Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Người Ở Đâu Đêm Nay? - Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành - Tiếng Hát: An Minh

 
1.
Người ở đâu đêm nay khi ngoài kia bóng tối
khi ngoài kia giá buốt giăng đầy?
Một vì sao đơn côi đang lập loè chỉ lối
Cho nguời ngay bước tới giữa chốn u mê nơi nơi.
Người ở đâu đêm nay khi niềm tin sắp đuối
Khi rừng gươm giáo mới đã đứng vây quanh cuộc đời dân tôi.

Người ở đâu đêm nay xin về nơi chốn ấy
Cho triệu dân sẽ thấy một chút yên tâm đêm nay.
Tân cùng 30 năm, bao cầu xin đã vắng
Bao mùa Đông đã trắng, dấu vết đau thương hôm nay đã hằn.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
khi 30 năm vẫn nguyên lời nguyện này.
Người hỡi, thử thách này lớn quá không?
Hay niềm tin con héo hon?
Hay dân tộc này đang cơn nghiệt ngã giữa sống còn?

2.
Người ở đâu đêm nay khi vòng vây đã xiết
Giáo đường xưa đã hết lối về
Nào người chăn chiên xưa, đâu về miền đất hứa
Cho niềm tin cứu rỗi hôm nao trở thành chiêm bao.
Người buồn không đêm nay, bao lời kinh đã cấm
Máu đàn chiên đã thấm trên bao bản làng xa xăm.

Người ở đâu đêm nay, xin gọi Hồn Sông Núi
Cho người người sẽ thấy cùng nỗi đau thương quanh đây
đoạ đày kia anh em, suy tàn kia giáo giới
để cùng nhau bước tới làm sáng danh tên của Người.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
Nhưng 30 năm vẫn xin lời nguyện này.
Người hỡi, chỉ có Người đến đêm nay (thấu cơn đau)
chỉ có Người biết đêm nay (mai sau)
Xin cho dân tộc này (can đảm thêm một ngày) cùng đứng lên một ngày.

Nguyễn Văn Thành

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Hạo Khí Trường Tồn - Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Minh Thanh

   


Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

Nguyễn Minh Thanh
------------
Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:
Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.

Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.

Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.

Sau năm 1975

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bà Trần Cẩm Hương bị kẹt lại Sài Gòn và phải đi tù cải tạo kéo dài suốt 10 năm dù đã giải ngũ trước đó.
Sau khi ra trại năm 1985, bà bị chỉ định lao động ở Hậu Nghĩa, ở một căn Chòi Lá giữa đồng khô, chịu sự kiểm soát của một góa phụ VC. Do phải lao động nặng nhọc với điều kiện sống khắc nghiệt, Bà đã bị cảm nặng dẫn tới viêm màng não. Gia đình có xin chuyển về Sài Gòn chữa trị .Song không được. Vì vậy Bà đã qua đời vào tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 61 tuổi.
Đám tang của Bà được thân quyến tổ chức tại ngôi nhà cũ ở đường Hồ Biểu Chánh, quận Phú Nhuận, SaiGon. Di hài Bà được hỏa thiêu tại lò thiêu vãng sanh Miền Cực Lạc Thủ Đức.

Tâm Cảm:

Người xưa có câu: Gia bần tri hiếu tử, Quốc nạn thức trung thần!! Hậu sinh xót thương Bà hồng nhan bạc phận, song dạ sắt lòng son. Xin nghiêm mình kính cẩn cảm nổi nhọc nhằn khốn khổ của Bà:
Cải tạo lao tù đăng đẳng cùng cực... sông dài khốn khổ... thảm thương tấm thân ra tiều tụy...!!!
Chỉ định cư trú thẳm thăm vất vả... biển rộng đọa đày... thống thiết bản mệnh đến cáo chung...!!!

Ngoài ra, hậu sinh kính nguyện cầu Bà được vãng sanh Miền Cực Lạc:
Cầu tinh anh tài đức vẹn toàn phơi phới vãng sanh thảnh thơi miền Cực Lạc
Nguyện thể phách đảm lược cao thâm châm chú phù trợ phấn phát giống Hồng Bàng

Dưới đây là bài thơ:
Giai Nữ Giữa Đời Phong Sương (của Trí Tuệ Nhân Tạo = AI)

Giai nữ một tấm lòng trong,
Giữa cơn binh lửa vẫn không đổi dời.
Nét nghiêm mà thắm nụ cười,
Đem nhân nghĩa trải khắp nơi quân trường.
Đời sau nhắc chuyện phong sương,
Càng thương dáng ngọc giữa đường gian lao.
Tên bà như ánh trăng cao,
Soi vào hậu thế ngọt ngào khí tâm.

TTNT

***Ngày 26 Tháng 2-2026, là ngày Giỗ lần thứ 39, của Giai Nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương.

Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)

Tạc Dạ Nghìn Sau...

 

Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gió
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay

Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu,
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới

Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió 
sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngổn ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt

Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!

Kim Oanh
28.4.2026


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Anh Không Chết Đâu Em - Sáng Tác:Trần Thiện Thanh

 
 (Đại Úy Nguyễn Văn Đương)


Sự Ra Đi Của Đại Uý Đương, Hạ Lào năm 1971.

Xin phép được giới thiệu hoàn cảnh hy sinh của Đại Uý Nguyễn văn Đương (Người hùng Mũ Đỏ trong bài hát nổi tiếng "Anh Không Chết Đâu Em" Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh), qua lời kể lại của Trung Tá Bùi Đức Lạc Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Dù, hiện định cư Mỹ. Duy chỉ có điểm cuối cùng, ai cũng biết đó là Đại Tá Thọ bị địch quân bắt giữ, được thả, xuất ngoại và về sau qua đời tại Úc, nhưng trong bài viết nói rằng Đại Tá Thọ cùng hy sinh với Đại Uý Đương.(có lẽ do người viết lại chưa chuẩn xác qua lời kể của Trung Tá Bùi Đức Lạc).

Trung Tá Bùi Đức Lạc Kể Về Cái Chết Của “Người Anh Hùng Mũ Đỏ Tên Đương”

Trung Tá Bùi Đức Lạc kể: “Lúc Nguyễn Văn Đương chết, tôi đang bay trên trời ngay trên đầu Nguyễn Văn Đương, nên tôi biết rất rõ, tại sao Nguyễn Văn Đương chết và chết như thế nào! Nguyễn Văn Đương là pháo đội trưởng Pháo Đội B3 Nhẩy Dù.
Trong căn cứ của anh, hiện có một pháo thủ là anh Đào Văn Thương, có thể đang có mặt tại đây, sau này là Mục Sư Đào Văn Thương. Những người trong Căn Cứ 31 hiện giờ không còn ai ở đây, nhưng các pháo thủ có mặt trong trận Hạ Lào, thì có Thiếu Tá Đào Kim Trọng (pháo đội trưởng Pháo Đội A.3 Dù), Thiếu Tá Lý Kim Điền (pháo đội trưởng Pháo Đội C1 Dù), Nguyễn Kim Việt (pháo đội phó Nhảy Dù) và pháo đội trưởng Pháo Đội C3 là Đại Úy Bành Kim Trí. Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh có một pháo đội 155 ly của Đại Úy Trương Như Hy, đóng tại Căn Cứ 30.

Ngày mà chúng tôi nhận được tin Trung Tướng Đỗ Cao Trí chết tức là ngày 21-2, ngày mà căn cứ chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đạn. Đạn dược trong trận Hạ Lào, tụi Việt Cộng rất là dư thừa, nhưng mình rất là khan hiếm nó ngược lại như vậy, và các súng tối tân của nó cũng trên mình hết, tức là các súng 130 ly và hỏa tiễn.
Ở miền Nam chúng ta chỉ bị pháo hỏa tiễn 122 ly, cùng lắm là 2 nòng mà thôi. Nhưng sang Hạ Lào, chúng dùng 6 nòng, bắn một lúc 6 trái và nó bắn không bao giờ dưới 6 tràng, tức là không bao giờ dưới 60 trái; đạn dược của nó dư dả như vậy, nên Căn Cứ 31 của chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đủ các loại đạn. Nhưng thật sự, chúng ta ở trong Pháo Binh biết, nếu mà 2.000 trái mà trúng căn cứ, thì chắc chúng tôi thành bụi hết rồi.
Nó pháo 2.000 trái chỉ trúng căn cứ tối đa là 10 trái; cũng may như thế mà giờ đây tôi có dịp trình bày với quý vị. Không có ngày nào nó pháo dưới 1.000 trái, nhưng đa số ra ngoài căn cứ hết. Hôm 21, khi nó tấn công Căn Cứ 31, thì chúng tôi bị pháo như thế và Căn Cứ 30 cũng bị pháo tương tự. Ngày 24, là ngày Căn Cứ 31 bị thất thủ, tôi và Đại Tá Lưỡng, không biết ai xin, nhưng khi máy bay trực thăng đáp xuống thì hai chúng tôi phải lên máy bay đi.

Chúng tôi đang bay quan sát cho Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, lúc đó Tiểu Đoàn 8 và một thiết đoàn đang đụng độ với Sư Đoàn 320 Việt Cộng. Ở bên các cánh quân khác như Lữ Đoàn 3, chỉ bị một sư đoàn tấn công, còn riêng Lữ Đoàn 1, ba tiểu đoàn Dù bị ba sư đoàn tấn công ngày đêm, không có lúc nào mà không có đơn xin tác xạ trên hệ thống tác xạ hết, thành ra trong trận Hạ Lào, anh em chúng tôi không bao giờ có một giấc ngủ trọn vẹn 10 phút, kể cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi đang bay quan sát trên không phận của Tiểu Đoàn 8, thì Căn Cứ 31 bị tấn công rất mạnh, tấn công giữa ban ngày.
Tất cả những trận đánh tại Căn Cứ 31 đều diễn ra ban ngày hết. Ban đêm chỉ là đặc công đánh nhỏ mà thôi. Khi nó tấn công thì từ chỗ tôi đang bay, nhìn qua Căn Cứ 31, chỗ Đương đang đụng trận, thì thấy những chiến xa của Việt Cộng lờ mờ không thấy rõ, tôi ước lượng khoảng 10 chiến xa. Lúc đó Nguyễn Văn Đương gọi cho tôi nói ‘Nó đông lắm anh ơi!’. Tôi hỏi: ‘Tình trạng bây giờ như thế nào?’.
Đương cho biết: ‘Lủng tuyến rồi anh ơi!’. Tôi nhìn đồng hồ khoảng 2 giờ 50 chiều. Vào khoảng 3 giờ thiếu 10, Nguyễn Văn Đương gọi nói: ‘Em chỉ còn hai cây súng bắn được thôi’, và sau đó Đương nói, ‘Em chỉ còn một cây súng bắn được thôi. Tức là 5 cây hư, chỉ còn độc nhất một cây’. Khoảng 4 giờ, Đương cho tôi biết là, ‘Chiến xa địch đang nằm trên đầu em’.

Lúc đó Đương đang ở dưới hầm và qua máy liên hợp, tôi nghe Đương nói với một nhân viên của anh: ‘Băng cho tao, máu ra nhiều quá rồi’. Lúc bấy giờ tôi mới biết tay phải của Nguyễn Văn Đương đã bị rớt rồi và chân Đương cũng bị trúng đạn, nhưng Đương vẫn bình tĩnh nói với tôi: ‘Em lên đạn bằng cái kiểu ngày xưa đó, tức là súng Col của Đương, Đương phải dùng tay phải tỳ vô cái dây nịt bụng mà lên đạn, không thể lên đạn bằng hai tay được nữa.
Khoảng 4 giờ hay 4 giờ 05 thì Đương nói: ‘11 ơi, em không liên lạc với 11 nữa, vĩnh biệt 11!’ và rồi tôi không nghe gì nữa.

Tôi nghĩ lúc đó Đương đã vĩnh biệt tất cả đồng đội. Trước khi chết, Đương cho tôi biết, anh chỉ còn có hai viên đạn cuối cùng trên nòng súng mà thôi! Và đó là cái chết của Nguyễn văn Đương trên mặt trận Hạ Lào. Sau đó khoảng 5 phút, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 gọi cho tôi nói: ‘11 làm ơn bắn ngay trên đầu tao đi’. Trên máy bay tôi cho lệnh tất cả các pháo đội sử dụng đạn nổ CVT, dù sao tôi cũng sợ bắn đạn thường rơi vào hầm hố của quân mình, nên tôi dùng đạn CVT.
Khai hỏa vào khoảng 4 giờ 15, thì tất cả 4 pháo đội đồng khai hỏa bắn vào Căn Cứ 31 và bắn giết cả bạn lẫn thù, lần đầu tiên trong đời pháo thủ của tôi! Khi tôi vừa ra lệnh bắn, thì Đại Tá Lưỡng và tôi cùng cả phi hành đoàn đều bật khóc. Đó là cái chết của Đại Úy Nguyễn Văn Đương và đại tá lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào”.

Mời thưởng thức ca khúc:  

Bùi Đức Lạc
(Trích từ Nguồn tvvn.org)

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Thu Muộn



Lá thu cố bám víu cành
Trăn trở cho lắm cũng đành rời cây
Lá buồn lặng lẽ thầm lay
Mong nương làn gió tận ngoài trùng xa
Lá về ẩn náu thân già
Dòng đời đưa đẩy biết là nơi đâu
Lá mù cơn lốc xoáy cao
Lênh đênh phận bạc chìm vào bể khơi
Lá trôi dạt tấp bến người
Thả trôi định mệnh thôi rồi tàn phai
Lá úa tình đậm hương say
Hoàng hôn dẫu muộn tình này vẫn son!

Kim Oanh
Thu 2026


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Bài Hành Tháng Tư

 

Nước mắt xót thương đời oan trái
Nụ cười không mang trọn niềm vui
Cứ thế lưu vong qua thời đại
sống tha hương trầm, bổng phận người.
 
Nếu thuở xưa nặng sầu quốc biến
thì ngày nay gặm nỗi đau thầm
Càng nhớ lúc dọc ngang, chinh chiến
càng buồn thêm mối hận chung thân.
 
Đất cằn in dấu chân lưu biệt
Tình khô theo năm tháng long đong
Một lần xa cách là vĩnh quyết
Nước tang thương, người cũng xuôi dòng!
 
Xưa can qua tưởng đời phận bạc
Nay thiên di mới hiểu lụy trầm
Chẳng phải lục bình sao trôi dạt!?
Nước xa nguồn. Biền biệt...trăm năm!
 
Ngày qua ngày nghe hồn sỏi đá
đếm thời gian qua tiếng thở dài
Bốn mùa tiếp nối, Xuân rồi Hạ
chưa Thu, Đông đã thấy tàn phai!
 
Tháng năm điểm tóc sương viễn xứ
Mỗi ngày mang một kỷ niệm buồn
Tình lưu khách theo chân lữ thứ
quay quắt tìm một lối hồi hương.
 
Lối hồi hương còn ngoài vạn dặm
mà đã mờ nhân ảnh quan san
Xưa tháng Tư trời Xuân đang thắm
sao vội chi nát đá, tan vàng!?
 
Cũng vì đời vô thường, vạn lối
nên lòng người cũng lắm đổi thay!
Đã bao năm bảy chìm, ba nổi
hồn nặng mang ngàn nỗi u hoài!

Thắp nén hương lòng trong đêm vắng
Chiêu hồn tử sĩ vượt ngàn khơi
Ngậm ngùi tưởng tiếc bên chén đắng
Nâng chung thiên cổ uống cạn đời!

Huy Văn (HVC)