Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Tôi Không Là Một Người Lính


Tôi không phải là một người lính, nhưng tháng Tư lại kéo tôi vào trận chiến, trái tim tôi tan nát với mỗi nhịp đập, lồng ngực tôi nặng trĩu những ký ức tôi không thể cưỡng lại. Tiếng hát vang vọng đã làm nhức nhối bao người khi lần đầu nghe một ca khúc của Nhạc sĩ Nam Lộc được cất lên.

"Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng."

Tôi có cảm tưởng gió mang theo tiếng vọng của lòng dũng cảm đã ngã xuống, và tôi cảm nhận được điều đó trong xương cốt, trong nỗi đau trống rỗng của ruột gan. Một nỗi đau mà chỉ tháng Tư mới biết. Tôi không dũng cảm, nhưng trái tim tôi làm chứng, nước mắt tôi tiếc thương những người đã mất, và tâm hồn tôi đau buốt với sức nặng của một tháng không bao giờ quên. 

Tôi không phải là một người lính, nhưng mỗi tháng Tư, trong tôi lại cảm nhận như đang ở nơi chiến trường. Mỗi nhịp đập kéo tôi chìm vào sự hỗn loạn của những ký ức, tôi không thể trốn chay, và nỗi đau phủ lấy tôi như một cơn bão thầm lặng. Tôi cảm nhận được nỗi mất mát, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người đã chiến đấu. Dù tôi chưa từng cầm súng hay hành quân cùng họ. 

Mỗi tháng Tư về, lồng ngực tôi đau nhói, ruột gan thắt lại, và nước mắt không kềm được khi đọc những bài thơ, một đoản văn, những ca khúc về một thời khói lửa nơi chôn nhau cắt rún, nỗi lòng khắc khoải của ngày tháng sống ly hương. Tháng Tư không tha cho những người vô tội, nó nhắc nhở tất cả chúng ta về những gì đã mất, những gì đã trao đi, và những gì không bao giờ có thể lấy lại được. 
Một nỗi buồn tháng Tư khôn nguôi.......

Không biết vì sao tôi hay buồn
Khi tháng Hè về lệ mãi tuôn
Nhớ phút chia tay cùng ước thệ
Của Người lặn lội chốn sơn khê

Tôi biết vì sao tôi hay buồn
Mỗi tháng Tư về nhuốm đau thương
Quê Hương xa khuất trong trời nhớ
Thương Người Chiến Sĩ dãi dầu sương

Tôi không là người Lính chiến đâu
Tháng Tư sao dạ lắm cồn cào
Tim se sắt nhói từng hơi nhịp
Ruột đứt rã rời tháng Tư đau.


Kim Oanh
30-4-2026

***
Mục Lục: Những Bài Văn Khác: Nhấp vào Links














Những Người Không Chết - Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ - Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ
Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Người Ở Đâu Đêm Nay? - Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành - Tiếng Hát: An Minh

 
1.
Người ở đâu đêm nay khi ngoài kia bóng tối
khi ngoài kia giá buốt giăng đầy?
Một vì sao đơn côi đang lập loè chỉ lối
Cho nguời ngay bước tới giữa chốn u mê nơi nơi.
Người ở đâu đêm nay khi niềm tin sắp đuối
Khi rừng gươm giáo mới đã đứng vây quanh cuộc đời dân tôi.

Người ở đâu đêm nay xin về nơi chốn ấy
Cho triệu dân sẽ thấy một chút yên tâm đêm nay.
Tân cùng 30 năm, bao cầu xin đã vắng
Bao mùa Đông đã trắng, dấu vết đau thương hôm nay đã hằn.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
khi 30 năm vẫn nguyên lời nguyện này.
Người hỡi, thử thách này lớn quá không?
Hay niềm tin con héo hon?
Hay dân tộc này đang cơn nghiệt ngã giữa sống còn?

2.
Người ở đâu đêm nay khi vòng vây đã xiết
Giáo đường xưa đã hết lối về
Nào người chăn chiên xưa, đâu về miền đất hứa
Cho niềm tin cứu rỗi hôm nao trở thành chiêm bao.
Người buồn không đêm nay, bao lời kinh đã cấm
Máu đàn chiên đã thấm trên bao bản làng xa xăm.

Người ở đâu đêm nay, xin gọi Hồn Sông Núi
Cho người người sẽ thấy cùng nỗi đau thương quanh đây
đoạ đày kia anh em, suy tàn kia giáo giới
để cùng nhau bước tới làm sáng danh tên của Người.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
Nhưng 30 năm vẫn xin lời nguyện này.
Người hỡi, chỉ có Người đến đêm nay (thấu cơn đau)
chỉ có Người biết đêm nay (mai sau)
Xin cho dân tộc này (can đảm thêm một ngày) cùng đứng lên một ngày.

Nguyễn Văn Thành

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Hạo Khí Trường Tồn - Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Minh Thanh

(Đại Tá Trần Cẩm Hương)

Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

Nguyễn Minh Thanh

(Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp)

Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:

Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.

Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.

Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.

Sau năm 1975

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bà Trần Cẩm Hương bị kẹt lại Sài Gòn và phải đi tù cải tạo kéo dài suốt 10 năm dù đã giải ngũ trước đó.
Sau khi ra trại năm 1985, bà bị chỉ định lao động ở Hậu Nghĩa, ở một căn Chòi Lá giữa đồng khô, chịu sự kiểm soát của một góa phụ VC. Do phải lao động nặng nhọc với điều kiện sống khắc nghiệt, Bà đã bị cảm nặng dẫn tới viêm màng não. Gia đình có xin chuyển về Sài Gòn chữa trị .Song không được. Vì vậy Bà đã qua đời vào tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 61 tuổi.
Đám tang của Bà được thân quyến tổ chức tại ngôi nhà cũ ở đường Hồ Biểu Chánh, quận Phú Nhuận, SaiGon. Di hài Bà được hỏa thiêu tại lò thiêu vãng sanh Miền Cực Lạc Thủ Đức.

Tâm Cảm:

Người xưa có câu: Gia bần tri hiếu tử, Quốc nạn thức trung thần!! Hậu sinh xót thương Bà hồng nhan bạc phận, song dạ sắt lòng son. Xin nghiêm mình kính cẩn cảm nổi nhọc nhằn khốn khổ của Bà:
Cải tạo lao tù đăng đẳng cùng cực... sông dài khốn khổ... thảm thương tấm thân ra tiều tụy...!!!
Chỉ định cư trú thẳm thăm vất vả... biển rộng đọa đày... thống thiết bản mệnh đến cáo chung...!!!

Ngoài ra, hậu sinh kính nguyện cầu Bà được vãng sanh Miền Cực Lạc:
Cầu tinh anh tài đức vẹn toàn phơi phới vãng sanh thảnh thơi miền Cực Lạc
Nguyện thể phách đảm lược cao thâm châm chú phù trợ phấn phát giống Hồng Bàng

Dưới đây là bài thơ:
Giai Nữ Giữa Đời Phong Sương (của Trí Tuệ Nhân Tạo = AI)

Giai nữ một tấm lòng trong,
Giữa cơn binh lửa vẫn không đổi dời.
Nét nghiêm mà thắm nụ cười,
Đem nhân nghĩa trải khắp nơi quân trường.
Đời sau nhắc chuyện phong sương,
Càng thương dáng ngọc giữa đường gian lao.
Tên bà như ánh trăng cao,
Soi vào hậu thế ngọt ngào khí tâm.

TTNT

***Ngày 26 Tháng 2-2026, là ngày Giỗ lần thứ 39, của Giai Nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương.

Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)
* Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp

Tạc Dạ Nghìn Sau...

 

Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gió
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay

Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu,
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới

Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió 
sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngổn ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt

Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!

Kim Oanh
28.4.2026


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Anh Không Chết Đâu Em - Sáng Tác:Trần Thiện Thanh ( Bùi Đức Lạc)

 
 (Đại Úy Nguyễn Văn Đương)


Sự Ra Đi Của Đại Uý Đương, Hạ Lào năm 1971.

Xin phép được giới thiệu hoàn cảnh hy sinh của Đại Uý Nguyễn văn Đương (Người hùng Mũ Đỏ trong bài hát nổi tiếng "Anh Không Chết Đâu Em" Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh), qua lời kể lại của Trung Tá Bùi Đức Lạc Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Dù, hiện định cư Mỹ. Duy chỉ có điểm cuối cùng, ai cũng biết đó là Đại Tá Thọ bị địch quân bắt giữ, được thả, xuất ngoại và về sau qua đời tại Úc, nhưng trong bài viết nói rằng Đại Tá Thọ cùng hy sinh với Đại Uý Đương.(có lẽ do người viết lại chưa chuẩn xác qua lời kể của Trung Tá Bùi Đức Lạc).

Trung Tá Bùi Đức Lạc Kể Về Cái Chết Của “Người Anh Hùng Mũ Đỏ Tên Đương”

Trung Tá Bùi Đức Lạc kể: “Lúc Nguyễn Văn Đương chết, tôi đang bay trên trời ngay trên đầu Nguyễn Văn Đương, nên tôi biết rất rõ, tại sao Nguyễn Văn Đương chết và chết như thế nào! Nguyễn Văn Đương là pháo đội trưởng Pháo Đội B3 Nhẩy Dù.
Trong căn cứ của anh, hiện có một pháo thủ là anh Đào Văn Thương, có thể đang có mặt tại đây, sau này là Mục Sư Đào Văn Thương. Những người trong Căn Cứ 31 hiện giờ không còn ai ở đây, nhưng các pháo thủ có mặt trong trận Hạ Lào, thì có Thiếu Tá Đào Kim Trọng (pháo đội trưởng Pháo Đội A.3 Dù), Thiếu Tá Lý Kim Điền (pháo đội trưởng Pháo Đội C1 Dù), Nguyễn Kim Việt (pháo đội phó Nhảy Dù) và pháo đội trưởng Pháo Đội C3 là Đại Úy Bành Kim Trí. Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh có một pháo đội 155 ly của Đại Úy Trương Như Hy, đóng tại Căn Cứ 30.

Ngày mà chúng tôi nhận được tin Trung Tướng Đỗ Cao Trí chết tức là ngày 21-2, ngày mà căn cứ chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đạn. Đạn dược trong trận Hạ Lào, tụi Việt Cộng rất là dư thừa, nhưng mình rất là khan hiếm nó ngược lại như vậy, và các súng tối tân của nó cũng trên mình hết, tức là các súng 130 ly và hỏa tiễn.
Ở miền Nam chúng ta chỉ bị pháo hỏa tiễn 122 ly, cùng lắm là 2 nòng mà thôi. Nhưng sang Hạ Lào, chúng dùng 6 nòng, bắn một lúc 6 trái và nó bắn không bao giờ dưới 6 tràng, tức là không bao giờ dưới 60 trái; đạn dược của nó dư dả như vậy, nên Căn Cứ 31 của chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đủ các loại đạn. Nhưng thật sự, chúng ta ở trong Pháo Binh biết, nếu mà 2.000 trái mà trúng căn cứ, thì chắc chúng tôi thành bụi hết rồi.
Nó pháo 2.000 trái chỉ trúng căn cứ tối đa là 10 trái; cũng may như thế mà giờ đây tôi có dịp trình bày với quý vị. Không có ngày nào nó pháo dưới 1.000 trái, nhưng đa số ra ngoài căn cứ hết. Hôm 21, khi nó tấn công Căn Cứ 31, thì chúng tôi bị pháo như thế và Căn Cứ 30 cũng bị pháo tương tự. Ngày 24, là ngày Căn Cứ 31 bị thất thủ, tôi và Đại Tá Lưỡng, không biết ai xin, nhưng khi máy bay trực thăng đáp xuống thì hai chúng tôi phải lên máy bay đi.

Chúng tôi đang bay quan sát cho Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, lúc đó Tiểu Đoàn 8 và một thiết đoàn đang đụng độ với Sư Đoàn 320 Việt Cộng. Ở bên các cánh quân khác như Lữ Đoàn 3, chỉ bị một sư đoàn tấn công, còn riêng Lữ Đoàn 1, ba tiểu đoàn Dù bị ba sư đoàn tấn công ngày đêm, không có lúc nào mà không có đơn xin tác xạ trên hệ thống tác xạ hết, thành ra trong trận Hạ Lào, anh em chúng tôi không bao giờ có một giấc ngủ trọn vẹn 10 phút, kể cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi đang bay quan sát trên không phận của Tiểu Đoàn 8, thì Căn Cứ 31 bị tấn công rất mạnh, tấn công giữa ban ngày.
Tất cả những trận đánh tại Căn Cứ 31 đều diễn ra ban ngày hết. Ban đêm chỉ là đặc công đánh nhỏ mà thôi. Khi nó tấn công thì từ chỗ tôi đang bay, nhìn qua Căn Cứ 31, chỗ Đương đang đụng trận, thì thấy những chiến xa của Việt Cộng lờ mờ không thấy rõ, tôi ước lượng khoảng 10 chiến xa. Lúc đó Nguyễn Văn Đương gọi cho tôi nói ‘Nó đông lắm anh ơi!’. Tôi hỏi: ‘Tình trạng bây giờ như thế nào?’.
Đương cho biết: ‘Lủng tuyến rồi anh ơi!’. Tôi nhìn đồng hồ khoảng 2 giờ 50 chiều. Vào khoảng 3 giờ thiếu 10, Nguyễn Văn Đương gọi nói: ‘Em chỉ còn hai cây súng bắn được thôi’, và sau đó Đương nói, ‘Em chỉ còn một cây súng bắn được thôi. Tức là 5 cây hư, chỉ còn độc nhất một cây’. Khoảng 4 giờ, Đương cho tôi biết là, ‘Chiến xa địch đang nằm trên đầu em’.

Lúc đó Đương đang ở dưới hầm và qua máy liên hợp, tôi nghe Đương nói với một nhân viên của anh: ‘Băng cho tao, máu ra nhiều quá rồi’. Lúc bấy giờ tôi mới biết tay phải của Nguyễn Văn Đương đã bị rớt rồi và chân Đương cũng bị trúng đạn, nhưng Đương vẫn bình tĩnh nói với tôi: ‘Em lên đạn bằng cái kiểu ngày xưa đó, tức là súng Col của Đương, Đương phải dùng tay phải tỳ vô cái dây nịt bụng mà lên đạn, không thể lên đạn bằng hai tay được nữa.
Khoảng 4 giờ hay 4 giờ 05 thì Đương nói: ‘11 ơi, em không liên lạc với 11 nữa, vĩnh biệt 11!’ và rồi tôi không nghe gì nữa.

Tôi nghĩ lúc đó Đương đã vĩnh biệt tất cả đồng đội. Trước khi chết, Đương cho tôi biết, anh chỉ còn có hai viên đạn cuối cùng trên nòng súng mà thôi! Và đó là cái chết của Nguyễn văn Đương trên mặt trận Hạ Lào. Sau đó khoảng 5 phút, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 gọi cho tôi nói: ‘11 làm ơn bắn ngay trên đầu tao đi’. Trên máy bay tôi cho lệnh tất cả các pháo đội sử dụng đạn nổ CVT, dù sao tôi cũng sợ bắn đạn thường rơi vào hầm hố của quân mình, nên tôi dùng đạn CVT.
Khai hỏa vào khoảng 4 giờ 15, thì tất cả 4 pháo đội đồng khai hỏa bắn vào Căn Cứ 31 và bắn giết cả bạn lẫn thù, lần đầu tiên trong đời pháo thủ của tôi! Khi tôi vừa ra lệnh bắn, thì Đại Tá Lưỡng và tôi cùng cả phi hành đoàn đều bật khóc. Đó là cái chết của Đại Úy Nguyễn Văn Đương và đại tá lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào”.

Mời thưởng thức ca khúc:  

Bùi Đức Lạc
(Trích từ Nguồn tvvn.org)

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Buồn Nào Cho Nguôi - Nhạc Sĩ: Lê Tín Hương - Ca Sĩ: Vũ Khanh

Nhạc Sĩ: Lê Tín Hương
Ca Sĩ: Vũ Khanh

Vũ Đức Giang

(Vũ Đức Giang, trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)

          Đây là bài viết về chính là về Vũ Đức Giang, một người bạn thân cùng lớp tại trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21, khóa Quân Y Hiện Dịch (QYHD) cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Cũng thêm vào bài là các chi tiết, tạm gọi là bối cảnh sơ lược, đáng nhắc lại, còn ghi nhận được của từng năm học, liên quan đến cả học trình Y Khoa bảy năm 1967-1974. 
          Tôi thi được vào năm Dự Bị Y Khoa (APM), niên khóa 1967-1968. Lúc đó có biến cố Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, ảnh hưởng mạnh đến mọi người và chúng tôi, tất cả sinh viên, phải học quân sự tức là tham dự chương trình Quân Sự Học Đường (QSHĐ) để có kiến thức phải dùng khi hữu sự. Chính quyền VNCH lúc đó chủ trương QSHĐ để hy vọng khi cần đến, sinh viên dân sự cũng có thể cầm súng chiến đấu như các quân lính chuyên nghiệp. 
 
(Hình chụp 1968 khi Lớp Dự Bị Y Khoa (APM) tham dự chương trình Quân Sự Học Đường.
Hàng đứng còn nhận được từ bên trái có Võ Văn Thành, Bùi Trọng Cường, khoảng giữa có Phan Xuân Tuấn, Dương Thanh Trắc, Nguyễn Kỳ Chân; từ phải có Vũ Dũng, Nguyễn Văn Quốc, Đỗ Danh Toàn, Phạm Anh Dũng.
Hàng ngồi đeo kính đen là Nguyễn Đăng Cung, khoảng giữa có Nguyễn Hữu Nhiệm, cạnh người áp chót bên phải là Trần Trung Hòa.)

          Về học hành chính thức, chúng tôi là sinh viên của trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn và tuy học lớp tại Cơ Thể Học Viện cũ của trường Y Khoa ở đường Trần Hoàng Quân, nhưng thực tập lại ở Khoa Học Đại Học Đường Sài Gòn. 
          Chúng tôi học cả năm như vậy và cuối năm thi lên vào lớp Y Khoa năm thứ Nhất. Kỳ thi cuối năm của lớp APM thật khó khăn. Lớp Dự Bị Y Khoa tổng số có khoảng 380 người, mà chỉ có khoảng 250 người đỗ kỳ thi, được lên lớp. Trong số các bạn thi rớt cuối năm, có khoảng 50 người được “ở lại lớp” vì chỉ có thi trượt thực tập, còn số còn lại bị loại hẳn ra khỏi chương trình APM, vì trượt thi viết. Những bạn không may mắn bị "rớt" lại APM, tôi nhớ có một số rồi cũng tốt nghiệp được Y Khoa, nhưng trễ lại 1 năm như Nguyễn Như Thành, Lê Thành Đấu, Trần Hoàng Long, Nguyễn Võ Khanh...          
          Riêng cá nhân tôi, cả năm chỉ đi học thực tập là những giờ bắt buộc và chả mấy khi đi học ghi bài. Thường tôi chỉ đợi “cua” (bài học ghi lại) của ban Đại Diện lớp in, phát ra là đi lãnh về học. Cuối năm cứ thế mà đi thi và cũng thi đỗ được hết, và được vào năm Y Khoa thứ Nhất. Tôi phải thú nhận thật may mắn, đậu hạng 9 hay 10 gì đó, và nên còn được học bổng của Bộ Y Tế khoảng 10 ngàn đồng Việt Nam, tiền lúc đó.
           Lên năm thứ 1 Y Khoa, vào chính thức học ở trường Y Khoa, thay vì Dự Bị Y Khoa APM do các giáo sư trường Đại Học Khoa Học giảng dạy, cách thi cử đổi khác. Cứ một vài tháng lại có kỳ thi, không Cơ Thể Học, cũng Sinh Hóa Học, rồi Mô Học... Quen tật xấu, tôi cũng chẳng đến trường ghi bài. Vì các kỳ thi gần nhau quá, ban Đại Diện lớp đôi khi không đủ thì giờ in bài kịp cho sinh viên học. Kỳ thi đầu tiên của Cơ Thể Học sắp đến, chỉ còn có vài ngày, tôi vẫn chưa có một số tài liệu do Bác Sĩ  Y Khoa Trần Anh, Thạc Sĩ Nhân Chủng Học, giáo sư chính phụ trách môn Cơ Thể Học, giảng dạy. Không đủ bài vở, tôi đến trường hỏi mượn để chép lại học. Đang vớ vẩn trước cái Đại Giảng Đường to lớn, thì vừa đúng lúc nghỉ giải lao, sinh viên cùng lớp kéo nhau ra khỏi cửa. Là năm đầu tiên học ở trường Y Khoa, ít khi đến trường và lớp, tôi cảm thấy  lạc lõng, nhìn ai cũng xa lạ cả. Tần ngần một lúc khá lâu, gặp một sinh viên khác vừa bước ra sau cùng. Tôi trông anh bạn đeo kính cận thị, có vẻ hiền lành, thành đánh bạo lại làm quen. Rất niềm nở và thông cảm, người bạn chưa quen trước và tốt bụng đó cho tôi địa chỉ nhà, hẹn buổi tối lại cho mượn bài. Đó là lần đầu tiên tôi gặp và quen Vũ Đức Giang.

           Nhà của hai đứa cũng gần nhau, đều ở Đa Kao. Tôi ở đường Tự Đức. Nhà của Giang ở trong một ngõ của đường Phạm Đăng Hưng. Đó là một trong những nhà nhỏ, ngay dưới chân cầu Sắt, chiếc cầu nằm trên đường Nguyễn Văn Giai lối qua Gia Định, vẫn được gọi là "cầu Sắt", vì cầu làm bằng sắt và tôi không biết tên thật của cầu là gì. Đi vào ngõ phía trong sâu chút nữa là nhà của Lê Huy Hòe, cũng là bạn cùng lớp. Nhà của Giang đơn sơ, nhưng sạch sẽ. Giang là con trưởng ở với bố mẹ, một em trai và một em gái. Tôi không nhớ nhiều về bố của Giang vì ông mất sớm, nhưng bà mẹ thì  thật hiền dịu, chiều và thương con, một bà mẹ Việt Nam lý tưởng. Cậu em trai, kém Giang và tôi chỉ một vài tuổi nhưng rất kính trọng, lễ phép với anh và bạn của anh. Cô em gái Giang ngọt ngào, giản dị và dễ mến.
           Ngay buổi tối đầu tiên, Giang đã hơi làm lạ khi thấy tôi rủ đi uống cà phê nghe nhạc và tôi cũng hơi ngạc nhiên khi thấy bạn nhận lời ngay. Sau đó hai đứa mới khám phá ra là người bạn mới tuy có nhiều điểm khác mình, nhưng cũng có cùng một sở thích là âm nhạc. Giang học rất chăm và khá đều, còn tôi, thú thật, hơi... làm biếng, chỉ bắt đầu học lúc sắp thi. Là cầu thủ bóng tròn loại khá, lúc nào Giang cũng có mặt trong những lúc tranh giải túc cầu của lớp Y Khoa, trong khi tôi chỉ biết xem đá bóng và biết cổ vũ, hò hét, hoan hô. Tính của Giang trầm lặng, ít nói và tôi, ngày đó, sôi nổi hơn. Giang thích và hay ôm đàn guitar dạo, nhưng cũng như tôi, vì chính yếu chỉ tự học, nên không khá lắm. Giang đập trống thì khá hơn một chút. Về trình diễn âm nhạc, Giang đủ sức tham dự  những buổi văn nghệ tất niên tài tử trong lớp. Giang rất thích nghe nhạc, loại nhạc như nhạc Tiền Chiến, Tình Ca Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên (học cùng thời với Giang, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng, Võ Tá Hân... ở trường Trung Học Nguyễn Trãi)... Vũ Đức Giang kể chuyện "hồi APM" lúc học Quân Sự Học Đường, hay đi hát đàn với hai bạn cùng lớp là Vương Đức Hậu và Nguyễn Minh Huấn. Có khi họ còn "chở ba" trên xe gắn máy và người nào ngồi giữa thì cầm cái đàn guitar. Nghe kể như vậy, tôi thấy người bạn mới của mình tính tình thật là "văn nghệ" rồi! Còn cá nhân tôi, mê đàn hát từ những ngày còn bé. Cả hai đứa vì không có "điều kiện" nên đều chưa bao giờ được học nhạc chính thức, từ thầy hay từ trường lớp, càng làm cho hai đứa hiểu nhau, gần nhau, rồi dần dần thân nhau nhiều. 

          Giang và tôi từ đó rủ nhau, ít nhất một tuần một lần, đi quán để uống cà phê, để hút thuốc lá, nói chuyện và nghe nhạc. Hai quán cà phê chúng tôi thường đến là quán Hân và Ly Tao. Cả hai quán đều có những nhạc thật hay. 
           Quán Hân ở đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, trước cửa là hiệu phở Hoàn Kiếm, ngay gần nhà. Con gái chủ quán, thỉnh thoảng ra quầy thu tiền, là một cô gái xinh xinh, ngày đó, có một thời gian ngắn cũng đã là "cô em nhỏ" của Vũ Quốc Phong, một bạn cùng lớp Y Khoa. Đây là nơi chúng tôi được nghe những băng nhạc hiếm, có Duy Trác đằm thắm ấm áp hát "Thuở Ban Đầu" (Phạm Đình Chương), Anh Ngọc điêu luyện với "Mắt Biếc" (Cung Tiến), Mai Hương thiết tha "Giấc Mơ Hồi Hương" (Vũ Thành), Châu Hà hát "Suối Tóc" (Văn Phụng) êm như mơ... 
          Quán Ly Tao gần nhà tù Chí Hoà. Chủ quán, ca sĩ Ngọc Long, là một người cao lớn. Quán có người hầu bàn cũng là con gái nhỏ nhắn của anh Ngọc Long. Cô bé gọi chúng tôi là chú xưng cháu, làm không khí ấm cúng và tự nhiên. Ở đây, Giang thường yêu cầu một băng nhạc rồi thẫn thờ, mê mẩn nghe bài "Chiều Mơ" của Vũ Đức Sao Biển do Ngọc Long hát:

               "Chiều mơ anh sẽ về từ đèo cao hút gió, có hoa xưa chờ người xưa đó. 
                Chiều mơ anh thấy em buông tóc bên trời, buồn một mình trên tuổi xuân phai. 
               Chiều mơ anh cầm đàn về bờ xưa suối biếc, hát em nghe ngàn lời thương tiếc...". 

           Tôi thấy bạn rất có lý, Ngọc Long ít khi hát, có giọng thật trầm, thật "đầy", và hát bản này quả có một không hai. Vũ Đức Sao Biển nổi tiếng với  bài "Thu Hát Cho Người"  do Anh Ngọc hát thật hay, nhưng theo ý riêng của Giang "Chiều Mơ" tuyệt diệu hơn và lúc đó không được ai khác ngoài Ngọc Long trình bày, tuy sau này có Mai Hương hát ở Hải Ngoại. 
          Đúng như cảm nghĩ ban đầu khi gặp gỡ, Vũ Đức Giang rất tốt với bạn bè. Bản tính rất hiền, và nhiều khi ngây thơ như một cô gái nhỏ. Giang hiền lành, hầu như không biết giận ai, thành hay bị tôi và các bạn thân khác trong cùng lớp Y Khoa như Quách Anh Dương, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng... "bắt nạt" thường xuyên và Giang thường chỉ phản ứng bằng một nụ cười nhẹ nhàng. Tính Giang rất nhạy cảm, và thỉnh thoảng bị tôi trêu, vì Giang có thể dưng dưng "mau nước mắt" khi có chuyện gì cảm động, ngay cả chỉ lúc nghe những bản nhạc đầy tình cảm mạnh như "Bà Mẹ Gio Linh" (Phạm Duy) do Thái Thanh hát. Giao thiệp với Giang khá lâu tôi mới biết thêm về con người của bạn. Tuy hiền lành, thích chiều bạn, hay nhịn người khác nhưng một khi đã  tin vào chuyện gì thì không có khi nào thay đổi ý kiến, nếu không có những sự kiện vững chắc chứng minh khác đi. 
          Năm thứ 1 Y Khoa của chúng tôi đánh dấu bằng một chuyện đau lòng. Tháng Ba 1969, Giáo Sư Thạc Sĩ Trần Anh, một bác sĩ rất giỏi, đang đảm nhiệm chức Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn ngoài chức Trưởng Khu Cơ Thể Học Viện của Đại Học Y Khoa, bị ám sát, bắn chết bằng súng lục, trong khi sau giờ làm việc, ông đi bộ từ trường Y Khoa về nhà, gần Đại Học Xá Minh Mạng. Vì  ông là giáo sư chính hướng dẫn cho Y Khoa 1, đám tang của thầy, chúng tôi thay nhau "đứng gác" quan tài. Phải nói, tất cả chúng tôi và nhất là Vũ Đức Giang bị xuống tinh thần khá lâu, vì cái chết của người thầy đáng kính trọng. Giang tính tình nhậy cảm buồn đến cả tháng mới nguôi. Mãi sau 1 thời gian giáo sư Bác Sĩ Thạc Sĩ Nguyễn Hữu từ Pháp về, đứng ra lãnh trách nhiệm dẫn dắt sinh viên Y Khoa 1 môn Cơ Thể Học. 
           Sau khi thi đỗ lên năm Y Khoa 2, một buổi tối hơi lành lạnh, khí hậu hiếm thấy ở Sàigòn, hai đứa khi "ngồi" quán Hân  nhìn khói thuốc bay lững lờ, ngắm từng giọt cà phê phin đen chảy và nghe nhạc,  Giang đột nhiên cho tôi biết quyết định nộp đơn thi vào QY (Quân Y) và rủ tôi cùng theo. Giang nói cho tôi nghe về ước muốn trở thành y sĩ nhảy dù. Bình thường, Giang chỉ nhỏ nhẹ, nhưng lúc đó nhìn và nghe Giang, thấy nó thật cương quyết. Tôi đồng ý ngay, không chần chừ, nhưng theo tôi binh chủng nào cũng được. Về sau kéo thêm được Vũ Quốc Phong, Nguyễn Minh Huấn, Đoàn Trung Bửu... cũng thi đỗ và gia nhập Quân Y. Khoảng thời gian đó vừa sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa miền Nam vừa chiến thắng một cách dũng cảm và tinh thần thanh niên đang được kích thích sôi động.

         Cuộc đời Quân Y có những điều thật bất ngờ. Chúng tôi cứ nghĩ  Sĩ Quan Quân Y sẽ gian khổ khi ra trường lúc chiến đấu, còn lúc là Sinh Viên Quân Y thì chỉ tập tành quân sự chút ít mỗi mùa Hè, và trong năm thì giờ dành cho việc học. Một buổi trưa nắng và gió tháng Giêng 1970 sau khi làm thủ tục được phát quần áo, giày "bốt đờ sô"... tôi và Giang chở nhau vào trường Quân Y ở đường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn bằng chiếc xe gắn máy "Honda dame" của tôi để tham dự Tám Tuần Lễ Huấn Nhục. Hai đứa khệ nệ khiêng mỗi đứa một bị to. Ngoài những đồ đạc nhà binh lỉnh kỉnh như "bi đông", xẻng xúc đất, "gào mên"...  còn nặng đầy sách vở, tưởng sẽ vào đó ngồi học bài ngay! Ba ông anh huynh trưởng sinh viên quân y do Sinh Viên Quân Y năm thứ 6 Tô Phạm Liệu chỉ huy đã đợi sẵn ở cổng vào. Không thấy đàn anh nào cười đón mừng cả! "Ông" nào trông cũng nghiêm và khó quá. Mấy chục tân sinh viên Quân Y, mới nhập ngũ, là những sinh viên Y Khoa 2 lớp chúng tôi, lớp Y Khoa 1 như Lê Quang Minh, Phạm Quang Tố, Ngô Hoàng Lâm, Lê Thành Đấu...), sinh viên Dược như Mai Gia Thược (Thược về sau tự tử trong trại Cải Tạo), Phạm Đức Thụy... và sinh viên Nha. Vũ Quốc Phong có giọng nói to, hoạt bát và có dáng điệu chững chạc nhất được cử làm Tân Sinh Viên Đại Đội Trưởng cho Đại Đội Tân Sinh Viên Quân Y. Ngay sau đó, đám tân sinh viên Quân Y chúng tôi được lệnh ôm gói hành trang nặng trĩu chạy chung quanh Vũ Đình Trường của trường Quân Y, theo ba ông đàn anh cho đến khi gần... xỉu. Thật là bất ngờ!

 
(Hình chụp tháng Giêng 1970.  
SVQY Tô Phạm Liệu, người mặc quân phục, đứng đối diện các các Tân SVQY đa số mặc thường phục, đến trình diện nhập ngũ ở Trường Quân Y. 
Từ phải qua trái của hàng đầu tiên, còn nhận ra được là Tân SVQY Châu Văn Còn, Lê Quang Minh, Ngô Hoàng Lâm, Trần Ngọc Thạch. Sau lưng Châu Văn Còn là Lê Thành Đấu.
SVQY Ngô Thế Khanh mặc quân phục, đứng ở bìa trái của hình)

             Rồi cứ như vậy mỗi ngày, các đàn anh sinh viên quân y như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn, Phạm Đặng Long Cơ, Nguyễn Ngọc Ấn, Ngô Thế Khanh... lần lượt thay phiên nhau cho các đàn em mới "nếm mùi" Quân Đội. Khi còn là sinh viên dân sự, tôi đã từng đi học quân sự ở Quang Trung hai lần và Thủ Đức một lần nhưng không thấy chỗ nào có thể gian lao như là tám tuần lễ huấn nhục ở trường Quân Y. Những khóa huấn nhục quân y trong những năm trước chỉ có 6 tuần và khóa của chúng tôi lại kéo dài đến 8 tuần. Theo các đàn anh cho biết thì những năm trước cũng có thời gian huấn nhục nhưng vì "thông cảm" là cùng với quân sự, các đàn em vẫn phải "học chữ" ở các trường Y Nha Dược. Khóa của tôi thì đặc biệt sao đó, có nhiều đàn anh Quân Y có lý tưởng mạnh và nhiệt thành do đó muốn huấn luyện chúng tôi thành những sĩ quan nòng cốt cho ngành Quân Y trong tương lai. Dù muốn hay không, Trường Quân Y cũng là một trong những trường Sĩ Quan Hiện Dịch khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị... Tân Sinh Viên Quân Y  ngoài sự huấn nhục thể xác và tinh thần ở trường Quân Y, chắc chắn không thể so với trường chuyên nghiệp quân sự Võ Bị Đà Lạt nhưng chúng tôi còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự là vẫn phải đi học, học bài rất nhiều của các ngành Y Dược Nha. Và nếu không thi đỗ, thì bị ở lại lớp hay có khi "ra trường sớm" (sortie latérale) tức là bị loại khỏi trường Y Khoa, nếu thi trượt hai lần. Nhất là ngày đó chúng tôi Y Khoa Hai có môn Ký Sinh Trùng Học do Giáo Sư Bác Sĩ Đỗ Thị Nhuận tuy rất tận tâm nhưng cũng nổi tiếng rất nghiêm khắc, trong việc học hành, thi cử của sinh viên và có lúc thẳng tay "đánh rớt" những người không đủ điểm.

          Trong số các đàn anh có ba người khó tính nhất cùng ở một toán huynh trưởng huấn luyện là anh Cảnh, Đức và Ấn (anh Nguyễn Ngọc Ấn khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, sau đi Biệt Động Quân, tác giả bài "7 Ngày Ở Quảng Trị" viết về chuyện bị bắt làm tù binh ở trận Hạ Lào, khi bị đưa ra Bắc, và mãi sau mới được hoán chuyển tù binh về lại được miền Nam). Ba ông này huấn nhục chúng tôi theo đúng nghĩa huấn nhục, ngay từ buổi đầu tiên với các hình phạt nặng, vì những lý do đôi khi thật là vô lý. Vì không được chuẩn bị tinh thần nên các đàn em rất ngạc nhiên và có thể nói là bất mãn. Một buổi chiều, như thường lệ, ba ông đàn anh đem cả Đại Đội Tân Sinh Viên ra phạt tới tấp vì một cái lỗi rất là nhỏ, tôi không nhớ rõ và hành xác đàn em khoảng một tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang. Đoán biết có sự bất mãn, anh Cảnh trước khi giải tán đại đôi, tuyên bố sẽ tập họp lại buổi tối và nói rõ ràng nếu có ai không bằng lòng thì lúc đó cho biết để các đàn anh sẽ cho phép "rời khỏi Quân Đội". Giang, vài bạn nữa và tôi có họp lại bàn chuyện này. Mấy ông đàn anh thì cũng dự định "dọa già" các em thôi. Các ông em ngây thơ, tin thật và hẹn nhau nhất định giữ  vững lập trường dù có gì xảy ra. Tối hôm đó, Vũ Đức Giang, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Anh Dũng đã đứng ra khỏi hàng để được "cởi áo nhà binh", như các anh đã  hứa hẹn. Sau đó thì chúng tôi "vỡ mộng"! Những đàn anh ra lệnh cho Vũ Quốc Phong đứng ra phạt chúng tôi. Phong nhận thấy sự vô lý, vì  các  bạn của mình chỉ bày tỏ ý kiến khi được đàn anh hỏi thôi, nên nhất định không tuân lệnh. Ba ông đàn anh nổi giận phạt riêng Phong trước hàng quân và rồi phạt cả đại đội chạy vài vòng Vũ Đình Trường. Riêng ba đứa chúng tôi thì biết thêm hình phạt Dã Chiến là gì, đêm hôm đó. Các ông anh thay nhau phạt 3 đứa tôi cả đêm dài. Đến sáng ra, khi hỏi lại chúng tôi vẫn cương quyết giữ ý kiến đòi "rời khỏi Quân Đội" như đàn anh đã hứa. Riêng Vũ Đức Giang, khi được cho nghỉ vài phút, đã thu dọn cho đồ nhà binh vào bị và mặc sẵn quần áo dân sự từ lúc nào rồi. Lúc này các ông đàn anh cũng hơi lúng túng, không biết xử trí ra sao. Huynh trưởng Tô Phạm Liệu phải đến gọi riêng ba đứa em ra khuyên bảo. Anh Liệu nói nhiều về tình cảm anh em trong gia đình Quân Y và giảng cho các đàn em bướng bỉnh hiểu về mục đích chính của thời gian huấn nhục chỉ làm cho tân sinh viên tập quên đi cá nhân của mình và nghĩ đến tập thể, tương lai, tổ quốc...  Anh nói rất hay, chúng tôi cảm động nhiều và riêng Giang phải long lanh nước mắt.

          Chúng tôi hiểu, không xin "rời khỏi Quân Đội" nữa và rồi theo thời gian, cũng quen đi những huấn luyện về thể xác và tinh thần để sửa soạn thành những Quân Y Sĩ trong tương lai. Thôi thì đủ trò phạt, hít  đất, chạy... Một lần tôi đang ở trong hàng nghe anh Phạm Gia Cổn "thuyết pháp", không hiểu sao, lỡ dại không nhịn được phải phì  cười, và bị anh phạt. Anh cho là tôi "cười nhỏ quá", nhiều người chưa được nghe và bắt thằng em đứng giữa hàng quân cười thật to 10 lần để cả Đại Đội được nghe. Tôi nhớ mãi bị khản giọng, mất tiếng đến cả mấy ngày. Nhưng kể từ ngày đó, 2 anh em chúng tôi lại quen biết thân nhau, thân nhau nhiều, thân nhau mãi cho đến khi anh qua đời năm 2022. Những tuần lễ huấn nhục của Tân Sinh Viên cũng qua đi, trở thành những kỷ niệm thú vị không bao giờ quên. Khi chúng tôi tổ chức Đêm Lễ Gắn Alpha theo sau là buổi văn nghệ mãn khóa, cả Giang và tôi đều vào ban văn nghệ trình diễn. Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm Nguyễn Minh Huấn hôm đó hát "Nguyệt Cầm" của Cung Tiến-Xuân Diệu. 
          Lên năm thứ 3 Y khoa, sinh viên bắt đầu thực tập ở bệnh viện và cũng bắt đầu được chia đi gác đêm. Tôi và Giang có một kỷ niệm không bao giờ quên ở nhà thương Hồng Bàng là nơi chuyên trị những bệnh nhân bị bệnh Lao, nhiều người thật nặng, ngày nào hình như cũng có người chết. Phòng trực cho sinh viên Y Khoa ở chỗ vắng vẻ, cách xa tòa nhà chính, nơi bệnh nhân nằm dưỡng bệnh. Ban đêm vắng mà bị gọi khi bệnh nặng hay khi bệnh chết thì rất ngại, vì phải đi bộ khá xa và "đường xá" thì tối mù mịt. Các đàn anh Y Khoa thường bảo là chỗ đó có... ma! Chuyện ma của nhà thương Hồng Bàng cũng đã có nhắc đến trong quyển "Thế Giới Trường Thuốc" của Đặng Đức tức Bác Sĩ Đặng Đức Nghiêm. Tôi vừa đọc xong quyển sách vài ngày hôm trước và vẫn còn đang bị ám ảnh. Anh bạn cùng lớp, tôi không nhớ rõ tên, được chia trực cùng đêm lại bị ốm, nên tôi "năn nỉ", rủ Giang đi cho đỡ sợ. Đêm khuya hôm đó đang ngủ thì nghe tiếng động lục cục ở ngoài cửa phòng, Giang giật mình thức giấc và lay tôi dậy. Tôi thu hết can đảm dậy bật đèn, lên tiếng hỏi nhưng không thấy ai trả lời. Tiếng động nghe như là chân người mang guốc bước qua lại trên sàn xi măng tiếp tục khá lâu cũng đến khoảng 5-10 phút. Tiếng động đó cũng mất đi nhưng cả hai đứa đều sợ xanh mặt, để đèn sáng và không ngủ được cho đến sáng. May mà đêm đó cũng không bị gọi lên trại bệnh thành cả hai nằm im lặng trong giường cho đến lúc thấy trời sáng tỏ nghe thấy tiếng người thì  mới mò ra ngoài cửa. Chúng tôi cũng không tìm được, thật ra là không dám đi tìm lý do của cái tiếng động kỳ quái giữa đêm khuya vắng. Cũng có thể chỉ là do gió mạnh đập cành cây hay cái gì vào tường hay cửa sổ chăng? 

            Cũng nói qua, vào khoảng 1970, sau Chiến Dịch Campuchia của quân lực Hoa Kỳ và QLVNCH và vì bị "cáp duồn" như các kiều bào Việt khác, các sinh viên học Y Khoa Campuchia như Nguyễn Mạnh Khang, Hà Phi Phụng, Mai Thế Vĩnh, Hồ Hoàng Trang, Nguyễn Thanh Phong... phải chạy thoát về Việt Nam để cuối cùng được nhận vào Y Khoa Sài Gòn, vào lớp Y Khoa Sài Gòn 1967-1974 chúng tôi. 
          1972, năm của những Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại Lộ Kinh Hoàng, Cổ Thành Quảng Trị (Chiến Dịch Lam Sơn 72)... Đây cũng là năm của "Tổng Động Viên" khi chúng tôi đang học Y Khoa 4, năm thứ Tư Y Khoa. Tôi nhớ một số anh em "Dân Y" như Hoàng Lộc (Lộc sau 1975 bị giết chết ở trại Cải Tạo), Nguyễn Mạnh Khang, Lê Minh Đức, Trần Thiện Tư, Trần Chánh Khương, Lại  văn Tiến, Nguyễn Minh Quốc, Đào Văn Kim, Trần Hoàng Hải, Ngô Đăng Tuấn, Lại Hoàng Ân, Lưu Văn Châu , Trương Hoàng Nghiệp... quá tuổi, sinh vào 1947 hay trước nữa, bị "đôn quân", phải nhập ngũ học khóa sĩ quan ở Đồng Đế, "ra" chuẩn úy. Tuy vậy một thời gian sau, đa số về sau cũng được thầy bác sĩ Trần Lữ Y, lúc đó là Tổng Trưởng Y Tế chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thành có thế lực, can thiệp xin cho về học lại Y Khoa, nhưng kết quả ra trường trễ hơn các bạn cùng lớp 1 năm. 

          1972, chiến tranh bùng nổ lớn ở miền Trung. Dân Quảng Trị chạy giặc vào tạm trú hàng chục ngàn người ở những trại tị nạn xung quanh Đà Nẵng. Tình trạng y tế của các trại tị nạn rất nghèo nàn. Không đủ y sĩ để săn sóc dân và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải nhờ đến các sinh viên quân y giúp. Tôi và một số anh em sinh viên khác của lớp Quân Y Y Khoa 4 như Nguyễn Trọng Nghĩa, Đoàn Trung Bửu, Trương Ngọc Hiền... Quân Y Y Khọa 5 như Phạm Hiếu Liêm, Bùi Quang Dũng, Bùi Hữu Phước, Nguyễn Anh Tuấn... Quân Y Y Khoa 3 như Trần Hoàng Long, Trần Đông Giang, Nguyễn Văn Hãn, Lê Thành Đấu, Nguyễn Võ Khanh... Quân Dược như Nguyễn Hiền, Mai Gia Thược (Thược sau tự tử trong Trại Cải Tạo) , Châu Minh, Nguyễn Văn Trực, Nguyễn Quang Toản... được cử ra miền Trung để giúp vào việc lo y tế cho đám dân tị nạn vài tháng. Đối với đời sinh viên Quân Y thì chuyến đi cũng đầy những lo lắng nhưng cũng thật thú vị và hồi hộp. Tôi chỉ có một chuyện duy nhất lo lắng là chị Nga, bà chị ruột của tôi, vừa bị nám phổi nhẹ nhưng phải chích thuốc chống Lao Streptomycin mỗi ngày. Vũ Đức Giang, không phải đi ra miền Trung chuyến này, biết chuyện và nhận giúp ngay. Trong những ngày tháng tôi lưu lạc ở Đà Nẵng, Giang đã đến nhà tôi mỗi ngày để chích thuốc cho chị Nga. Mẹ tôi hiền nhưng bố tôi tính khó, nên ít có bạn thường lại nhà. Giang thì đặc biệt lại nhà tôi thường xuyên. Bố mẹ tôi rất quý tính nết hiền, tốt và lễ phép của Giang. Chị Nga tôi thương mến Giang coi như em ruột trong nhà.

         Sau khi đám Sinh Viên Quân Y ở Đà Nẵng được vài tháng, tại Sàigòn Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y thay Y Sĩ Đại Tá Hải Quân Phạm Vận. Đại Tá Lân, ngày đó, là một người đầy nhiệt huyết và thanh liêm có tiếng. Tính tình ông, nóng nảy, nhưng thẳng thắn và ông rất được kính nể trong ngành Quân Y. Đại Tá ra lệnh cho tất cả sinh viên đang đi quân sự vụ tại miền Trung về lại Sài Gòn, để tiếp tục việc chính là học Y Khoa. Theo quan niệm của ông, vấn đề quan trọng nhất trong việc đào tạo Sĩ Quan Quân Y giỏi là Sĩ Quan Quân Y phải nghĩ đến chuyện học trước hết. Chuyện chữa bệnh cho dân tị nạn để cho người khác, chính phủ lúc này đã  xoay sở lấy được. Về Sài Gòn, một số anh em, trong số đó tôi còn nhớ có Vũ Đức Giang, Phạm Anh Dũng, Lý Văn Quý (Quân Nha)... rủ nhau nộp đơn xin đi học bằng Nhảy Dù, như các khóa đàn anh trước vẫn được phép, nhưng không được ông Lân chấp thuận, chắc cũng vì lý do này. Giang bực mình nhiều về chuyện đó, vì vẫn muốn sẽ gia nhập nhảy dù. Mỗi lần nhìn "đàn anh mũ đỏ" như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn... lúc đó đã ra những đơn vị chiến đấu nhảy dù thỉnh thoảng vẫn về thăm trường với binh phục rằn ri, Giang vẫn tấm tắc khen và... mong ước!

          Vì là "gốc" Nhảy Dù nên Đại Tá Hoàng Cơ Lân hơi có thiên vị cho binh chủng này và tôi nghĩ có lẽ chính ông đã  tuyển lựa nhiều sĩ quan nhảy dù về trường Quân Y, có những Y Sĩ như Trung Tá Vũ Khắc Niệm, Thiếu Tá như Lê Văn Châu, tác giả quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969, Đại Úy như Hoàng Ngọc Giao, Đường Thiện Đồng.... Còn ngành Dược thì có Đại Úy Trần Mạnh Anh...  và đa số giữ những chức vụ huấn luyện cho đám sinh viên quân y. Thật sự đây là điều rất tốt, vì những vị này phần lớn đều khá và xứng đáng được làm gương. Cũng có một số Quân Y Sĩ binh chủng "rằn ri" khác được "gọi về" phục vụ ở Trường Quân Y như Thiếu Tá Trần Xuân Dũng từ Thủy Quân Lục Chiến và Đại Úy Ngô Thế Vinh, tác giả quyển "Vòng Đai Xanh" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971, từ Biệt Cách Dù. Đại Tá Lân để ý đến sinh viên từ những chuyện tầm thường nhất như đi đứng, y phục, ăn uống... cho đến những chuyện quan trọng thi cử, học hành... Chính ông thường bất thần xuống khu nội trú xem xét đời sống sinh viên hầu như mỗi ngày. Nhiều khi tôi có cảm tưởng ông coi các sinh viên quân y như là những em nhỏ dại dột của chính ông cần được săn sóc cho thành người tốt.

          Đại Tá Hoàng Cơ Lân, lúc đó, có rất nhiều ý kiến mới lạ, áp dụng vào việc huấn luyện sinh viên. Tất cả sinh viên quân y phải nội trú trong trường Quân Y để tập quen với đời lính. Tình cảm giữa các sinh viên quân y đối với nhau trở thành gắn bó hơn. Ông lập võ trường cho sinh viên tập Nhu Đạo, tôi nhớ có hai Y Sĩ Thiếu Tá Lê Trọng Tín và Đỗ Danh Thụy hướng dẫn . Ông còn tổ chức những buổi nói chuyện cho sinh viên mở rộng kiến thức. Nhiều nhân vật nổi tiếng ngoài dân sự như nhà văn Hoàng Hải Thủy diễn thuyết về "Y Sĩ và Văn Nghệ", linh mục Thanh Lãng nói chuyện về "Văn hóa dân tộc và vấn đề Hùng Vương"...  là các vấn đề tổng quát, văn học nghệ thuật. Rồi đến Bác Sĩ Giáo Sư Hoàng Tiến Bảo, Giảng Sư Trần Xuân Ninh, Đinh Hà... nói về chuyên môn Y Khoa. Còn có các diễn giả là đàn anh Quân Y của chúng tôi đã ra trường như Đại Tá Văn Văn Của về nói chuyện để truyền kinh nghiệm đến đàn em. Có một hôm, anh Trần Xuân Dũng, đã từng là Y Sĩ Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến, thuyết trình về chuyện gì đó. Tôi ốm không đi được nhưng Giang đi nghe và khi về kể lại lấy làm thú vị, thích lắm vì anh Dũng dáng dấp thư sinh, nhưng nói chuyện rất hay và có duyên. Từ ngày đó thỉnh thoảng Giang cũng nói với tôi là có thể sẽ  chọn Thủy Quân Lục Chiến khi đến lúc ra trường.

          Công việc học hành, thi cử ở trường Y Khoa song song với chuyện quân sự ở Trường Quân Y rồi cũng qua dần. Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 của Kissinger và Lê Đức Thọ, khi tôi đang học Y Khoa năm thứ 5, thực tế chỉ là một "tờ giấy lộn" và chả hiểu tại sao vì "nó" mà 2 người này họ lại được giải Nobel Hòa Bình! Bộ Đội miền Bắc không tôn trọng những gì đã cam kết, vẫn xâm nhập miền Nam và Nam Bắc vẫn tiếp tục phân tranh. Phải nói tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị suy giảm nghiêm trọng, nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate vào tháng 8 năm 1974 và viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa đã dần bị cắt giảm rất nhiều.

           Lúc đó, chúng tôi ít có giờ học ở trường hơn những lớp dưới và được cử đi thực tập nhiều ở các bệnh viện. Một vài tháng đầu tiên của năm thứ 5, Giang và tôi đến phiên học ở Bệnh Viện Nhi Đồng nơi có  trẻ con bị bệnh nặng chết nhiều và chúng tôi được gọi ký giấy tử, có khi 5, 6 lần một đêm gác. Tôi nhớ mãi Giang được cử săn sóc một đứa bé trai độ 5 tuổi bị phù thủng rất nặng, khắp cả người sưng vù (edema) vì một bệnh về thận. Bố mẹ đứa nhỏ  đã định sửa soạn ngày tang ma vì tưởng con không thể qua nổi cơn bệnh. Giang rất tận tâm chịu khó đọc sách, hỏi han những anh nội trú bệnh viện chữa cho thằng bé bằng kích thích tố tuyến thượng thận (corticosteroid) và kết quả rất thành công. Giang khá thật, chỉ một thời gian ngắn thằng bé đã đỡ hẳn. Bác Sĩ  Giáo Sư Trịnh Thị Minh Hà, trưởng khu bệnh là người nổi tiếng giỏi nhưng rất khó tính cũng phải ngạc nhiên và vui lòng. Tôi nhìn thằng bé con vui đùa, tung tăng chạy nhảy lúc được xuất viện mà thầm phục thằng bạn của mình lầm lì, ít nói nhưng có tài. Sinh viên ngoại trú Y Khoa đầu năm thứ 5 mà có thể làm được chuyện như vậy không phải dễ. Giang rất thích trẻ con, sau kỳ học đó lại nộp đơn quay lại Nhi Đồng một lần nữa.
            Chẳng mấy chốc đã đến năm thứ 6 là Y Khoa, năm cuối cùng của học trình 7 năm "dài đăng đẳng". Một số chúng tôi được cử để phụ trách huấn nhục đám đàn em mới vào và "lịch sử lại tái diễn"! Chúng tôi cũng đến lượt trở thành những đàn anh hò hét, huấn nhục đàn em. Lúc đó, chính bản thân tôi lại được cử ra làm sinh viên quân y Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên, y như là anh Tô Phạm Liệu năm 1970, phụ trách việc huấn luyện này. 

             Sau khi thi xong kỳ thi Bệnh Lý ở trường Y Khoa, Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch QYHD, khóa Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm lễ ra trường. Chúng tôi được chính thức đeo lon Y Nha Dược Sĩ Trung Úy.
          Tháng Hai 1975, "cả nước" rúng động vì tỉnh Phước Long đã mất. Ngày 20 tháng Hai 1975 là ngày chọn đơn vị. Đa số bạn bè xôn xao, bàn tán về những binh chủng khác nhau. Tôi vẫn có chủ trương như cũ, đơn vị nào cũng vậy và cuộc đời có lẽ  có sẵn số mệnh cả. Rồi tùy theo theo thứ tự đậu cao chọn trước, đỗ thấp lựa sau. 
          Những người đậu cao chọn chỗ ở Tổng Y Viện Duy Tân có Bạch Thế Thức, Phan Thanh Hải. Về QYV (Quân Y Viện) có Nguyễn Phan Khuê (Thủ Khoa khóa 21 QYHD) QYV Ban Mê Thuột, Trần Trung Hòa QYV Quảng Đức, Nguyễn Dương Mỹ QYV Nguyễn Tri Phương, Trần Ngưu Tử và Nguyễn Chí Vỹ chọn về QYV Pleiku.   
         Có  2 chỗ Hải Quân cũng dành cho những người xứng đáng học khá giỏi và đậu cao là Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Chiếu.
         Nhảy Dù, binh chủng "rằn ri" mũ đỏ, hết khá sớm vì Châu Hữu Hầu, Trương Văn Như, Nguyễn Xuân Thiều, Nguyễn Văn Liêm, Trần Duy Thanh, Nguyễn Văn Thịnh và Nguyễn Văn Thạnh đã lựa chọn ngay.  
         Về Thủy Quân Lục Chiến, mũ xanh, 9 người, có Vũ Đức Giang, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Ngọc Sĩ, Nguyễn Bá Linh, Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Văn Châu, Bùi Chí Hùng, Huỳnh Đình Đại, và Hồ Đình Dư.  
         Chọn đi các Bộ Binh của tất cả 4 vùng quân sự: Vùng I Chiến Thuật có Chu Kỳ Đức; Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan và Hồ Thanh Tùng chọn Sư Đoàn 1 Bộ Binh; Lê Bình Đẳng và Võ Dũng chọn  Sư Đoàn 2 Bộ Binh; Vũ Quốc Cường và Phạm Anh Dũng chọn Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Vùng II Quân Sự có Phan Ngọc Hà, Lê Vĩnh Thịnh, Thái Văn Châu và Nguyễn Khánh Hỷ về Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Vùng III có Lê Huy Hòe chọn Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Mai Thanh Hồng chọn  Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lê Văn Cẩm chọn về Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Vùng IV có Nguyễn Văn Quốc chọn  Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Huỳnh Thắng Toàn và Nguyễn Văn Đơ chọn Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Văn Hạnh cùng về Sư Đoàn 21 Bộ Binh.

           Biệt Động Quân, binh chủng "rằn ri" mũ nâu, đang dự định đưa Y Sĩ xuống cấp tiểu đoàn theo như Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến và do đó lấy khá nhiều. Đó là Nguyễn Tài Mai (Sinh Viên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Sinh Viên Quân Y, "gốc" Thiếu Sinh Quân), rồi đến Nguyễn Quốc Anh, Ngô Bá Bảo, Đoàn Trung Bửu, Nguyễn Kỳ Chân, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Đổng, Nguyễn Hữu Khoát, Nguyễn Phong Nghi, Hồ Sĩ Nghĩa, Nguyễn Văn Tân, Tề Văn Tiếng, Đỗ Danh Toàn, Vũ Ngọc Tuấn và Nguyễn Tấn Việt.
          Một số chọn những đơn vị lẻ tẻ, nhưng đặc biệt như Huỳnh Minh Châu về Nha Kỹ Thuật Tổng Tham Mưu, Dương Thanh Trắc chọn Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trịnh Ngọc Toản "đi" Tiểu Đoàn 12 Kỵ Binh Thiết Giáp và Phạm Hồng Hải "về" Liên Đoàn 72.

          Sau ngày chọn đơn vị, tôi lại nhà Vũ Đức Giang ngày cuối tiễn Giang ra trình diện đơn vị. Giang mặc quân phục "rằn ri" mới, đeo lon đỏ, đội mũ xanh của Thủy Quân Lục Chiến, trông thật lạ mắt. Giang giới thiệu tôi với hôn thê mới của mình, là một giáo sư trường trung học ở Sài Gòn. Cô vợ chưa cưới của Giang tên là Mai, trông thật ngoan và hiền dịu. Trước khi từ giã, Giang đưa tặng tôi cặp lon Trung Úy và bảng tên màu đen dùng cho những đơn vị tác chiến, dặn dò tôi phải cẩn thận vì chiến cuộc đang gay go. Nhìn tôi khá lâu vào mắt, hơi khác thường, Giang bắt tay từ giã. Cả mấy năm trời thân thương với nhau, chúng tôi chưa hề bắt tay nhau bao giờ. Lần đó là lần đầu tiên và không ngờ, cũng là lần cuối cùng tay chúng tôi bắt tay. Đó là lần cuối cùng hai đứa gặp nhau. Giang ra thay một đàn anh ở Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, tham chiến ngay ở gần Huế. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh rút Sư Đoàn Nhảy Dù về trấn giữ Sài Gòn và để một số Lữ  đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng vài Liên Đoàn Biệt Động Quân thay. Giao chiến khốc liệt đẫm máu xảy ra ở những vùng quanh Huế, Quảng Trị, Đại Lộc... Nguyễn Tiến Dũng thành Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến đóng ở tuyến đầu Quảng Trị. 

          Cuộc đời Y Sĩ Tiền Tuyến chúng tôi thật sự khởi đầu.

           Tôi đến Sư Đoàn 3 Bộ Binh gần Đà Nẵng. Vũ Quốc Cường về cùng đơn vị đã trình diện trước tôi một vài ngày. Ngày Xuân, tháng Ba mà đã nóng như lửa. 11 giờ trưa trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y. Dược Sĩ Trung Úy Lê Văn Khoa rủ ăn trưa với các Y Sĩ Trung Úy của Sư Đoàn 3 như Nguyễn Hữu Mãn, Đào Tư Huyền, Lê Văn Thu...và chỉ dẫn chút ít về doanh trại. Vũ Quốc Cường dẫn tôi đi tắm suối xong 2 giờ chiều cùng ngày tôi được ông Thiếu Tá Y Sĩ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Quân Y gửi đến Trung Đoàn 2 Bộ Binh. Vũ Quốc Cường được giữ  lại Sư Đoàn. Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 3 và Trung Đoàn 1 của Sư Đoàn 1 là hai đơn vị thiện chiến có tiếng trong các đơn vị Bộ Binh của Vùng I Quân Sự. Trung Đoàn 2 đang đóng và chiến đấu ở Quế Sơn. Tôi đến thay cho Y Sĩ Trung Úy Bùi Trần Anh ở trung đoàn này đã được vài năm.
          Đến lúc đó tôi mới thấy cái đời sống thật sự của những Y Sĩ ở mặt trận không còn những lúc văn chương thơ mộng như mình đã  tưởng tượng, như khi đã đọc ở quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" của Trang Châu. Quyển sách của anh Châu, viết có lẽ chỉ khoảng 5,6  năm trước và thời gian đó đã trở thành phải nói có những chỗ không còn "hợp thời" nữa. Chiến tranh sau này phũ phàng và tàn bạo hơn nhiều. Tôi thông cảm và kính phục các vị Quân Y Sĩ đàn anh bao nhiêu năm gian khổ, nguy hiểm nơi tiền tuyến. Cảm giác lạnh lẽo, cô đơn một mình giữa đêm khuya ở bệnh xá Trung Đoàn thật khó quên. Những buổi trưa ấn vội nắm "cơm sấy" vào mồm cho đầy bụng để còn kịp có thì giờ chữa thương bệnh binh. Tôi đã ớn lạnh nghe quả pháo vút qua đầu và rơi cách chỉ hơn trăm thước mà vẫn phải dặn dò y tá bình tĩnh. Lúc cảm thấy bất lực nhìn tủ thuốc trống rỗng với vài viên thuốc chữa cảm cúm vớ vẩn, không còn trụ sinh trong khi bệnh nhân đợi la liệt với những vết thương không cần phải đợi lúc thay băng cũng đã ngửi thấy mùi nhiễm trùng. Còn nỗi bàng hoàng, khi thấy lính phải bỏ tiền túi ra mua đạn. Chuyện khó tin nhưng có thật! Trận chiến như đã được xếp đặt đến lúc tàn. QLVNCH chưa mỏi mệt, nhưng đồng minh Hoa Kỳ đã mỏi mệt, muốn "bỏ rơi" miền Nam. Quân miền Nam không còn đủ súng ống, đạn dược trong khi  Bộ đội miền Bắc lại đầy T54, B41, AK47...vì Nga và Trung Cộng vẫn chưa bỏ cuộc.

           Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch, những ngôi sao sáng, những niềm hy vọng mới của đất nước, của tổ quốc ra trường đúng những ngày tháng sửa soạn cho thất trận. Chiến tranh hình như bùng nổ lớn khắp nơi trên khắp bốn vùng chiến thuật I, II, III và IV. Tháng Ba 1975 các Tân Trung Úy Quân Y Nha Dược Sĩ  chân ướt chân ráo ra chiến trường, tìm đơn vị, là lúc hầu như cả một đạo quân Việt Nam Cộng Hòa một triệu người đang giao tranh, tan rã, bắt đầu di tản ngược lại hướng của mình. Bao nhiêu bạn cùng khóa bị bắt làm tù binh. 8 Quân Y Sĩ mới của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra thay thế đàn anh ở những tiểu đoàn chiến đấu, 5 người bị bắt khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bỏ ngỏ Huế. Còn nhiều người vì hỗn độn chưa kịp tìm thấy đơn vị mới đã chết trận. 

            Ngày 10 tháng Ba 1975 Ban Mê Thuột bị tấn công. 
          Chỉ 3 ngày sau Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Vùng II Quân Sự Phạm Văn Phú bỏ Cao Nguyên. Đại Tá Biệt Động Quân Phạm Duy Tất được thăng Chuẩn Tướng chỉ để dẫn quân dân triệt thoái theo Liên Tỉnh Lộ 7, con đường lâu ngày không dùng trở thành "một con đường máu", đúng nghĩa chữ  "máu". Tại "Con Đường Tử Thần" này, Y Sĩ Trung Úy Biệt Động Quân Đoàn Trung Bửu, QYHD khóa 21 của chúng tôi, đã chết khi cố vượt qua một con sông trong chuyến di tản. Cũng trong lúc di tản của Quân Đoàn II, Y Sĩ Trung Úy Bộ Binh Thái Văn Châu, khóa QYHD 21 của chúng tôi, bị bắn chết ở biển Quy Nhơn khi cố bơi từ bãi biển ra tàu Hải Quân.  
          Những đàn anh Quân Y hy sinh trước kia như Đỗ Vinh, Trương Bá Hân, Trần Ngọc Minh, Lê Hữu Sanh, Bửu Trí, Đoàn Mạch Hoạch... đều được vinh danh là anh hùng. Tên của các Quân Y sĩ  là tên những Quân Y Viện trên khắp các vùng chiến thuật. Ai biết đến, ai nhắc đến Đoàn Trung Bửu, Thái Văn Châu... ? Lúc chôn, nếu có tìm được xác chắc cũng không được phủ mảnh cờ vàng ba sọc đỏ.  

 
Đoàn Trung Bửu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)

Thái Văn Châu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)

          Ngày 14 tháng Ba 1975, tôi ra đơn vị.
          Ngày 19 tháng Ba 1975, Quảng Trị bị tấn công.
          Ngày 20 tháng Ba 1975 , Quảng Trị bỏ ngỏ.
           Ngày 23 tháng Ba 1975, Tổng Thống Thiệu ra lệnh Trung Tướng Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, Ngô Quang Trưởng, bỏ Huế. Tin đồn lúc đó là sẽ có chia cắt đất nước, nhượng cho miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra.
           Một buổi chiều nắng héo hắt, tôi đến một quán bên đường ở Quốc Lộ 1, gần đèo Hải Vân, ngồi uống bia tình cờ nghe ông chủ quán nói chuyện với vợ là dân và lính chạy từ phía Bắc vượt đèo chạy về hướng Đà Nẵng. Tôi ra khỏi quán, đứng bên đường lặng nhìn lên đèo Hải Vân, những đoàn xe nhà binh chở những quân lính trong đó có lính của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến... từ Huế vượt đèo chạy qua. Tôi nghĩ nhiều đến Nguyễn Tiến Dũng và Vũ Đức Giang, hai bạn thân nhất của tôi vừa ra trình diện hai Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và thầm tự hỏi không biết hai đứa đó có còn sống hay không và đang ở đâu? Chu Kỳ Đức, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan... ra Sư Đoàn I Bộ Binh không biết đang làm gì? Còn bao nhiêu bạn cùng khóa khác đang hay vừa đến đơn vị, chả biết đường lối gì cả, không biết tình trạng ra sao?... Đứng từ chiều đến lúc xẩm tối, nhìn lên đèo Hải Vân giờ này đã biến thành một chuỗi sáng trên trời cao vì ánh sáng của những ngọn đèn của đoàn xe nối tiếp nhau tưởng như không bao giờ hết. Nhìn đoàn xe tôi chỉ mong ước sao cho các bạn mình Giang, Dũng, Đức, Ngọc, Quan... cũng có ở trên những xe đó.

           Những ngày sau đó Đà Nẵng hỗn độn vì những tin đồn. Dân chúng bắt đầu được di tản bằng máy bay. Những chuyến máy bay ở phi trường làm náo động những người còn lại. Những chuyện người tranh nhau, giành giật để có chỗ thoát, người chết khi bám vào bánh xe khi máy bay đang cất cánh, đều là những chuyện thật.
         Ngày 29 tháng Ba 1975, Đà Nẵng chưa đánh đã di tản! Từ Quế Sơn tôi chạy về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3. Không thấy bóng một ông Sĩ Quan nào nữa. Chỉ còn vài người lính đang nhặt nhạnh vài đồ đạc lẩm cẩm. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi hãy còn lảng vảng và ngơ ngác. Gọi Tổng Y Viện Duy Tân có thì biết mọi người đã di tản từ ngày hôm trước. Tôi cũng không biết làm sao có phương tiện ra Đà Nẵng, không lẽ lại chạy bộ nữa? Chuyện thì dài dòng, nhưng vắn tắt tôi may gặp Lê Văn Thu, bác sĩ QYHD 20, ra trường trên tôi một lớp, lái xe gắn máy Honda chạy ra. Thu chở tôi ngược lại vào trong trại lúc này đã gần như trống không, lấy cái xe Bridgestone, một xe gắn máy cũ khác của anh đưa cho tôi chạy. Vào Đà Nẵng, nhớ đến anh ruột của Nguyễn Tiến Dũng là Nha Sĩ Thiếu Tá Nguyễn Nhật Thăng, tôi ghé phòng mạch Nha Khoa của anh ở dưới phố để rủ anh chạy ra bến tàu, thì anh Thăng đã đi rồi, nhưng thật bất ngờ gặp Nguyễn Tiến Dũng, vừa thoát được đến Đà Nẵng cũng ghé tìm anh ruột. Ôm nhau mừng chảy nước mắt. Hỏi thăm ngay về Vũ Đức Giang. Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến của Giang đã hoán chuyển chỗ với tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến của Tiến Dũng. Nguyễn Tiến Dũng về gần Huế do đó chạy được đến Đà Nẵng. Giang như vậy đã ở Quảng Trị. 
         Đúng là số trời đã định, nếu Dũng và Giang không đổi chỗ thì
 có lẽ lúc đó tôi không gặp Dũng. Không Dũng thì Giang. Không Giang thì  Dũng. Cả hai đều là bạn thân thiết của tôi. Vậy thôi!
         Tôi và Tiến Dũng may mắn không tưởng tượng, như có phép lạ giúp, thoát về được đến Cam Ranh. Nước biển Cam Ranh vẫn trong xanh mát rượi, bãi cát vẫn trắng mịn với những con dã tràng xe cát, nhưng thành phố đã hỗn loạn. Toàn là người với quân phục và xe nhà binh, lác đác tiếng súng. Không được thêm tin tức gì của Giang. Những đơn vị quân đội chạy từ hướng Bắc xuống đang tái phối trí, rồi chỉ để sửa soạn di chuyển sâu thêm về hướng Nam! Các đoàn quân theo nhau rút lui. Màu đỏ của máu lan dần trên bản đồ hình chữ S từ Bắc xuống Nam. Các thành phố Cam Ranh, Nha Trang... rồi cũng tự nhiên bỏ ngỏ để bộ đội miền Bắc dễ dàng vào chiếm đóng. Triệt thoái và di tản nhanh đến nỗi có khi quân miền Bắc vài ngày sau mới đến kịp để tiếp thu. Chính họ cũng phải ngạc nhiên! Thật là kỳ lạ.
          1 tháng Tư: mất Nha Trang và Quy Nhơn.
          Tôi không hiểu gì cả! Chỉ biết chạy, rồi chạy, xong rồi lại chạy..., tuy đầu óc thỉnh thoảng lại nghĩ đến Vũ Đức Giang người bạn thân, hiền lành. Tôi theo Nguyễn Tiến Dũng lên một tàu Hải Quân từ Cam Ranh di tản về Vũng Tàu. Trên chiếc tàu Hải Quân đó, cả Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân, và quân lính chắc chỉ còn non một ngàn người. Nguyễn Bá Linh bạn cùng khóa QYHD 21 cũng vừa ra đơn vị, quần áo nhàu nát cũng ở trên tàu, kể chuyện rằng, trong cuộc triệt thoái hỗn loạn ở Thuận An, phải bơi ra biển đến tàu để tìm đường thoát. Tôi cố tìm Vũ Đức Giang mà không thấy. Khi hỏi thăm thêm mọi người cả người tôi lạnh cứng, khi biết tin Giang bị kẹt và bị bắt ở bãi biển Thuận An. Nắng vàng trong sáng, biển xanh biếc bỗng nhạt nhòa. Chúng tôi thoát khỏi Cam Ranh ngày trước thì ngày sau được tin thành phố di tản:

           3 tháng Tư: mất Cam Ranh.
          Rồi tàu hải quân cũng đưa chúng tôi cũng về đến Vũng Tàu bình yên và tôi tìm lại được tàn quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đang tái phối trí ở trại Vạn Kiếp được vài ngày. Vào trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y, tôi không gặp một sĩ quan nào cả. Ám ảnh bởi hình ảnh tù tội, chết chóc của bạn bè, đầu óc trống rỗng, mỏi mệt chán chường và cũng chả biết làm gì ở đó nữa, tôi trở về lại Sài Gòn. Tôi gặp lại Trương Văn Như với quân phục nhảy dù mới, đang sửa soạn theo đơn vị ra trận chiến Khánh Dương. Đến lúc này vẫn nhiều người tin tưởng sẽ có hiệp định chia cắt lãnh thổ từ khoảng giữa miền Trung trở vào thì sẽ được là vùng tự do, không cộng sản.
          Sài Gòn lên cơn sốt, Sài Gòn hoảng hốt, khi một số dân đã bắt đầu được Mỹ di tản bằng máy bay sang đảo Guam. Tin đồn sẽ có đảo chánh tạo niềm hy vọng cuối cùng khi Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đang ra thị sát mặt trận và tuyên bố sẽ ở lại chiến đấu đến cùng.
          Ngày 20 tháng Tư 1975, sau chiến thắng oai hùng ở Xuân Lộc, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Sư Đoàn 18 Bộ Binh phải triệt thoái.
          Ngày 21 tháng Tư 1975  Tổng Thống Thiệu từ chức và khẳng định với quốc dân và chiến hữu trên Truyền Hình Việt Nam là sẽ trở lại với Quân Đội để chiến đấu. Ông trao quyền lại cho Phó Tổng Thống già yếu Trần Văn Hương và đêm 25 tháng Tư, ông Thiệu đã ở Đài Loan! 
          Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ sau cũng bay mất trên trực thăng cùng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng! Ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng nói “Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai”. Leningrad là trận chiến nổi tiếng của Hồng quân Liên Xô trước quân phát xít Đức, kéo dài gần trên dưới 1000 ngày đêm, bắt đầu từ tháng Bảy 1941.

           Các vị Tướng như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ... không có những lời tuyên bố lớn lao như vậy đã ở lại tuẫn tiết. Đó là những Tướng anh hùng liệt quốc, "những Hoàng Diệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa".
            Ngày 28 tháng Tư 1975 Cụ Trần Văn Hương nhượng vị Tổng Thống cho Đại Tướng Dương Văn Minh, tưởng sẽ làm vừa lòng Bắc Quân, nhưng tình thế đã tuyệt vọng hoàn toàn.
           Ngày 30 tháng Tư 1975, Tân Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ bến tàu Bạch Đằng, trong đêm tối, tôi may lên được và theo tàu Hải Quân HQ1, những phút cuối cùng trước khi tàu rời bến. Như ở một giấc mộng hãi hùng, trong cơn hỗn loạn, tôi di tản khỏi Sài Gòn, thành phố thân yêu của tuổi trẻ thế hệ chúng tôi, đang "hấp hối". 
          Những người bạn khác cũng may mắn và sau tôi gặp lại được là Nguyễn Tài Mai, Bạch Thế Thức, Nguyễn Tiến Dũng... Biết bao bạn cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21 chúng tôi không may như vậy phải ở lại cực khổ thể xác và tinh thần trong các trại cải tạo, đó là số phận của Trần Trung Hòa, Trương Văn Như, Chu Kỳ Đức, Nguyễn Phan Khuê,Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Chí Vỹ, Nguyễn Văn Quốc... Có những người sau đó chết mất xác, ở biển khơi, khi vượt biên như Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Xuân Thiều...

          Qua đến nước Mỹ, khá lâu tôi bặt tin, đến mãi về sau mới " gặp" lại Vũ Đức Giang qua những chi tiết đọc được trong sách báo và một vài lần ở trong giấc mơ.
          Trong quyển "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975" do Phạm Huấn viết, chương 15 là những trang sách về "Những Y Sĩ Tiền Tuyến". Vào những giờ phút cuối cùng khi Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đang triệt thoái một cách tuyệt vọng tại bãi biển Thuận An:
               "... Bác Sĩ Vũ Đức Giang, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến dù đã lên chiếc LMC đầu tiên, sáng ngày 26-3-1975 cùng với các thương binh, nhưng vì danh dự của một cấp chỉ huy, anh lại trở xuống..." 

          Cao Xuân Huy, trong quyển sách lừng danh "Tháng Ba Gãy Súng". Quyển sách của những khôi hài đen đầy máu, nước mắt, tàn bạo, căm hờn...nói về cuộc triệt thoái của Thủy Quân Lục Chiến. Đây là đoạn tác giả đã bị bắt làm tù binh ở bãi biển Thuận An:
               "...Ngày 26 tháng 3 là ngày cả một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống. Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra...
                 ...Tôi còn gặp lại cả một thằng bạn cũ, cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Vũ Đức Giang. Tôi ngạc nhiên kêu lên:
                       -  Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?
                       - Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.
                       - Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?
                       - Tao Thủy Quân Lục Chiến.
                       - Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày cũng dám giết người à. Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến tao không gặp mày.
                      - Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.
                      - Mày bác sĩ hở?
                      - Ừ, tao về tiểu đoàn 7..."

         BS TQLC Phạm Vũ Bằng viết trong bài "Thủy Quân Lục Chiến-Binh Chủng Kiêu Hùng":
               "...Theo các Quân Y tá LĐ 147 cho biết thì Bác Sĩ Vũ Đức Giang và vài quân y tá TĐ 7 khiêng thương binh lên tàu sau đó anh điểm danh y tá TĐ 7 rồi tất cả cùng trở xuống để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
                Khi tôi thay BS Rậu làm Đại Đội Trưởng Quân Y LĐ 147 thì một hôm Hạ Sĩ Nhất Quân Y Nguyễn Văn Được - người sống sót từ “Pháp Trường Cát Thuận An”- hỏi tôi:
               -Ông thầy có biết BS Vũ Đức Giang TĐ 7 không?
               -Biết. Mà có chuyện gì?
                -Ổng ngon quá! Ngày 26/3/1975 ổng và mấy đệ tử khiêng thương binh lên tàu. Xong việc ổng điểm danh từng y tá TĐ 7 một rồi tất cả xuống tàu lên bờ về lại TĐ. Em giữ ổng lại nói “BS trở lại thì 100/100 là chết” nhưng ổng trừng mắt la em “chú mày đừng xúi bậy, TĐ đang chiến đấu sẽ có thêm thương bình, anh bỏ đi sao đành” . Xong rồi ổng xuống tàu đi dưới làn mưa đạn thượng liên của VC, em nhìn mà thấy ớn. Em nói thiệt tình đó ông thầy.
               -Thì tao có nói mày không thiệt tình hồi nào đâu! Có điều chú mày bậy thật, Bác Sĩ TQLC không bao giờ đào ngũ trước hàng quân!..."

          Và cũng trong "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975"  của Phạm Huấn, về Vũ Đức Giang:
              "...Cuối năm 1976, lại một lần nữa, muốn bảo vệ danh dự của một Quân Y Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh đã tự tử chết trong trại tù ở phi trường Ái Tử, ngoài Đông Hà, Quảng Trị..."
          Cuối cùng bài "Khóc Bạn" của bác sĩ quân y Hoàng Thế Định, trên Tập San Y Sĩ Việt Nam tại Canada số 112, trang 119, viết về giây phút cuối cùng của Vũ Đức Giang năm 1976 tại trại tù cải tạo Ái Tử:
               "...Buổi cơm chiều, Giang cáo bệnh không ăn. Gần cuối lán, lò mò tối, anh nằm trùm kín, im lặng...anh nằm trùm chăn im lặng. Anh em vẫn nghĩ là Giang bệnh, để yên anh ngủ. Khoảng một giờ sau, mọi người nghe Giang vùng mạnh mấy cái trong chăn rồi "ự, ự" lên mấy tiếng. Dược sĩ Thuận, người vẫn thường nằm cạnh Giang, vụt đứng dậy, chạy lại giật tung chăn trên người bạn... Mọi người xúm lại. Toàn thân Giang rung lên, co quắp tay chân rồi từ từ duỗi ra, bất động...
               ...Nguyễn Đình Ái, Y sĩ trung úy trưng tập, cùng đơn vị với tôi. BS Ái giật chiếc ống nghe trên đầu nằm của Tôn Thất Thắng, Y tá trại 3. Ái vừa nghe tim vừa tìm mạch ở cườm tay bạn. Không còn nhịp tim mạch...
                ...Trong khi chờ đợi y tá Tôn Thất Mừng sửa soạn adrénaline, BS Ái bảo DS Thuận xoa bóp lồng ngực Giang, còn mình thì dùng phương pháp bouche à bouche, thổi hơi cho bạn. BS Ái chích Adrénaline trực tiếp vào cơ tim Giang và cùng DS Thuận tiếp tục làm cấp cứu hồi sinh
               Dù biết rằng nếu có hiệu quả thì trong vài phút, nhưng Ái và Thuận vẫn cố cứu bạn suốt nửa giờ. Vô vọng, hai người quỳ gối bên xác bạn...
               ...Tôi tin tài của BS Ái, biết chẳng còn gì cứu vãn được nữa, nhưng vẫn đến ngồi bên Giang, lật chăn để nhìn bạn lần cuối. Tôi quan sát thấy đồng tử của người bạn xấu số đã hoàn toàn nở rộng.Thật hết rồi! Tôi ghé sát miệng Giang và ngửi mùi hăng hắc đặc biệt ở những người tự tử bằng Chloroquine..."

          Năm 1976, Y Sĩ Trung Úy Hiện Dịch Thủy Quân Lục Chiến Vũ Đức Giang qua đời, "hưởng dương" 28 tuổi.
           Tôi nhớ Vũ Đức Giang. Tôi nghĩ đến hai em của Giang. Tôi nghĩ đến Mai, người vợ chưa cưới của Giang. Tôi nghĩ nhiều đến mẹ của Giang...
          Tôi nhớ nụ cười hiền hòa của Giang. 
          Tiếng hát Ngọc Long từ đâu đó vọng về: 
               "...Chiều mơ anh cầm đàn về Trường Sơn bát ngát, ngắm mây bay miệt mài tiếng hát..."
          Vũ Đức Giang đã về với rặng Trường Sơn bát ngát, về với Hoàng Liên Sơn hùng vĩ. 
          Vũ Đức Giang đã  ở lại với sông Hồng cuồn cuộn sóng đỏ và ở mãi với dòng Cửu Long xanh mát, mênh mông...

Phạm Anh Dũng 
San Diego, California, USA
(viết xong tháng Ba 2025 để kỷ niệm 50 Năm Quốc Hận, Tháng Tư Đen 1975)