Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Kim Thành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Kim Thành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 2, 2024

Cây Tra Costa Rica

Đây là những tấm hình chụp tại thành phố biển Antonio của xứ Costa Rica.
- 3 hình đầu :bờ biển và cây tra mọc ven bờ.
- Trước hiên căn nhà thuê trên lưng chừng núi.
- Từ lưng chừng núi nhì xuống biển.



Hình Ảnh: Lê Kim Thành

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2023

Gửi Người Phương Ấy



Phương ấy bây giờ em ngủ say
Nơi này mưa lạnh vẫn bay bay
Gió lùa qua cửa nghe hiu hắt
Làm buốt lòng anh em có hay?

Ôi dáng em hiền thật dễ thương?
Chiều nghiêng bóng nhỏ nét thiên đường
Hiu hiu gió thổi lùa qua tóc
E ấp đôi vai, đẹp cổng trường

Thăm thẳm chín tầng theo bóng sao
Mơ màng sương phủ đỉnh non cao
Tình vi vu gió, thông đầu núi
Trong veo suối nước đọng lưng đèo

Lòng bỗng dại khờ nương theo gió
Mơn tà áo trắng ngát hương cau
Chim khuya lẻ bạn kêu đầu ngõ
Mình đã xa nhau tự thuở nào.

Lê Kim Thành
1970

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2023

U Mê

 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhử đẳng hành khang thủ bại hư
(Lý Thường Kiệt)

Máu tiền nhân giữa lòng thân cổ thụ 
Vương bờ tre, ngọn cỏ, bóng đại tùng 
Hòn đá rêu phong, ruộng đồng loáng nước 
Đường trường chinh hừng hực khí tử hùng

Đếm hết trúc rừng, chưa ghi hết tội (1)
Vét nước biển Đông chưa rửa sạch mùi
Bao năm đứng đợi chồng sau chinh chiến
Ôm con thơ cùng hoá đá bùi ngùi

Lửa Lam Sơn cháy lòng dân áo nhuộm (2)
Tráo hoàng bào buổi khốn khó tạm lui
Lể khao quân một lần Xuân đến muộn (3)
Giòng Hát giang cây cỏ luống ngậm ngùi ( 4)

Đạp sóng dử, chém tràng kình Đông hải (5)
Giặc đến nhà, hề xá chuyện chồng con
Đêm rờn rợn, mắt hờn qua quan ải
Trống Diên Hồng giục giã bước đầu non

Ngọn tre già cũng xông pha trận mạc
Sông Bạch Đằng sóng vỗ bọt bèo bay
Ta ngạo nghễ giữa trời Nam ải Bắc
Gươm cơ đồ tay lại nối liền tay

Một bước lùi, gom quân cùng tiến tới
Triệu bàn tay, góp lại triệu bàn tay
Đồ gia dụng hoá thân thành giáo mác
Thêm quân lương, bô lảo xã thân cày

Đắp luỷ, xây thành, ôm đồng, bám đất
Chặn đường lui: lắp đá , cọc ngăn sông
Hồn tử sĩ theo cờ bay phần phật
Trống trận dồn, ngựa hí, thét xung phong

Giặc đến, giặc tan, giặc lùi bỏ xác
Bốn ngàn năm, tất đất vẫn còn nguyên
Khiếp vía Hán, Minh... kinh hồn Thát Đát
Nước non mình sừng sững giữa trời thiêng

Nghe hăm he đã mặt xanh mày xám
Bán địa linh, buôn thất tổ cửu huyền
Rặt một phường chỉ nhe răng hả miệng
Lơ láo gian thần, muối mặt Tổ Tiên

Thân cỏ dại cũng học đòi lim , trắc
Lương đầm lầy toan tính vượt vũ môn
Ảo thuyết ngoại lai , xói mòn xã tắc
Rắng thêm chân đâu đã hoá nên rồng

Lịch sử sang trang, còn trang sử cũ
Lòng lọng lưới Trời, khó thoát tà tâm
Chước quỷ cầu vinh, mưu đồ đại sự
Thêm một lần đô hộ suốt ngàn năm?

Lịch sử sang trang ,viết trang sử mới
Có anh hùng, hào kiệt khắp mười phương
Xẻ núi, lên đường, chặt xiềng, bẻ xích
Lòng hung lòng, đảo ngược bóng tà dương

Con sóng sau phủ đầu con sóng trước
Vai kề vai, nổi dậy lớp sóng sau
Với bạo chúa, ta không đòi : chẳng được
Thiếu quật cường: mãi vực thẳm lao đao

Đừng đợi tre tàn, măng non cứ mọc
Hãy vươn lên , mặc băng giá , khô cằn
Dáng Quốc Tổ tả tơi lưng chừng dốc
Bóng thần dân xơ xác vết đau hằn

Chẳng chiến chinh, sao đất trời nhỏ lại?
Không đao binh , biển rộng cứ hẹp dần?
Thời nhiễu nhương , mắt nhìn nhau ái ngại!
Thưở u mê, lời nói cứ thì thầm!

Rừng âm u, giặc thù quanh Bản Giốc
Ải Nam Quan tê tái phủ trời tang
Đất trăn trở bên này biên giới cũ
Hoàng,Trường Sa ơi! Trôi mất hút. Sao đành!

Lê Kim Thành
(1) Bình Ngô Đại Cáo -Nguyễn Trãi: "Độc ác thay ! trúc rừng không ghi hết tội , dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi . Lẻ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được."
(2) Bình Định Vương Lê Lợi: "Làm trai ở đời, nên giúp nạn lớn , lập công to, để tiếng thơm muôn đời chớ sao lại bo bo làm đầy tớ người "
(3) Nguyễn Huệ chiếm lại thành Thăng Long vào ngày mùng năm Tết năm Kỷ Dậu (1789)
(4) Trưng Trắc cùng ẹm là Trưng Nhị, trong 3 tháng đã hạ được 65 thành trì của giặc, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ nhà Hán. Năm 41, Mã Viện đem đại binh xâm chiếm nước ta, hai bà đã anh dũng chống cự trên 2 năm. Quân lực tiêu hao dần, ngày 6 tháng 2 năm Quí Mão (43) hai bà gieo mình xuống sông Hát mà tự sát.
(5) Triệu Trinh Nương (Nhuỵ Kiều Tướng Quân ): " Ta muốn cởi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dử, chém cá tràng kình ở bể Đông để cứu dân ra khỏi u mê tăm tối chứ không chịu cuối đầu cong lưng làm tì thiếp người ".
Vua Lý Nam Đế đã phong tặng Bà là Bật Chính Anh Liệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu Nhân.


Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

Phượng Vỹ - Costa Rica


Xứ người, phượng vỹ trổ hoa
Tìm hoài chẳng thấy một tà áo bay

 

Hình Ảnh: Lê Kim Thành

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

Nhớ Vĩnh Long

(Dọc bờ sôngVĩnh Long)

"Hai mươi lăm năm chưa trở lại quê nhà
Thành xưa, phố cũ vẫn quanh ta"
* * *
Xuân, Hạ qua rồi, Thu lại Đông
Bốn mùa trăn trở nỗi hoài mong
Ngậm ngùi quê cũ, sầu ly khách
Quay quắt đêm dài, nhớ Vĩnh Long

Ngày xưa ngăn cách bởi giòng sông
Hoặc chỉ xa nhau mỗi cánh đồng
Mà những tưởng chừng xa diệu-vợi
Bây giờ biền biệt cả trời đông!

Thân viễn xứ, tình quê hơn biển rộng
Lòng bồi hồi nhớ bạn cũ, trường xưa
Tuổi học trò đơn sơ nhưng lắm mộng
Đường qua cầu, sàn gỗ lót lưa-thưa

Tà áo trắng dịu-dàng thân thương quá
Giờ tan trường phố xá bỗng reo ca
Dáng e ấp nắng chiều nghiêng nón lá
Guốc khua đường, rộn rã bước em qua

Nhớ hàng quán hai bờ sông Mỹ Thuận
Xề ổi xanh, tô bún nướng tôm càng
Chiếc đò ngang xưa đưa tình đón nghĩa
Chở người về qua cửa chợ Trường-An

Giòng Tiền Giang đục ngầu mùa nước lũ
Dâng phù sa ấp ủ lúa xanh đồng
Dề lục bình bềnh bồng trôi, tư lự
Cuộc phân ly, bến lạ lạc mấy giòng

Thương hoa quả cũng thật thà chất phác
Quày dừa xiêm, buồng chuối sứ ngọt ngào
Quả xoài xanh chẳng chanh chua đường mật
Tóc em dài thơm hoa bưởi, hương cau

Nhớ miếu Bảy Bà, cây da Cửa Hữu
Em dâng hương, tóc xỏa bóng từ bi
Ngày trẻ dại, sợ giờ linh Bà quở
Gió lay cành, lấm lét ngỡ Bà đi!

Thương bà cụ còng lưng ngồi cắt giác
Dưới tàn đa tan tác lá chiều thu
Qua công viên, dáng gầy em ngơ ngác
Gánh hàng rong trĩu nặng bóng mây mù

Những ngày mưa đạp xe vòng quanh phố
Bên kia sông cây nhạt, bóng ai mờ
Bao nhiêu tuổi xuân thì bên cửa sổ
Nhìn mưa bay, lòng lạc nẻo đường mơ

Cồn An Thành nay đất bồi hay lở?
Phà Cổ Chiên còn đợi khách sang sông?
Ngày ba mươi chợ Tết có còn đông?
Cô hàng hoa thập thò nghe pháo nổ?

Miễu Quốc Công vía thần ai cúng giỗ?
Trời còn xanh trên ruộng lúa Cầu Vồng?
Góc vườn xưa cây sữa có đơm bông?
Đường Võ Tánh còn ai hồng đôi má?

Văn Thánh miếu hai hàng sao xanh lá?
Đền Cụ Phan còn đó khẩu thần công?
Những ngày rằm hương khói có còn xông?
Chuông Pháp Hải vọng hồi tâm tỉnh thức?

Gió có thổi qua cầu Lầu, Thiềng Đức?
Sông Long Hồ còn đó ánh trăng xưa?
Đường Gia Long đọng nước những chiều mưa,
Ai đứng đợi, ai về sau buổi học?

Chợ bờ sông rộn ràng con đò dọc
Đò đưa em qua chợ Lách, Tam Bình
Về Vũng Liêm, xuôi giòng sông Mang Thít
Đến Trà Ôn nghe vọng cổ u tình

Em ghé lại sân trường Tống Phước Hiệp
Nhặt cho tôi hoa phượng vỹ đỏ lòng
Về Ngã Tư, qua cầu Kinh, cầu Lộ
Hỏi bạn bè ngày cũ nhớ tôi không

Đêm nay trời đổ cơn mưa lớn
Nửa tạt quê xưa, nửa chạnh lòng
Canh tàn đối bóng mình tôi uống
Thưong nhớ đầy vơi, chén rượu nồng!

Lê Kim Thành
Pittsburg 4/2004

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Bến Mơ


" Thò tay anh ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò làm ngơ"
(Cadao)

Đường về qua chiếc cầu treo
Con đò Mỹ Thuận giờ neo bến nào?
Em ngồi xõa tóc bờ ao
Gió lay cành ổi, trăng vào song thưa
Bên hè tàu chối đong đưa
Thương anh đứt ruột, dạ bừa nhừ đau
Gió đùa ngõ trúc lao xao
Cho chim khách gọi lao chao cành đào
Tần ngần đứng tựa hàng cau
Anh bơi thuyền mộng ghé vào bến mơ
Bao năm đợi, bấy năm chờ
Mân Mê vạt áo giả vờ làm ngơ

Lê Kim Thành


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2020

Trường Xưa

 
(Trường Nguyễn Thông tiền thân Trường Tống Phước Hiệp - Ảnh: Lê Kim Thành)

Trường xưa đó. Có như không!
Thay tên đổi họ khác trong lạ ngoài
Bao năm đèn sách miệt mài
Giờ như khách lạ chẳng hay đổi dời

Trầm luân bèo dạt hoa trôi
Bạn bè quang quẩn nhắc thời "hồi xưa"
Cầm chân không phải cơn mưa
Chẳng qua chuyện cũ nói chưa hết lời

Bên ngoài nói nói cười cười
Ngổn ngang lòng những bời bời xót xa
Trường mình, trường của người ta!
Trường mình ngày cũ trong da thịt này

Lê Kim Thành
28/8/2004


Chiều Qua Phố

 

Chiều một mình qua phố
Điếu thuốc tàn trên tay
Bạn bè còn mấy đứa
Vừa chết trận chiều nay.

1968

Lê Kim Thành

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Lời Cuối Cho Cụ Ông Lê Văn Sang (Điếu Văn 30/10/1997) - Ông Trần Văn Quản

(Mill Park 1989)
Ba thương yêu ơi! 
Thời gian thật nhanh, mới đó mà đã 22 năm ba rời xa chúng con.
Với chừng thời gian ấy con chưa thể nào quên được. Hôm nay lục lại những kỷ niệm của ba má, con đọc lại những lời của Ông Trần Văn Quản, Thành Viên của Hội Nghi Lễ Liên Bang Úc Châu, viết và đọc Điếu Văn trong ngày tiễn đưa ba. Ngậm ngùi lắm ba ơi.

Úc đang xuân, hoa đua sắc thắm, con lại nhớ ba nhiều hơn. Nhất là ngày con cất được căn nhà đầu tiên, một tay ba trồng trọt, chăm chút vườn tược được đơm hoa kết trái xinh tươi. Hình ảnh ấy mãi mãi trong tâm trí con và các cháu của ba. Con nguyện cầu nơi Thiên Đàng ba an hưởng thanh nhàn, hạnh phúc đời đời cùng má nha ba.
Muôn hoa sắc thắm rộn ràng
Mùa Xuân năm cũ lòng chan chứa về
Nguyện cầu nơi chốn Trời Quê
Ba má an hưởng tràn trề ân Thiên
Làm con Ba Má là duyên
Mong thêm kiếp nữa con nguyền khắc tâm!

Con gái Chín của Ba.
Lê Thị Kim Oanh
Melb.30-10-2010
***
Điếu Văn của Ông Trần Văn Quản

Cuộc Đời và Sự Nghiệp



Trước khi bắt đầu phần nghi lễ, tôi xin chuyển lời cảm ơn chân thành của tang gia đến toàn thể quí vị, trước cảm tình ưu ái nồng nàn, đến phân ưu và chia sẻ những mất mát lớn lao nhất và tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng. 
Trong lúc tang gia bối rối có điều chi sơ sót mong quí vị vui lòng lượng thứ và bỏ qua cho.

Sự ra đi vĩnh viễn của Ông Lê Văn Sang đã khiến chúng ta tạm gác lại các sinh hoạt hàng ngày để cùng nhau đến đây bày tỏ niềm mến tiếc luyến thương người quá cố. Một điểm chung của tất cả chúng ta hiện diện nơi đây cùng có với ông Sang một tấm chân tình yêu thương và quý trọng.

Cuộc sống ở đời này, là mạch sống nối tiếp liên tục với người xưa. Chúng ta là di sản, là thọ hương các công trình và ân huệ của người xưa để lại. Hôm nay nhân lúc chúng ta thành tâm đưa tiễn thêm một người nữa ra đi. Sau khi đã hoàn thành trách nhiệm của cõi đời. Cũng là lúc tốt nhất để chúng ta gác lại những bận rộn của cuộc sống để tâm tư mình lắng đọng, bình tâm suy gẫm về cuộc đời. Một cuộc đời đã sống cùng phấn đấu dài, đã hoàn tất nhiều công trình còn để lại cho người sau thừa hưởng, những người thừa hưởng đó có thể có ảnh hưởng đến cho cả chính chúng ta.

Ông Lê Văn Sang sinh ngày 16-12-1914 tại Xã Trung Ngãi, Quận Vũng Liêm, Tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình khá giả. Cha của ông là Bang Biện thời trước, nhưng gia đình rất đổi thanh liêm, Mẹ ông ở nhà cũng phải tảo tần nuôi dạy bảy người con, 5 gái, hai trai.
Khi còn trẻ ông Sang rất chăm chỉ học hành nên được gia đình gởi lên Sài Gòn đi học theo chương trình Pháp. Nhưng đến thời kỳ khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam. Ông phải trở lại quê nhà sinh sống. Ông sớm ý thức được rằng, nông nghiệp là căn bản của nền kinh tế Việt Nam, ông say mê trồng trọt. Đỡ đần công việc cho Cha mẹ.

Đến năm 1939, ông được 25 tuổi, sự nghiệp vững vàng nên ông vâng lời cha mẹ cưới vợ. Bà Võ Thị Thoại khi đó là người thiếu nữ đẹp nổi tiếng tại địa phương. Đôi uyên uơng lúc ấy là cặp trai tài gái sắc, xứng đôi vừa lứa.

Đến năm 1945 chiến tranh xảy ra, Ông là nhà nông nên không bị lôi cuốn nhiều về cuộc chiến. Nhờ đó ông có cơ hội và thời giờ phụng dưỡng mẹ cha trong lúc tuổi già cùng nuôi dạy các con.

Gần đến 1954 cuộc chiến sôi động. Theo luật pháp thời đó ai có trên 5 người con không phải đi lính. Nhờ vào cơ duyên này ông cảm thấy mình may mắn nên ông phát tâm làm việc thiện. Ông thường khuyên răn con cái làm lành lánh dữ, thường xuyên giúp đỡ mọi người.

Theo quan niệm xưa của người Việt, gia đình đông con là biểu tượng gia đình có phước đức. Ông tự hảnh diện, cám ơn Trời Phật về điều này. Rồi tự đặt cho mình một trách nhiệm lớn lao là sẽ nuôi dạy con cái trở thành người hữu dụng. Rút kinh nghiện bản thân qua những gian khó vì chiến tranh cho nên ông cố gắng tránh cho con mình bị lôi vào vòng quỹ đạo đó, bằng cách khuyến khích các con tích cực làm các công việc xã hội, đồng thời khích lệ con chuyên cần học tập.

Đến năm 1975, ông 61 tuổi được 10 người con đều khôn lớn và thành đạt. Tưởng đâu ước nguyện đã trọn vẹn. Ngờ đâu một biến cố xảy ra làm cho gia đình ông nhiều ly tán.  Một lần nữa khiến ông bà hết lòng lèo lái đàn con để sớm gồm chung về một nơi đoàn tụ. Không có một thành công nào mà tự nó đến mà không có chông gai, công lao, mồ hôi, tim óc và nước mắt.  Hơn nữa dù ai có tài giỏi, cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được một thành công tuyệt đối.

Năm 1984 ông bà được con bão lãnh đoàn tụ gia đình theo diện di dân sang Úc.

Cuối cùng sau hơn 84 năm cuộc đời, 68 năm chung sống cùng vợ, lăn lóc với đàn con, ông đã để lại cho đời 10 đứa con thành đạt, 6 ở Úc, 1 ở Mỹ, 1 ở Canada, và 2 ở Việt Nam, tổng cộng 29 cháu nội ngoại. Ông rất sung sướng và  hãnh diện về con cháu ông.

Ba năm gần đây bệnh tim ông trở nặng, các con đồng lòng chăm sóc chạy chữa tận tình, có lẽ định mệnh an bài, ông đã êm ái ra đi lúc 3g30 sáng ngày 30-10-1979. Nguyện ước của ông là các con phải hiếu thảo với mẹ cha và anh em hoà thuận cùng nhau. Ông ra đi trong niềm tiếc thương to lớn của tất cả chúng ta.

Đặc điểm của ông Sang là người thích hoạt động, thích thể thao, thời niên thiếu ông chuyên cần luyện tập võ thuật. Có lẽ nhờ võ thuật ông tập tánh hiền lành, biết nhường nhịn, thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó.

Về âm nhạc ông thích nghe nhạc buồn như phản ảnh một tâm sự thầm kín riêng tư với chí trai hồ hãi nhưng phải bó gối cầm chân. Ông thích nhất giọng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy. 

Xuất thân từ nông nghiệp, ông yêu thích thiên nhiên và du lịch. Việt Nam đối với ông là một hình ảnh tuyệt vời, mãi mãi ghi sâu trong tiềm thức. Ông tỏ ra vô cùng ưa thích những gì liên quan đến Việt Nam, ông thích nghe Đài phát thanh Việt Ngữ SBS Melbourne, ông tham gia những buổi sinh hoạt của Cộng Đồng Việt Nam.

Tóm lại ông Sang đã sống một cuộc đời dài hữu dụng, đã đóng góp, xây dựng biết bao là công nghiệp, yêu thương nhân hậu. giúp đỡ tận tình, cụ thể nhất là cho vợ cho con trong tinh thần tích cực. Một cống hiến lớn lao cho thế hệ con cháu mai sau.

Một vài phút ngắn ngủi không làm sao kể hết công lao của một đời người, nhất là một người như ông Sang.
Trước nhất nét nổi bậc của ông là chứng nhân vô tư của lịch sử xã hội Việt Nam, trải qua biết bao biến cố 1945, 1954, 1968, 1975, biết bao vật đổi sao dời, vậy mà ông vẫn lèo lái con thuyền gia đình vượt qua muôn trùng sóng gió.

Kế đến, ông xứng đáng là một người chồng mẫu mực, một người chồng dành trọn vẹn yêu thương cho vợ trong suốt 68 năm trường. Một biểu tượng văn hóa chứa đựng một giá trị cao quý của Việt Nam, xứng đáng được đề cao, tôn trọng không phải chỉ là gương mẫu cho tây phương mà cả đông phương. 

Thêm nữa ông là người cha gương mẫu cho các con cháu noi theo. Và sau cùng ông là một người con hiếu thảo của gia đình, ông sống quá xứng đáng không uổng phí, đã để lại cho đời nhiều hơn những gì ông hưởng được, nhiều hơn cả những gì ông mang đi.

Kính thưa bà Sang cùng tang quyến, những người có mặt tại đây xin thành kính phân ưu. Chúng tôi vô cùng chia sẻ những ray rứt khổ đau mà gia đình gánh chịu. Khi chúng ta đau khổ vì thương người quá cố, xin hãy vì người mà suy gẫm về công trình gầy dựng, những tâm tư và gương sáng của người để lại, vì yêu ông chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ thêm gương sáng của ông.

Cuộc đời là vô thường, họp tan, biến đổi. Đó là định luật của thiên nhiên và vũ trụ, là một sự hiển nhiên không sao tránh khỏi. Cái buồn vui thật sự của mỗi người phải là cái lý do của chính đời sống mình, xem có ý nghĩa không có làm được gì hữu ích để cho đời sau không. Trong ý nghĩa đó ông Sang chắc chắn vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ và êm ái ra đi. Vì vậy chúng ta hãy cùng hãnh diện và chia sẻ niềm vui đó với ông Sang.

Sau đây tôi xin mạn phép đọc một đoạn thơ ngắn gọn mô tả tâm tình của ông Sang, được trích trong tập Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi:

Ở phải có nhân có nghì,
Thơm danh vã lại làm bia miệng người.

Hiền lành lấy tiếng với đời,
Lòng người yêu dấu, là trời hộ ta.
Tai ương hoạn nạn đều qua,
Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.
Vàng trời tuy chẳng trao tay,
Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.
Mai sau bạc chín tài mười,
Sống lâu ăn mãi của đời về sau.


Kính thưa quí vị, trong chốc lát nữa đây, ông Sang thân yêu của chúng ta sẽ được đưa về nghĩa trang hỏa táng theo di chúc của người, chúng ta thân ái chuẩn bị tiễn đưa người thân yêu vào miền miên viễn.

Trong tinh thần ca ngợi, một công nghiệp hoàn thành, một cuộc đời đáng sống. Chúng ta kính cẩn cầu chúc Hương Hồn người quá cố nghe Thanh Thúy ca bản nhạc cuối cùng để kỷ niệm với ông Sang ngày chia tay vĩnh biệt.



Melbourne 30-10-1997
Trần Văn Quản
(Kim Oanh Lưu Niệm)


Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Bonsai: Xuân Kỷ Hợi 2019

Bảy ơi!
Xuân đi xuân lại trở về
Cội hoa ngày cũ sum suê cánh đào
Nhưng Người năm ngoái còn đâu
Vầng thơ lịm dưới mộ sâu tiễn Người
(9 Oanh)
(*) Mỗi độ xuân về anh Tư gửi những chậu Bonsai, các em cùng nhau đề thơ vui Tết. Nhưng  anh thứ Bảy Lê Kim Hiệp đã ra đi thì hết Tết rồi....




Bonsai: Lê Kim Thành


Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

Riêng Một Góc Thành (*)


Riêng Một Góc Thành (*)


Vì em duyên-dáng hơn hoa
Cho nên hoa đã cùng ta nặng lòng
Nồng-nàn, thắm thiết hơn bông
Mấy mươi năm vẫn đèo bồng hương xưa

Lê Kim Thành
(*) Góc thành là Thành Lê chớ không phải thành quách.
***
Anh Tư ơi, góc Thành nhà anh quá đẹp...

Trong Hoa

Nhà ai rực rỡ những hoa
Hương bay ngào ngạt khiến ta phải lòng
Tìm trong nhan sắc của bông
Ẩn tiềm mây trắng bềnh bồng thuở xưa

Kim Phượng
***
Đời Hoa


Em không nhan sắc bằng hoa
Nửa đường đứt gánh người ta phụ lòng
Trước gió tơi tả những bông
Lênh đênh trôi dạt bềnh bồng xứ xa

Kim Oanh
***
Hoa Chờ Đợi


Hồi tưởng về quảng đời son trẻ
Ham đua đòi dáng vẽ mông lung
Kỳ hoa dị sắc múa chập chùng
Đeo đẳng mãi... khung xưa còn đó!

Vò võ chờ....vang tiếng " Tự Do "!

Lê Kim Hiệp
***
Đời Hoa
(Từ bài Đời Hoa của Kim Oanh)

Dù em không đẹp bằng hoa
Nửa đường đứt gánh chớ nên đau lòng.
Cuộc tình nhẹ tựa như bông 
Một cơn gió thoảng bềnh bồng bay xa. 

Mặc Thái Thủy 
Az Feb. 22, 2016
***
Em Hơn Cả Hương Hoa

(Họa qua 2 bài thơ "Trong Hoa" và "Đời hoa" của KP&KO)

Dù em chẳng phải là hoa
Nhưng hương đằm thắm làm ta phải lòng
Nhìn vào hơn hẳn màu bông
Ẩn tàng trong ấy nét bồng bềnh tươi

Song Quang

Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

Lời Cuối Cho Cụ Bà Võ Thị Thoại (Điếu Văn) - Linh Mục Đinh Thanh Bình

( Võ Thị Thoại năm 2001)
Thời gian quá nhanh!
Mới đó mà đã 15 năm trôi qua. Ngày 24 tháng 9 năm 2002, Má đã vĩnh viễn rời khỏi cuộc đời. 
Từ lúc còn là một cô bé, đến khi về làm dâu và sau đó trở thành là mẹ của những đứa con, là chủ của một gia đình, việc thờ cúng ông bà, Má lấy đó làm niềm tin.

Nhưng, trong những ngày cuối đời, Má đã nhờ Vị Linh Mục, cho Má một câu kinh để "Má học". Một câu kinh dù ngắn, gọn, chỉ có 11 chữ, so ra rất khó khăn cho một người mà theo lời bác sĩ cho biết, chỉ còn một tuần lễ trên dương thế mà thôi. 
Cuối cùng rồi Má cũng thuộc lời kinh thứ nhất. Má tiếp tục, xin học thêm câu kinh thứ hai. Rất tiếc, chỉ được nửa câu...Má không còn cơ hội nữa rồi.

Lúc sinh thời, Má rất hâm mộ Vị Linh Mục, và phải chăng có sự gặp gỡ trong tâm hồn, chính Ngài là Người đọc điếu văn...đưa Má rời khỏi cuộc đời...

Con Kim Phượng
***

Điếu Văn của LM. Đinh Thanh Bình

( Võ Thị Thoại năm 15 tuổi)

Kính thưa quí ông bà anh chị em,

Trong những ngày tháng cuối đời của cụ bà Võ thị Thoại, tôi được may mắn gặp cụ hai lần. Lần thứ nhất, 45 phút, lần thứ hai khoảng 80 phút. Tổng cộng chỉ được hơn hai tiếng đồng hồ. Vậy mà đối với tôi sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi ấy, tôi biết chắc rằng hình ảnh và phong thái của cụ sẽ vĩnh viễn lưu lại trong tâm hồn tôi. Nghe tin cụ mất, tôi đã bàng hoàng thương tiếc, gần như một người con vừa mất mẹ. Ngay cả đứa cháu của tôi, đã theo tôi hai lần đi gặp cụ, cũng vùi khóc ròng như một người cháu ruột vừa mất bà.

Cụ bà Võ Thi Thoại là một người như thế nào mà chỉ trong vài lần tiếp xúc với cụ, tôi đã bị cụ cuốn hút mãnh liệt nhanh chóng như vậy? Cụ là ai mà chỉ trong hai tiếng đồng hồ chuyện trò, tôi đã nuối tiếc ngẩn ngơ vì không còn cơ hội gặp lại cụ nữa? Quí ông bà anh chị em, chúng ta hãy cùng nhau lần giở lại trang sử đời cụ để tìm cách trả lời cho câu hỏi này.
Như một sự tình cờ ngẫu nhiên nhưng mang đầy ý nghĩa, cụ là một món quà đầu năm mới cho cuộc đời, vì cô bé Võ Thi Thoại sinh vào đúng ngày Mùng Một tháng Giêng năm 1924. Quê cô ở Vĩnh Long, vùng đất ngọt ngào tình tự quê hương. Cô thôn nữ Thoại chất phác thật thà như bản tính cố hữu của người miền nam. Chắc chắn lúc đó cô rất đẹp, vì lần đầu tôi gặp cụ, khi cụ đã hơn 78 tuổi, cụ vẫn còn nhiều nét thanh xuân mặn mà của thời con gái, mặc dù bây giờ người ta chỉ có thể khen cụ đẹp lão mà thôi.

Không có gì đáng ngạc nhiên, khi cô Thoại vừa đến tuổi trăng tròn, 15, 16, thì cụ ông, Lê Văn Sang, trước kia là một chàng công tử con nhà giàu, đã say mê cô thôn nữ. Lúc đầu, cụ ông còn bày đặt giả đò đi kiếm bạn cho cô, kiếm hoài không được. Dĩ nhiên là không được vì cụ ông đã có chủ ý rõ rệt “Em ơi! Kiếm hoài hổng được, thôi thì, em chịu đại anh cho rồi”. Sau lời cầu hôn ấy, hình như, cô thôn nữ đã gật đầu ưng thuận. Chàng công tử biết tỏng câu ca dao: “Cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”. Bị dèm pha chưa chắc đã sợ nhưng chỉ sợ có thằng nào nhanh chân dớt trước thì lại tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng bởi vì cụ vừa đẹp, vừa dịu hiền lại vừa chất phác thật thà. Về nhà chồng năm 16, cô thôn nữ bây giờ đã là vợ, còn nhiều nét ngây ngô dại khờ. Cô nấu canh cho gia đình, bố chồng ăn xong chép miệng nói: “Con ơi! Canh hơi bị cứng”. Cô nhanh nhẹn trả lời: “thưa Tía, con hầm canh lâu lắm mà! Cứng sao nổi mà cứng, hả Tía?” Bố chồng mỉm cười đáp lại: “Tía nói cứng nghĩa là canh bị mặn, nhưng không sao đâu, con còn nhỏ, từ từ rồi tía má sẽ chỉ dạy thêm.” Câu nói dịu dàng ấy của Bố chồng, đã in sâu vào tâm khảm của nàng con dâu. Ở đời, người ta thường mỉa mai sự khắc nghiệt của bố mẹ chồng đối với nàng dâu. Trong gia đình chồng của cô Thoại, không hề có chuyện đó. Chính nhờ sự dịu dàng của Bố chồng, con dâu Thoại đã cảm nhận được những bài học về sự nhân ái trong cuộc đời Nhờ cảm nhận được bài học độ lượng này, nàng con dâu đã đem áp dụng lại để đối xử với mọi người, và đặc biệt nhất, để chỉ dạy giáo dục cho các con về sau.

Nếu hỏi rằng Cụ Bà Võ Thị Thoại là ai mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ hiếu thảo với bố mẹ, biết chấp nhận lầm lỗi, biết cảm kích trước lòng độ lượng của bố mẹ và biết học hỏi để truyền dạy lại cho con cái, cũng như chính cụ biết sống thực hành lòng độ lượng đó khi đối xử với mọi người chung quanh.

Thập niên 1940, chiến tranh tiếp tục leo thang khốc liệt tại quê hương. Dân chúng khốn khổ trăm chiều ngược xuôi lánh nạn, giặc Tây rồi lại Việt Minh. Mỗi lần Tây đi càn, tất cả con trai, đàn ông trong làng đều phải đi trốn, nếu không muốn bị chém đầu xử tử. Một mình cô Thoại ở lại nuôi con. Cô học tới lớp cao nhất bậc tiểu học, đối với thời bấy giờ, phải kể là một người có học thức cao. Nhờ thầy giáo Phụng hết lòng dạy dỗ, cô biết tiếng Pháp. Và chính nhờ số vốn ngoại ngữ này, cô đã cứu giúp được nhiều người bà con hàng xóm vì khả năng đối đáp trôi chảy nhuần nhuyễn của cô với giặc Tây.

Năm 1968, tết Mậu Thân, một lần nữa, gia đình ông bà Sang Thoại, lại bồng bế nhau trốn chạy rời Làng Giống Ké, Quận Vũng Liêm. Những sạp buôn trong chợ lại bị đốt sạch, cuối cùng, cả gia đình đành kéo nhau trở về quê nội. Sự giàu có của gia đình nội, tới thời gian này, vì chiến tranh loạn lạc, đã bị khánh kiệt gần như hoàn toàn. Nếu chúng ta từng đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, một nhà văn nổi tiếng người miền nam, chúng ta không thể quên được cái Lộ ông Bang, ông Bang đắp đường lộ, ông Bang chính là bố chồng của Bà Thoại. Gia đình giàu sang nhưng không tự cao hách dịch, ông bà đối xử rất tử tế với những người làm công và tá điền, sẵn sàng trợ giúp bằng mọi cách cho những người nghèo khổ khốn cùng. Các con cháu bây giờ, vẫn nhớ ơn ông bà, vì phước đức của ông bà để lại.

Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ Thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ rất nhân từ, rất can đảm và rất cương quyết, sẵn sàng đối phó với mọi gian nan thử thách, mọi tình huống nghiệt ngã trong cuộc đời để tận tụy phục vụ cho bố mẹ, cho chồng con và cho mọi người.

Năm 1975, quốc nạn bất ngờ ập đến, cuộc sống càng ngày càng cơ cực. Ông phải lặn lội đi xa coi sóc nhà máy xay lúa, một mình bà ở nhà nuôi dạy con cái. Mười đứa con, cả trai lẫn gái đều được khuyến khích theo học. Học hỏi không chỉ trong kiến thức, nhưng còn học cách làm người, như cha mẹ như ông bà. Bà Thoại khi rỗi rảnh kể lể chuyện ông Sang cho con cháu nghe, bà vẫn còn bùi ngùi lúc nhớ đến kỷ niệm ngày xưa. Ngày xưa, mà ông đã biết viết thơ về cảm ơn bà đã thay ông chăm sóc dạy dỗ các con nên người. Ngày xưa, mà khi bà bị bệnh nằm trên giường 28 ngày, dù đầy người giúp việc trong nhà nhưng ông cũng nhất định nghỉ làm trọn tháng để tự tay cơm bưng nước rót hầu hạ bà. Chúng ta sẽ vô cùng lầm lẫn, nếu cho rằng ngày xưa tình nghĩa vợ chồng không biết cách biểu lộ sự tình tứ lãng mạn và âu yếm mặn nồng. Một người con đã kể lại, chưa bao giờ thấy ba má to tiếng cãi nhau dù chỉ là một lần. Không phải là hai ông bà giấu giếm sự thật hay tránh né xung đột nhưng chỉ bởi vì hai ông bà biết cảm thông, biết chấp nhận, biết tôn trọng lẫn nhau và biết chân thành yêu thương nhau.Nếu hỏi rằng cụ Bà Võ Thị Thoại là một người như thế nào mà đã cuốn hút tôi mãnh liệt. Xin thưa rằng vì cụ hết lòng chung thủy với chồng con, hết lòng hết sức để nuôi dạy các con nên người, vì cụ không chỉ dạy dỗ các con bằng miệng lưỡi ngon ngọt, nhưng bằng chính đời sống như một tấm gương về lòng độ lượng của cụ.

Như rất nhiều các gia đình khác, sau biến cố 1975, ông bà tìm cách cho các con vượt biên, dù có phải vay mượn nợ nần. Đến năm 1984, ông bà được các con cháu bảo lãnh sang Úc. Tuổi đời đã chồng chất, nhưng cụ ông cụ bà không xuôi tay đầu hàng với tuổi đời. Năm 1984, bà đã 60 ngoài, ông đã gần đến thất thập cổ lai hi, nhưng cụ ông cụ bà vẫn chăm chỉ học tiếng Anh. Các thầy cô người Úc đến nhà dạy đều phải cúi đầu khâm phục sự nhẫn nại kiên trì và cương quyết của hai người học trò đáng tuổi cha mẹ họ, nhưng vẫn khiêm tốn tập đọc tập nói từng câu từng chữ. Quí thầy cô vụt trở thành bạn hữu thân thiết, vì khi học xong, ông bà thường mời họ ở lại dùng cơm, đối xử với họ đúng theo tinh thần hiếu khách và kính trọng của văn hóa Việt Nam Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Hai ông bà cụ không chỉ tôn trọng thầy cô, nhưng còn trân trọng tình bằng hữu đối với mọi người. Không biết thì thôi, nhưng ai đã từng gặp cụ ông cụ bà thì không thể nào cưỡng lại sự cuốn hút mãnh liệt của cả hai người. Sự cuốn hút của một tấm lòng nhân từ hiếu khách chân thành. 

Rất tiếc, cụ ông qua đời trước cụ bà bốn năm. Tình nghĩa vợ chồng sau hơn nửa thế kỷ sống chung đành đứt đoạn chia lìa. âu cũng là định mênh, âu cũng là lẽ đương nhiên của thân phận làm người. Bốn năm chờ đợi, cụ bà vẫn cương quyết ở lại ngôi nhà cũ, vì ngôi nhà là kỷ niệm của một thuở yêu thương gắn bó vợ chồng. Trước khi ra đi, cụ bà đã trối trăn lại cho các con Ba ở đâu thì Má ở đó. Nếu có chôn thì để ba với má chung một nấm mồ, nằm bên cạnh bờ tre, nơi ba má gặp gỡ nhau lần đầu. Cô thôn nữ Vĩnh Long về nhà chồng năm 16 tuổi, đến khi nhắm mắt, cũng vẫn một lòng chung thủy theo chồng, khi còn sống cũng như lúc qua đời.

Trong những ngày tháng cuối đời, niềm tin của cụ vẫn gói trọn vào sự biết ơn thờ cúng tổ tiên ông bà. Tuy nhiên, cụ Võ Thị Thoại còn mở rộng tâm hồn để đón nhận thêm niềm tin vào Trời Phật, Thượng Đế và Thiên Chúa Cụ thường xuyên suy niệm đọc kinh, chăm chú nhìn vào di ảnh của ông bà, của chồng và nhìn lên thánh giá. Đã có lần một người con hỏi mẹ: Má có sợ chết hay không? Cụ bảo: Má không sợ, nhưng chỉ sợ không có ai chăm sóc cho cháu Ngân, đứa cháu đi du học đang ở chung với bà. Đến giây phút gần đất xa trời như thế mà cụ vẫn một lòng hiền mẫu lo lắng cho các con các cháu. Sau cùng, cụ đã thanh thản, bình an nhắm mắt ra đi vào lúc 8 giờ 30 tối ngày 24 tháng 9 năm 2002. Vào đời vào đầu mùa Xuân, cụ từ giã cõi đời cũng vào một mùa Xuân. Phải chăng đời cụ mãi mãi là một mùa xuân cho mọi người?

Kính thưa quí ông bà anh chị em,

Xin chân thành cảm ơn quí vị đã kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện của gia đình cụ bà Võ Thị Thoại. Có lẽ bây giờ, chúng ta đã đủ dữ kiện và chi tiết để trả lời cho câu hỏi của tôi: Cụ là một người như thế nào, cụ là ai mà chỉ sau hai lần gặp gỡ, tôi đã bị cụ cuốn hút mãnh liệt cho đến nỗi sự ngậm ngùi nuối tiếc của tôi rất gần với sự than khóc của một đứa con mất mẹ.

Nếu có thể tóm gọn lại, thì cụ bà Võ Thị Thoại đã cuốn hút mọi người bởi vì cụ có một tấm lòng độ lượng chân thành: Tấm lòng hiếu thảo của một người con đối với bố mẹ, tấm lòng chung thủy sắt son của một người vợ đối với chồng, tấm lòng mẫu tử dạt dào thiết tha của một người mẹ đối với các con, tấm lòng khoan dung nhân hậu của một người bà đối với các cháu, tấm lòng tử tế thân thiên của một người bạn đối với bằng hữu hàng xóm láng giềng và ngay cả tấm lòng hiếu khách cởi mở chân thành đối với người dưng nước lã. Nếu tính theo số thời gian được gặp cụ, thì tôi chỉ là một người dưng, nhưng người dưng hay người thân không tùy thuộc vào số lần gặp gỡ bên ngoài, mà tùy thuộc vào sự gặp gỡ của hai tâm hồn. Đối với tôi, mặc dù chỉ trong hai lần gặp gỡ nhưng tôi đã là một người thân của cụ, và cụ đã là một người thân của tôi, vì tôi và cụ đã gặp gỡ nhau ở sự sâu thẳm cảm thông của hai tấm lòng.

Cảm ơn cuộc đời đã ban tặng cho chúng ta món quà cụ bà Võ Thị Thoại.

Cảm ơn cụ bà đã ban tặng cho chúng ta món quà của một tấm lòng độ lượng. Cảm ơn cụ bà đã để lại cho cuộc đời những người con, dâu, rể, cháu chắt. Họ sẽ là những chứng nhân đích thực của cách sống độ lượng Võ Thị Thoại, để người khác khi nhìn vào hoa trái đời sau sẽ biết giá tri của cội nguồn đời trước. 

Dưới nhãn quan của một cuộc đời bình thường, với niềm thương tiếc vô hạn và trong niềm cảm thông chia sẻ nỗi buồn với gia đình con cháu, chúng ta xin vĩnh biệt cụ Võ Thị Thoại. Nhưng dưới nhãn quan của một niềm tin tôn giáo, với niềm hy vọng vào một hội ngộ ở cõi vĩnh hằng, chúng ta chỉ xin tạm biệt cụ. Như đã có lần cụ kể lại cho các con: Cụ bà mơ thấy cụ ông đang xây nhà mới để đón cụ về. Như thế, cụ bà phải lên đường ra đi để được trở về đoàn tụ với cụ ông. Như di ngôn sau cùng của cụ để lại cho các con: Các con hãy biết đoàn kết, biết chăm sóc đùm bọc và yêu thương nhau. Hẹn ngày gặp lại các con trong một thế giới khác, thế giới của sự bình an và hạnh phúc đời đời. Riêng cá nhân tôi, tôi rất cần gặp lại cụ, vì cụ còn một câu chuyện leo cây lý thú mà cụ định kể cho tôi nghe nhưng chưa có cơ hội. Xin tạm biệt cụ, hẹn ngày được vinh dự gặp lại cụ trên thiên đường của niềm hạnh phúc và bình an.

Đã có nhiều tiếng khóc tiếc thương vô vàn cụ bà Võ Thị Thoại, nhưng trong những giọt lệ đó, hy vọng sẽ tiềm ẩn một nụ cười biết ơn cuộc đời trần thế của cụ, giống như nụ cười thật tươi của cụ trong di ảnh để lại cho chúng ta ngày tiễn đưa cụ hôm nay.


Melbourne 24 - 9 - 2002 
Linh Mục Đinh Thanh Bình
(Kim Phượng lưu niệm)

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Thích Ca Mâu Ni Phật

Vạn vật đổi thay mà Đức Phật ngàn năm vẫn vậy




Hình Ảnh: Lê Kim Thành

Anh Tư ơi
Những tác phẩm Bonsai của anh Tư chăm sóc trông đẹp quá.
Chín cảm thấy lòng thật thanh thản làm sao.....
Em dựa vào lời mở đề của anh Tư thay lời em cám ơn anh Tư nha:

Mùa đến mùa đi vạn vật đổi thay
Chỉ Đức Phật là ngàn năm vẫn vậy!
Chiêm ngưỡng lắng lòng an nhiên tự tại
Cảm ơn anh, người chăm sóc Bonsai!
(9Oanh)

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Tình Quê




Chẻ tre bện sáo ngăn sông
Phải chi đó vợ đây chồng mới ưng
                                           Ca Dao

Tiếng trống đình rung rinh chùm khế ngọt
Thôn xóm hữu tình, cưởng hót líu lo
Em ngồi phe phẩy chiếc quạt mo
Con tôm nướng lửa lò im thin thít

Nắng chang chang, con nước ròng chảy xiết
Dề lục bình trôi mải miết bến bờ xa
Cò trắng chao nghiêng, sà cành trúc la đà
Con cá lội giật mình vung nước bạc

Chim khách gọi rộn ràng sau đám lát
Ngóng mong ai, tim nhảy phập phồng
Dây nhản lồng ôm quấn quýt đơm bông
Hoa vông nhuộm đỏ lòng trời xanh biếc

Quán lá dừa che, hàng bày la liệt:
Nào hạt me, xoài rụng, gáo nước chòng chành...
Em chơi chòi, tôi mơ một mái nhà tranh
Nợ mua chịu một đời chưa trả hết

Gom lá vàng hoe, bờ nương chiều nắng lệch
Em nằm ngoan, ngắm vòm lá lao xao
Mây vô tình bạc trắng vút lên cao
Tôi ở lại với vườn xanh lá thấp

Bởi có duyên nên tìm hoài cũng gặp
Vớt mù u trôi, em vướng sợi cóc kèn
Ước gì tôi níu được bước chân quen
Nhẹ hơn lá rơi đường chờ bến đợi

Rau nhút phủ mặt hồ im phơi phới
Nước trong veo em rửa cánh tay thiền
Cá lìm kìm riả bóng nắng chiều nghiêng
Thương bông súng phận ba chìm bảy nổi!

Một buổi tắm sông, tình cờ chung bối rối
Em ôm bập dừa, tôi theo nước thả trôi
Quá nhánh bần de, thoáng bóng mẹ em ngồi
Tôi quày quả ngược dòng ôm cây chuối lội

Đồng xanh mơn ráng chiều trời đỏ ối
Nước kinh tràn điên điển trổ vàng hanh
Em bơi xuồng rẽ vạt nắng mong manh
Tôi thấp thỏm giăng đường câu, ý đợi

Xẻo nước cách hai nhà, mấy lần qua chưa tới!
Tôi bện đăng ngăn cá ghép đôi bờ
Chiếc cầu tre nằm lắt lẻo suốt đêm mơ
Có dấu vết em mịn màng trên tay rượng

Hôm cúng đình, bạn cười, hai đứa ngượng
Tôi thầm lo: chóng lớn sớm có chồng
Cứ trộm nhìn rồi giả bộ ngó mông
Lòng lại thẹn với làng trên xóm dưới!

Em leo cây cam, trèo lên cây bưởi
Đu qua cành ổi... Gió thổi ào ào
Áo học trò hai vạt trắng phau phau
Như cánh hạc giữa vườn cây xanh lá

Em nghiêng nón mà lòng tôi vấp ngã
Bước qua cầu hai gót đỏ như son
Mùi rạ rơm thơm phức má hây giòn
Cổ chân trắng nõn nà in lún dạ

Cải trổ ngồng, bông vàng say bướm lạ
Cắp rổ ra vườn em hái đọt mù xa
Lượm hoa cau rơi trắng xóa liếp cà
Ngâm khạp nước em gội đầu ngồi hong tóc

Dòng tóc xõa trôi dài con đò dọc
Ngày qua nhanh, nắng vội cuối bờ đê
Em học xa, đò nhớ rước em về
Bướm lơi lã đậu bờ vai mát rượi!

Lê Kim Thành
San José7/2007


Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

Vẫn Xuân

Anh Tư ơi, 
Thêm một câu của anh đề " Xuân đi xuân đến vẫn còn xuân" em 9  lại cảm xúc cùng hoa và lòng anh Tư qua những cây Bonsai của anh đính kèm


(Bonsai - Lê Kim Thành)
Vẫn Xuân...

Xuân đi xuân đến vẫn còn xuân
Giấu kín lòng chi chút ngại ngần
Tình trong hoa đã tim yêu thấu
Sắc thắm ẩn màu dạ thủy chung

Kim Oanh


Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Xuân Tha Hương

(Bonsai - Lê Kim Thành)
Anh Tư ơi, 
Những chậu Bonsai và câu anh viết " Xuân tha hương" gây cho em cảm xúc ...
Gửi vài câu thơ, đáp lễ công anh chăm bón Bonsai nha anh Tư .
Em9oanh

Xuân Tha Phương

Năm Mới về lá than thở cùng hoa
Vời vợi xa... nhớ thương hoài cố quốc
Ngậm ngùi Tết, tha phương bao năm đã
Mong một ngày hát khúc khải hoàn ca

Kim Oanh