vào mỗi Chúa Nhật từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Quận Bình Thạnh, Tỉnh Gia Định. Ngoài những sinh hoạt Hướng Đạo thường lệ như học luật, lời hứa, ca hát, kỹ năng chuyên môn Morse, Sémaphore, nút dây, dựng lều, cứu thương…Thiếu Đoàn Đống Đa còn tham gia các hoạt động thiện nguyện, phục vụ cộng đồng và công tác xã hội.

Đặc biệt, cùng Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định đón tiếp, phân phát thực phẩm, thuốc men cho bà con lánh nạn Tết Mậu Thân năm 1968 tại Trường Tiểu Học Đông Ba, thuộc Ấp Đông Ba, Đường Trần Tế Xương, Quận Phú Nhuận, Tỉnh Gia Định, gần trường Trung Học Tư Thục Đạt Đức. Công tác tiếp đến, giúp Ty Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu cho các em mồ côi.

Giữa Năm Mậu Thân, Trưởng Phan Hùng Tiến và tôi tình nguyện vào Không Quân VNCH, còn Trưởng Nguyễn Văn Trí tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH. Vì thế! Thiếu Đoàn Đống Đa không có Trưởng hướng dẫn các em sinh hoạt.

Để giúp các em không bị gián đoạn. Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết và Đạo Phó Huỳnh Văn Nhì thay phiên hướng dẫn các em. Nếu tuần nào hai Trưởng bận công việc không đến được thì các em sinh hoạt theo:”Hàng Đội Tự Trị”.

Tôi nhập ngũ Khoá 7/68 Không Quân vào ngày 30 Tháng 09, năm 1968. Trước đó, các Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân đều được gửi đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân, Nha Trang. Nhưng vì nhu cầu cấp thiết Khoá 7/68 KQ và vài Khoá thuộc tài khoá năm 1968 được gửi đi học giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Nhờ thế! Tôi có dịp trở lại sinh hoạt với các Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đống Đa mỗi khi được đi phép vào cuối tuần.

Thấm thoát đã hơn nửa Thế Kỷ trôi qua. Giờ đây, các Trưởng và các em đều, hoặc ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy. Kẻ còn, người mất, tứ tán khắp mọi nơi. Tôi chỉ còn gặp lại vài Trưởng và vài em Hướng Đạo Sinh ngày xa xưa đó!

Những kỷ niệm sinh hoạt Hướng Đạo, những kỳ trại Đoàn, Đạo ở Long Thành (đất nhà của Song Thân Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết), Suối Lồ Ồ, Long Hải, Vũng Tàu, Suối Tiên, Con Nai Vàng Ngơ Ngác (Thủ Đức), Bình Nhâm ( Lái Thiêu), Thanh Đa (Bình Quới)…

Các em được tham gia các trò chơi theo Phương Pháp Hướng Đạo rất bổ ích, những bài hát ngắn vui tươi, những đêm thanh vắng trong ánh lửa bập bùng, cùng ngồi tĩnh tâm, tâm sự, nói lên những suy nghĩ từ đáy lòng về thời gian tham gia Hướng Đạo đã học hỏi được những điều gì hữu ích cho bản thân bên lửa tàn, mà kỷ niệm này không thể nào quên được.

Đặc biệt, những Hướng Đạo Sinh sáng sớm hôm sau được làm lễ Tuyên Hứa, Khi đưa bàn tay trái đặt lên lá cờ Hướng Đạo, tay phải giơ cao chào 3 ngón và môi ấp úng xúc động không thể thốt ra lời:

Tôi lấy Danh Dự hứa cố gắng hết sức:

- Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi.
- Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào.
- Tuân theo Luật Hướng Đạo.
Luật Hướng Đạo (trước năm 1975)

1-Hướng đạo sinh trọng Danh Dự để ai cũng có thể tin lời của Hướng ĐạoSinh.
2- Hướng Đạo Sinh trung thành với Tổ Quốc, cha mẹ và người cộng sự.
3- Hướng Đạo Sinh có bổn phận giúp ích mọi người bất cứ lúc nào..
4- Hướng Đạo Sinh là bạn của khắp mọi người và xem các Hướng Đạo Sinh khác như ruột thịt.
5 -Hướng Đạo Sinh lễ độ và liêm khiết.
6- Hướng Đạo Sinh yêu thương các sinh vật.
7- Hướng Đạo Sinh vâng lời cha mẹ, huynh trưởng mà không biện bác.
8- Hướng Đạo Sinh gặp khó khăn vẫn vui tươi.
9- Hướng Đạo Sinh tằn tiện của mình và của người.
10 -Hướng Đạo Sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Chỉ những Hướng Đạo Sinh được Tuyên Hứa mới chính thức được công nhận là Hướng Đạo Sinh của Phong Trào.

Các Hướng Đạo Sinh dễ nhận ra nhau bằng tiếng huýt gió ” Là La Lá La Là Lá Là Là Là Là La”.Khi gặp nhau đưa bàn tay trái ra bắt và giơ cao tay phải chào 3 ngón (trỏ, giữa và đeo nhẫn) tượng trưng cho 3 điều trong Lời Hứa Hướng Đạo. Ngón cái để trên ngón út, tượng trưng cho kỷ luật và đoàn kết. Người mạnh bảo vệ kẻ yếu đuối và cô thế.

Châm Ngôn Hướng Đạo luôn luôn nằm lòng:

“Once a Scout, Always a Scout”
Xin gửi vài hình ảnh sinh hoạt với các em Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đồng Đa trong một lần tôi được về phép đặc biệt cuối tuần vào Chúa Nhật 12 Tháng 01, năm 1969, lúc đó tôi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức và vài hình ảnh Hướng Đạo “Ngày Xưa Còn Bé” của tôi.





Voi Chăm Chỉ Trần Đình Phước
(Đạo Phiên An - Châu Gia Định)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Trung Thu Và Má ...

   

Nhắc đến ngày Trung Thu và những dòng cảm xúc về Mẹ, người ta thường nhớ ngay đến áng văn tràn đầy tình cảm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, mang tên Bông Hồng Cài Áo. 

"Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta..."

Đoạn văn ấy thấm đẫm chất thơ, dịu dàng và sâu lắng như một vầng trăng tỏa sáng và hình ảnh người Mẹ đẹp vô ngần

Từ ý niệm thiêng liêng đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Thật diễm phúc cho những ai đang còn Mẹ.

"Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn"

Tôi nhớ ngày con gái tôi còn bé, tôi đưa cháu học tiếng Việt cuối tuần. Khi đón cháu về,trên xe cháu tự hào khoe với tôi. Mẹ ơi, hôm nay Dì Sáu Phượng dạy,(chị tôi là cô giáo dạy tiếng Việt) con học thuộc làu bài thơ. Tôi bảo con đọc và tôi bật cười vì ...

"Năm xưa tôi còn bé, 
Mẹ tôi mới chào đời, 
Lần đầu tôi mới hiểu 
Thân phận kẻ mồ côi. 

Bạn có biết sao tôi cười không?
Cháu đã đọc nhầm chữ "qua đời" thành chữ "chào đời". Hai chữ này có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược 
Vì sự nhầm lẫn ngây ngô của trẻ thơ, câu thơ của cháu bỗng nhiên mang một ý nghĩa rất nghịch lý: Mẹ mới sinh ra "chào đời" mà người con lại thành "kẻ mồ côi". Thực chất, đây là những dòng thơ vô cùng xúc động trong bài Mất Mẹ (hay còn có tên là Khóc Mẹ) của nhà thơ Xuân Tâm:

"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận kẻ mồ côi..."

Đi học về mà con tự hào khoe đã "thuộc làu" bài thơ để tặng mẹ thì đúng là một kỷ niệm vừa ấm áp, vừa buồn cười, vừa đáng yêu vô cùng. 

Má của con ơi...

Như đêm nay bầu trời thật sáng, con lại thấm " thân phận kẻ mồ côi" .Bên vầng trăng con thì thầm nhớ Má. Mới đó mà ngày Má qua đời đã 24 năm rồi

Trăng ơi vằng vặc trên cao
Có nghe tiếng má ngọt ngào ầu ơ
Lặng chờ cho đến bao giờ
Giọt rơi giọt tủi bơ vơ một mình

Ngày Tết Trung Thu chính là ngày Tết của đoàn viên, ngày mà vầng trăng rằm tỏa sáng tròn đầy nhất trên bầu trời. Đứng dưới ánh trăng ấy, những người con viễn xứ hay những ai may mắn còn mẹ đều không khỏi bồi hồi khi nghĩ về đấng sinh thành.
Có phải vầng thơ hay đoạn văn trong tác phẩm ấy đang gợi lại cho con những kỷ niệm sâu sắc trong lòng. Những hoài niệm đón Trung Thu thanh bình ngày xưa bên gia đình mình.

Năm nay ngày giỗ Má cũng đúng ngày Tết Trung Thu, con cũng được an ủi phần nào khi nhớ về ngày tháng xa xưa, một hồi ức khó quên, một kỷ niệm này lại làm con nhớ đến khoảng thời gian ấm áp ấy. 

Cả nhà quây quần quanh manh chiếu trải ở sân vườn, cùng nhau đàn hát dưới ánh trăng, những bài ca nhi đồng, chóp chép hạt dưa, hạt sen rang, bánh mứt ngọt ngào hương vị, Như bài hát Rước Đèn Tháng Tám rộn rã niềm vui của Nhạc Sĩ Đức Quỳnh:

"Tết Trung Thu
Bánh quà đầy mâm
Em bé nhà
Ưa đứng quây quần
.....
Hạt dưa
Nghe cắn nổ lốp đốp
Người vui hoan
Nói cười hấp tấp
Bao tấm lòng
Mừng đón trăng rằm"
....
Tít trên cao dáng tròn xinh xinh.
Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng.
Rằm tháng tám bóng hằng trong sáng.
Em múa ca vui đón chị Hằng."


Nhất là hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm con, dáng Má ôm đàn Mandolin, đàn và reo dòn dã. Cả nhà hòa tiếng hát Thằng Cuội của Nhạc Sĩ Lê Thương. Phải chăng Má là chị Hằng của con, để con được " múa ca vui đón Má". Giờ đây tâm trạng con cũng không khác chi chú Cuội đang ôm mãi "một mối mơ"... 

"Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ
....
Mười lăm tháng Tám trời cho
Một ông trăng sáng thật to
Các em thích cười muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang"

Thật là một niềm hạnh phúc trọn vẹn và ấm áp vô cùng. Việc  tiếp tục truyền ngọn lửa văn hóa từ thế hệ con sang thế hệ cháu, rồi đến cả các em thiếu nhi trong cộng đoàn, chính là cách giữ gìn cội nguồn bền vững nhất của người Việt nơi hải ngoại.
Hình ảnh người bà, người cô cùng các em nhỏ rước đèn, trong đêm rằm gợi lên sự nối tiếp thiêng liêng đầy tình gia đình và nghĩa đồng bào. 

'Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
.....
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính
Em rước đèn này đến cung trăng"

Dù không còn ở quê nhà, nhưng chính những lớp học tiếng Việt cuối tuần và những đêm Trung Thu như thế này đã tạo nên một không gian văn hóa Việt Nam thu nhỏ, thanh bình và đầy ắp tiếng cười trẻ thơ.
Nhìn các cháu nhỏ tung tăng cầm chiếc lồng đèn giấy kiếng, bập bẹ hát những bài đồng dao tiếng Việt, chắc hẳn trong lòng các phụ huynh cũng đầy ắp niềm tự hào và xúc động.
Chính Ba Má đã gieo vào lòng con trẻ sợi dây yêu thương thiêng liêng này, từ đời này qua đời khác trong con cháu đời nay.

Má ơi, đêm nay dưới ánh trăng con khẩn nguyện cho Má của con thật vui và hạnh phúc, trong từng lời  hát con đang thì thầm với Má. Má là ánh trăng soi sáng đời các con cháu và dẫn dắt chúng con, để chúng con được  tiếp bước Ba Má đi trong thánh thiện và yêu thương nha Má của con!
Thương yêu con gửi về Má!

Con gái Chín của Má.
Kim Oanh
Giỗ lần thứ 24 của Má 2026
 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Những Đóa Hoa Đời - Huy Văn(HVC)

 

Tôi gửi tặng Em đóa hoa lòng
Dù đã qua rồi tuổi đợi mong
Vẫn còn đâu đó tim thổn thức
Rồi Xuân sẽ đến lúc tàn đông.

Tôi giữ cho đời đóa tình thương
Là hoa tôi hái giữa chiến trường
Một thời chinh chiến buồn đất nước
Hoa Tình Thương vẫn thắm nồng hương.

Tôi mang cho người đóa hoa mơ
Đẹp như tâm tưởng lúc ban sơ
Mang mùa trăng cũ vào giấc ngủ
Thả mộng khải huyền trên nhánh thơ.

Tôi ép trong lòng cánh hướng dương
Làm nguồn đuốc sáng lúc soi đường
Cho thiên thu tỏ lòng Sắp Sẵn
Tâm an, thân lạc giữa vô thường.

Tôi vẫn vun trồng hoa Bách Hợp
Trong vườn Hướng Đạo đến cuối đời
Ba ngón chỉ trời, lòng tuyên hứa
Mang trái tim yêu tặng muôn nơi.

Tôi vẫn hằng mong đóa từ tâm
Là lòai hoa nở rất âm thầm
Trong Anh, trong Chị, trong cuộc sống
Sẽ mãi tỏa hương suốt đời trần.

Huy Văn

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long Ca

Trích từ CD "Tình Khúc Văn An & Vũ Nhân", gồm 10 ca khúc do ca sĩ của các đài phát thanh trình bày.

01. Thu Tàn (Văn An & Vũ Nhân) - Minh Đỗ đơn ca 
02. Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long đơn ca 
03. Sóng Tình (Vũ Nhân) - Tuyết Hằng đơn ca 
04. Kìa Vầng Trăng Lên (Văn An) - Minh Ngọc đơn ca
05. Tình Gửi Một Đêm Trăng (Vũ Nhân) - Từ Hà đơn ca 
06. Tình Thắm (Vũ Nhân) - Mai Hương đơn ca 
07. Chiều Đợi Chờ (Văn An) - Thanh Hằng đơn ca 
08. Màu Ngọc Bích (Vũ Nhân) - Thục Hiền đơn ca 
09. Cung Đàn Nhớ Nhau (Vũ Nhân) - Kim Tước đơn ca 
10. Tình Mơ (Văn An & Thanh Hằng) - Văn Huy & Thanh Hằng song ca 

Ghi chú: 
Từ Hà là ca sĩ trong chương trình Nhạc Chủ Đề do Vũ Thành An & Nguyễn Đình Toàn sáng lập. Từ Hà và Nguyễn Đình Toàn có thể là cùng một người. 
Minh Đỗ & Minh Ngọc là ca sĩ của đài vô tuyến điện Hà Nội trong thập niên 1940. 
Thục Hiền là ca sĩ trong ban nhạc Thanh Bình do nhạc sĩ Vũ Nhân điều khiển. 
Vũ Nhân và Văn Như Hoàng Băng là cùng một người. 
Văn Huy và Văn An là cùng một người. 
Thanh Hằng là ca sĩ, Thủ Khoa kỳ thi hát của đài phát thanh Hà Nội, 1953. 
Kim Tước, Mai Hương, Ngọc Long & Tuyết Hằng là ca sĩ đài phát thanh Sài Gòn.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Mãi Gọi Tên...

 

Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Hãy giữ tình ta mãi vững bền.
Gói chút hương nồng trong nếp áo,
Giữ lòng nguyên vẹn thuở kề bên.

Dẫu lối đường đời muôn ngả rẽ,
Mưa chiều giá lạnh bến hoàng hôn.
Người ơi nghe tiếng lòng tha thiết,
Nỗi nhớ âm thầm mãi gọi tên
.

Kim Oanh
9. 2026

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Những Con Tàu Đã Kéo Người Việt Ra Khỏi Cõi Chết - Phạm Sơn Liêm


Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng.
Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước.
Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay.
Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa.
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy…
đã có hai con tàu mang hình dáng của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay…
những người từng được vớt lên từ lòng biển chết ấy còn nhớ không?
Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi?
Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại:
“Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô.
Đứa con gái tôi mới ba tuổi nằm mê man vì sốt.
Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc:
-Mình ơi… chắc gia đình mình chết ngoài biển rồi…
Tôi không trả lời được.
Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la lớn:
- Slowly! Slowly!
- Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước.
Đứa bé đã bất tỉnh.
Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong.
Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay:
- Trời ơi… con tôi sống rồi… con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt.
Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau.
Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière — “Đảo Ánh Sáng.”
Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể:
“Tôi bị sốt rét và kiệt sức.
Tưởng mình chết rồi.
Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm chậm:
- No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh.
Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào.
Không hỏi họ giàu hay nghèo.
Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur — con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình:
“Nếu không có Cap Anamur…
thì hôm nay làm gì có ba.
Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh.
Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức…
Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng cứu gia đình mình.
Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa từng quen biết. Họ không cùng màu da.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng quê hương.
Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam.
Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá.
Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và
Île de Lumière
cùng
Cap Anamur
chính là hai tượng đài như thế.

Phạm Sơn Liêm