Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Ánh Sáng Tháng Tư

 

Vào tháng Tư, trái tim hồi tưởng
Một cô bé, trưởng thành nhưng vẫn nhỏ bé,
Tìm kiếm tiếng vọng của những người anh hùng
Từng đóng quân ở nhà cô.
Những người lính của nền Cộng hòa đã sụp đổ,
Lòng dũng cảm của họ được khắc ghi vào lòng đất,
Lòng trung thành của họ không hề lay chuyển,
Ngay cả khi lưu lạc, hay lúc đớn đau

Ba má cô, đã ra đi từ lâu 
Để lại những lời thì thầm theo làn gió:
“Hãy tìm họ… họ còn sống không?"
"Họ có còn nhớ ngôi làng của chúng ta không?”
Một tiếng thở dài, một ánh nhìn xa xăm.
Tháng Tư âm thầm rưng rưng lệ...  

Âm nhạc dâng trào, những bài thơ được đọc,
Những hình ảnh ngày tháng hiểm nguy
Là tất cả những gì không kềm nén
Làm nghẹn cả tâm can.
Nước mắt chực tràn cho người nằm xuống...

Dù không biết họ ở đâu,
Nhưng hy vọng vẫn níu giữ nhẹ nhàng,
Như một ngọn nến leo lét trong đêm.
Êm đềm thắp sáng lòng cô gái nhỏ....
Hình ảnh người anh hừng còn đó sáng soi.

Ngôi làng vẫn nhớ về thuở nọ
Những trái tim giản dị,chân thành và kiên định.
Có người đi xa, có người mang những vết sẹo
Thời gian không thể xóa nhòa.
Nhưng trong trái tim họ,vẫn tỏa sáng 
Như những vì sao không bao giờ tàn

Một nén hương được dâng lên
Tưởng nhớ các Anh hùng,
Những người đã sống, đã chiến đấu,
Những người đã hy sinh
Tất cả vì hòa bình, vì tự do,
Vì Việt Nam và dân tộc 

Thắp lên ánh sáng Tháng Tư
Mang theo những lời cầu nguyện,
Nhẹ nhàng, vô tận, bình yên
Cho những trái tim đau đớn
Nhưng vẫn hy vọng...
Cho một đất nước 
...khao khát được chữa lành,
Cho mỗi linh hồn, trong lòng biển xanh.

Kim Oanh
Tháng 4.2026




Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

Tiếng Việt Trong Sáng Kỳ Thứ 25 - Cơ Trưởng Là Gì?

 

Hỏi 1:

Thưa nv Đỗ Văn Phúc, hôm nay có chúng tôi xin được hỏi ý của ông về một số chữ mà riêng cá nhân chúng tôi đọc qua nghe rất chướng mắt. Đầu tiên là chữ “cơ trưởng”… Chúng tôi thấy hầu hết các tờ báo lề đảng trong nước như baomoi, vietnamnet, Báo dân trí v.v… đều dùng chữ “cơ trưởng” khi nói về một captain hay một phi công trưởng của một chuyến bay. Thậm chí, khi chúng tôi tra một số từ điển trên mạng, thì thấy định nghĩa của chữ cơ trưởng như sau: “Cơ trưởng là người có vị trí đứng đầu trong tổ lái là người có trách nhiệm cao nhất quản lý và điều hành mọi chuyến bay đảm bảo an toàn và tránh được mọi sự cố.”

Thưa ông, xin được hỏi ông: Cơ Trưởng là cái gì?

Đáp:

Trước hết, chúng ta cần biết rằng hiện nay có hai tiêu chuẩn về ngôn ngữ. Một là của những người Việt tị nạn, chịu ảnh hưởng giáo dục cổ truyền và của hai nền Cộng Hòa; tiêu chuẩn thứ hai là của người Việt hiện nay trong nước qua giáo dục của chế độ XHCN. Chúng tôi xin quí vị phải rất thận trọng khi tra cứu từ ngữ trên Google, wikipedia... những tài liệu trên đó đa số là do người Việt trong chế độ XHCN biên soạn và đưa lên. Dĩ nhiên, họ không hoàn toàn sai, nhưng có rất nhiều chữ họ dịch và cho những định nghĩa không theo gốc gác của nguyên từ, mà do tùy tiện hay do sự hiểu biết hạn chế của họ.

Một thí dụ như anh Quang Nam vừa nói. Đó là chữ Cơ Trưởng mà hiện nay ở VN nói về người đứng đầu trên một chiếc phi cơ.

Chữ ‘cơ’ trong ‘cơ trưởng’ là do chữ “Cơ Khí” (mechanical) chứ không phải từ chữ “Phi Cơ” (airplane). Vì thế, nói Cơ Trưởng thì ai cũng hiểu theo nghĩa là người đứng đầu, trong coi về máy móc chứ không thể dùng để nói đến người đứng đầu trên một chiếc phi cơ.

Thực ra, người đứng đầu trên chiếc phi cơ gọi là Trưởng Phi Hành Đoàn, Trưởng Phi Cơ, Hoa Tiêu chính.

Trong ngành hàng không dân sự, những nhân viên trên phi cơ gọi là Phi Hành Đoàn (flight crew), mà hiện nay bên VN gọi là tổ lái. Người phi công chính (hay còn gọi là hoa tiêu chính) là người đứng đầu (captain) có thể dịch là Trưởng Phi Hành Đoàn. Kế đó là một, hai hoa tiêu phụ (co-pilot); Kỹ sư Cơ Khí (flight engineer), Nhân viên Không Hành (flight navigator), Nhân viên Truyền tin (radio operator), và các Tiếp viên Hàng Không (flight attendants). Tùy theo nhiệm vụ, mà còn có thêm nhiều nhân viên khác như trên các phi cơ cứu nạn hay vận tải còn có thêm Y tá Hàng Không (flight medic) hoặc nhân viên áp tải (loadmaster).

Hỏi 2:

Chúng tôi được biết ông từng phục vụ trong quân chủng Không Quân trước đây, xin ông giải thích thêm về cơ cấu của một phi hành đoàn trong quân đội ra sao?

Đáp:

Trong quân chủng Không Quân, tùy loại phi cơ và tùy nhiệm vụ chiến thuật mà các đoàn phi hành có nhân số ít hay nhiều. Ít nhất là các phi cơ chiến đấu (fighter); nhiều nhất là các phi cơ vận tải (cargo).

Đại khái một phi hành đoàn có:

Hoa tiêu chính (pilot), Hoa tiêu phụ (co-pilot), Nhân viên Không hành (flight engineer), Cơ phi (crew chief), Xạ thủ Phi hành (air gunner), Tiếp viên (flight attendants) Chuyên viên Bom đạn (bombardier), Y sĩ/Y tá Hàng không (flight surgeon/nurse), Nhân viên Áp tải (loadmaster), Quan sát viên (observer), Truyền tin (radio operator), Chuyên viên Vũ khí (weapon system officer/operator), vân vân.

Trong Không Quân, hoa tiêu chính không gọi là Captain như trong hàng không dân sự; cho nên chúng ta có thể tạm gọi là Trưởng Phi Cơ. Xin chớ nhầm lẫn với chức vụ Flight Commander là người chỉ huy một phi vụ tác chiến với sự tham gia của nhiều phi cơ, thường là ba đến nhiều nhất là sáu chiếc.Hỏi 3:

Chúng tôi cũng có nghe nói đến một chức vụ khác, nghe hơi lạ tai, đó là ‘cơ phi’. Cơ Phi là gì thưa ông?

Đáp:

Ngày trước trong các phi đoàn Không Quân VNCH có chức “Cơ Phi” (Crew Chief). Tuy gọi là Crew Chief, nhưng anh này không phải là chief của một crew nào cả, và cũng chẳng làm ‘chief’ ai cả. Anh là một hạ sĩ quan với các nhiệm vụ của được ấn định theo sách vở là:

1. Kiểm soát tiền phi, hậu phi, và tổng quát các hệ thống trên phi cơ.
2. Theo dõi các hoạt động máy móc khi phi hành để bảo đảm an toàn và theo đúng tiêu chuẩn qui định.
3. Kiểm soát để tìm ra các hư hỏng, sửa chữa hư hỏng. Theo dõi, giữ các mẫu Kiểm Soát hư hỏng (Discrepancies Form) và hồ sơ bảo trì.
4. Các công tác bảo trì, phản ứng nhanh hữu hiệu khi có tình huống bất ngờ.
5. Và vài việc khác liên quan đến huấn luyện, hướng dẫn, bảo trì…

Tuy thế, đa số các công tác bên trên là nhiệm vụ chính của các nhân viên bảo trì. Họ thuộc các Đoàn Bảo Trì, trong khi anh cơ phi thì thuộc các phi đoàn. Trong thực tế của Không Quân Việt Nam, anh cơ phi này là nhân viên có cấp bậc thấp nhất trong phi hành đoàn. Người lính Không Quân chúng tôi thường gọi đùa anh này là một anh “lơ” máy bay. Vì nhiệm vụ của anh ta là canh giữ phi cơ, dọn dẹp trong ngoài phi cơ. Khi chuẩn bị phi hành thì anh ta xem các mẫu OR (operational ready) do chuyên viên bảo trì ký sau khi đã làm kiểm soát hậu phi (post-flight) và tiền phi (pre-flight check). Khi hoa tiêu sửa soạn nổ máy thì anh ta đứng dưới đất làm thủ hiệu hay khẩu lệnh cho biết an toàn xung quanh, nhất là phía đuôi phi cơ. Khi chuẩn bị ra rời bãi đậu, anh này tháo rút các chốt an toàn (safety pins) là các cái chốt có nối với một miếng vải đỏ, gắn vào các bộ phận bánh đáp, đuôi phi cơ, các trái bom; tháo gỡ mấy cục gỗ chặn các bánh đáp. Tuy mang danh là “Cơ Phi” nhưng anh này chỉ làm ở phi đạo mà không đi theo trên các phi cơ nhất là phi cơ chiến đấu, quan sát (đâu có dư ghế) và trực thăng (vì phải dành chỗ chở quân và hàng hoá).

Tôi viết đoạn này dựa trên hiểu biết của tôi khi làm công tác bảo trì cho loại phi cơ C-130 của Không Quân Việt Nam. Còn đối với các loại phi cơ khác, không rõ thế nào.

Nhân Văn là gì?


Hỏi 4: 

Thưa ông, có một chữ rất hay mà chúng tôi thấy người ta hay dùng trong nó trong nhiều tình huống khác nhau, đó là chữ Nhân Văn. Chẳng hạn, khi người ta thấy cảnh một em bé phụ giúp một cụ già băng qua đường thì nói đó là một hành động rất nhân văn, hay một cảnh tưởng rất nhân văn… thưa, dùng chữ nhân văn như thế có vẻ “đao to búa lớn” quá không?

Đáp:

Ở trong nước hiện nay, người ta ưa khen những việc làm hay đẹp là “Một hành vi rất NHÂN VĂN, một câu nói NHÂN VĂN, một cảnh tượng NHÂN VĂN…”

Kể ra thì hai chữ NHÂN VĂN không đến nỗi sai lắm; nhưng nó quá xa vời với những điều thông thường trong đời sống hàng ngày.

Hai chữ NHÂN VĂN (人文) có nghĩa và cách dùng rất rộng.

NHÂN VĂN là nếp đẹp, là văn hoá của con người. Nó là một phạm trù rất bao quát; gồm hầu hết mọi lãnh vực liên quan đến con người từ chính trị, xã hội, lịch sử, luật pháp, nghệ thuật, văn chương…

Người Trung Hoa khi viết chữ Nhân với hai nét (人), nó có nghĩa là con người.

Nhưng khi viết với bốn nét (仁) gồm chữ Nhân và chữ Nhị ghép vào nhau, thì nó hàm ý sự tương quan giữa người với người. Nó có nghĩa là đạo lý làm người, phải thế mới gọi là người. Yêu người không lợi riêng mình cũng gọi là nhân.


Hỏi 5:

Vậy có chữ nào để thay thế cho chữ Nhân Văn trong những trường hợp thông thường không?


Đáp: 

     
Trong khi để khen một hành vi tốt mà con người thực hiện trong khi cư xử với nhau thì có khá nhiều chữ như: Nhân ái, nhân đạo, nhân từ, nhân đức,nhân hậu…

Những chữ ghép với NHÂN mà chúng ta thường nghe là:

Nhân bản: lấy con người làm căn bản. Ví dụ: Trước 1975, học sinh miền Nam chúng ta được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản.
Nhân đạo: đạo lý của người. Ví dụ: Chính phủ VNCH áp dụng một chính sách nhân đạo đối với tù binh Cộng Sản.
Nhân hậu, nhân từ: Ví dụ: Hãy lấy lòng nhân từ mà cư xử với nhau! Bà Năm là một phụ nữ nhân hậu.
Nhân đức: Ví dụ: Ăn ở nhân đức thì sẽ được Trời Phật đền bù xứng đáng.
Nhân tính: Mang tính chất con người. Ví dụ: Bọn Cộng Sản đã thảm sát gần 7000 thường dân Huế trong Tết Mậu Thân. Đúng là bọn người đã mất nhân tính.
Nhân vị: Coi trong vị trí con người trong xã hội. Ví dụ: Chủ thuyết Nhân Vị là cơ sở để xây dựng xã hội, là ngọn đuốc soi đường của nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Nhân trị: Dùng nhân đức trong chính sách cai trị; đối nghịch với Pháp Trị là hoàn toàn dùng pháp luật mà cai trị.

Tóm lại, có quá nhiều chữ hay, đúng ghép với chữ NHÂN; tại sao cứ lúc nào cũng NHÂN VĂN?

Hỏi 6:

Còn “văn hóa” cũng vậy. Rất nhiều người nói rằng họ rất bực khi nghe những câu như “văn hóa ẩm thực”, “văn hóa cư xử”, ông nghĩ sao ?

 

Đáp:

Có lần đọc bài báo ở Việt Nam nói về chuyến du lịch ở Nhật; thay vì viết :”Người Nhật không có lệ cho hay nhận tiền ‘tip’” thì lại bày đặt văn hoa rằng: “Người Nhật không có văn hoá típ.” Không rõ quí vị nghe có thuận tai không?


Đỗ Văn Phúc

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

Trừ Dạ Túc Thạch Đầu Dịch 除夜宿石頭驛 - Đới Thúc Luân

 

Đới Thúc Luân 戴叔倫 (732-789) Thi nhân đời Đường, tự là Ấu Công 幼公 hay Thứ Công 次公. Người đất Kim Đàn thuộc Nhuận Châu (tỉnh Giang Tô ngày nay). Lúc còn trẻ bái danh sĩ Tiêu Dĩnh Sĩ 蕭穎士 (717-768) làm thầy. Đậu Tiến sĩ năm Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông (785). Ông từng giữ các chức vụ Huyện lệnh Tân Thành, Huyện lệnh Đông Dương, Thứ sử Vũ Châu và Dung Quản Kinh Lược Sứ. Về già dâng biểu từ quan xin làm đạo sĩ. Thơ của ông thường tả đời sống ẩn dật an nhàn. Bài thơ dưới đây được làm lúc ông đã về già đang giữ chức Thứ Sử Vũ Châu, trên đường về đón Tết đã trọ tại dịch quán Thạch Đầu.

除夜宿石橋館 Trừ Dạ Túc Thạch Đầu Dịch

旅館誰相問 Lữ quán thuỳ tương vấn
寒燈獨可親 Hàn đăng độc khả thân
一年將盡夜 Nhất niên tương tận dạ
萬里未歸人 Vạn lý vị quy nhân
寥落悲前事 Liêu lạc bi tiền sự
支離笑此身 Chi ly tiếu thử thân
愁顏與衰鬢 Sầu nhan dữ suy mấn
明日又逢春 Minh nhật hựu phùng xuân.

戴叔倫           Đới Thúc Luân

* Chú thích:
- Thạch Đầu Dịch 石頭驛 : DỊCH là Dịch Quán 驛館 là nhà trọ của các quan chức vãng lai. THẠCH ĐẦU DỊCH là Quán dịch Thạch Đầu; còn gọi là Thạch Kiều Quán 石橋館, ở huyện Tân Kiến của tỉnh Giang Tây.
- Tương Tận 將盡 : là Sắp hết; sắp chấm dứt.
- Liêu Lạc 寥落 : là Thưa thớt, lạnh lẽo; Ở đây chỉ buồn bã lẻ loi.
- Chi Ly 支離 : là Phân tán, rời xa.
- Sầu Nhan 愁顏 : là Dung nhan âu sầu, chỉ gương mặt buồn bã.
- Suy Mấn 衰鬢 : là Tóc mai đã bạc và thưa, ý chỉ đã tàn tạ.

* Nghĩa bài thơ:

Trọ Lại Thạch Đầu Dịch Đêm Giao Thừa  

Trong lữ quán nầy ai là người han hỏi đến ta đây; Ta chỉ có thể thân thiết với ngọn đèn lạnh lẽo cô độc nầy mà thôi. Đêm nay là đêm sắp hết của một năm dài, mà người ở ngoài muôn dặm như ta vẫn chưa được về nhà. Nhìn lại chuyện đời lẻ loi buồn tẻ của những năm qua, cười cho tấm thân ta phải lưu ly trôi nổi cho đến tận bây giờ. Với dung nhan âu sầu và mớ tóc mai dã dượi nầy thì ngày mai lại phải gặp lại nàng xuân nữa rồi !

Tâm sự của Đới Thúc Luân cũng là tâm sự chung của những người xa quê hương ngoài vạn dặm trong lúc năm cùng tháng tận, nhìn lại những tháng năm phiêu bạt nổi trôi mà cảm thương cho thân phận tha hương đất khách của mình phải đón xuân nơi quán trọ xa xôi lạnh lẽo chỉ có một thân một mình.

* Diễn Nôm:

Trừ Dạ Túc Thạch Đầu Dịch

Lữ quán ai người han hỏi,
Thân nhau đèn lạnh đơn côi.
Một năm đêm tàn sắp hết,
Muôn dặm người còn nổi trôi.
Nhạt nhẽo buồn bao chuyện cũ,
Lênh đênh cười tấm thân tôi.
Dung nhan tóc mai dã dượi,
Mai ngày lại đón xuân rồi!

Lục bát:

Lữ quán ai hỏi ta đây,
Không người thân thiết lạnh đầy đèn côi.
Đêm tàn năm cũng tàn thôi,
Riêng người muôn dặm xa xôi chưa về.
nhạt nhòa chuyện cũ não nề,
Nổi trôi cười tấm thân tê tái sầu.
Dung nhan tiều tụy tóc râu,
Mai nầy lại phải ngày đầu đón xuân!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
2023

***
Dịch Xuôi : Ngủ Qua Đêm Cuối Năm ở Quán Dịch Thạch Đầu

Ở quán trọ bên đường không có ai quen thăm hỏi
Chỉ có ngọn đèn khuya lạnh có thể làm thân
Đêm cuối năm đã gần hết
Người về vẫn còn muôn dặm xa nhà
Buồn thưong cho nỗi luân lạc ngày qua
Lại tự cười mình đã phải vướng bận vào những chuyện nhỏ nhặt
Mặt buồn cùng mái tóc mai cằn cỗi
Sáng mai sẽ gặp lại xuân

Dịch Thơ:

Cuối năm nơi quán trọ
Chỉ ngọn đèn là thân
Trắng một đêm trừ tịch
Buồn muôn dặm tử phần
Nghĩ thương đời lạc lõng
Cười trách mình lần khân
Tóc bạc rồi,chi nữa
Sáng mai lại gặp xuân

Phạm Khắc Trí
02/12/2015
***
Quán Trọ Đêm Cuối Năm

Ngụ đêm quán trọ chẳng người quen
Thui thủi năm canh với ngọn đèn
Trừ tịch đêm tàn, lòng khắc khoải
Quê xa dặm mỏi, dạ sầu miên
Buồn thương số kiếp hoài luân lạc
Cay đắng cuộc đòi mãi lấn chen
Cằn cỗi tóc mai, nhàu nét mặt
Sáng ra xuân đến ngại ngùng thêm.

Phương Hà
***
Đêm Cuối Năm Ngủ Ở Trạm Thạch Đầu

(1)
Lữ quán ai thăm hỏi?
Đèn lạnh, khách não-nề
Một năm, còn đêm cuối
Muôn dặm người chưa về
Quạnh hiu, đau chuyện cũ
Ly sầu, cười tái tê
Dàu dàu, tóc rụng mãi
Sáng mai, bóng xuân về

(2)
Quán trọ, ai thăm viếng?
Đèn lạnh, một bóng ai
Năm tàn, còn đêm cuối
Người đi muôn dặm dài
Cô đơn, buồn chuyện cũ
Gượng cười , sầu không phai
Nét buồn, tóc rụng mãi
Bóng xuân, lúc sáng mai

(3)
Quán trọ lạnh lùng ai vãng lai?
Bạn cùng đèn lạnh não nề thay!
Năm tàn, còn lại một đêm cuối
Biền biệt, người đi muôn dặm dài
Hiu quạnh, não lòng bao chuyện cũ
Gượng cười , man mác sầu không phai
Dàu dàu nét mặt, tóc rơi mãi
Bóng dáng xuân về lúc sáng mai

MaiLoc
***
Đêm Trừ Tịch Ngụ Ở Trạm Thạch Đầu

1/
Chỉ mình nơi quán trọ
Bạn với ngọn đèn vàng
Đêm cuối năm gần hết
Quê xa cách dặm ngàn
Chuyện xưa buồn cất bước
Việc nhỏ tức cười khan
Tóc rối thêm mày ủ
Sáng nầy xuân lại sang.

2/
Nơi quán dịch chẳng người quen
Chỉ ta cùng với ngọn đèn lẻ loi
Năm còn đêm cuối cùng thôi
Thân thì muôn dặm xa xôi chư về
Chuyện xưa nhớ lại ê chề
Khiến xuôi chịu cảnh lê thê thân này
Bây giờ rối tóc nhăn mày
Làm sao tươi tỉnh mai này đón xuân.

Quên Đi
***
Đêm Trừ Tịch Trọ Ở Trạm Thạch Đầu

1/
Quán trọ thân đơn độc
Đèn bầu bạn với ta
Cuối năm gần sắp đến
Ngàn dặm xa quê nhà
Nhìn chuyện xưa ngày trước
Gẫm cười ôi xót xa
U sầu thêm tóc rối
Mai đến xuân đây mà

2/
Thẩn thờ lữ quán mình ta
Đèn vàng hiu hắt ví là bạn thôi
Cuối năm lần lựa sắp rồi
Dặm ngàn xa lắc chưa hồi cố quê
Sầu dâng chuyện cũ ê chề
Môi cười mà thấy ủ ê cõi lòng
Mày chau tóc rối buồn trông
Nàng xuân kỳ hạn xoay vòng bước sang

Kim Phượng
***
Trọ Thạch Đầu đêm giao thừa

1-
Quán trọ ai han hỏi!
Chỉ đèn kết bạn thân
Một năm đêm sắp hết
Vạn dặm quê chưa gần
Chuyện cũ buồn hiu hắt
Bôn ba diễu bản thân
Mặt buồn, thưa thớt tóc
Mai sớm lại mừng xuân!

2-
Nào ai quán trọ hỏi han!
Đèn hiu hắt bóng, bạn thân cận kề
Cuối năm, đêm hết, Tết về
Người nơi vạn dặm xa quê nhớ nhà
Chuyện xưa tan tác xót xa
Thương mình, cười nhạt bôn ba cuối trời
Mặt sầu tóc bạc rụng rơi
Ngày mai sáng sớm lại mời đón xuân!

Lộc Bắc
Jan23
***
Đêm Cuối Năm Nơi Quán Trọ

Đêm Cuối Năm Nơi Quán Trọ
Quán khuya chẳng ai thăm hỏi
Bên ngọn đèn tàn mòn mỏi thân côi
Cuối năm, đêm sắp qua rồi
Người đi muôn dặm xa xôi chưa về
Quạnh hiu chuyện cũ ê chề
Thương thân cười gượng nhiêu khê cuộc đời
Sầu lòng tóc bạc rụng rơi
Ngày mai đành đón xuân dời bước sang!


Kim Oanh