Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Tình Yêu Má!


Đêm dần buông nơi hàng hiên vắng
Lòng nghĩ gì dưới ánh trăng thanh
Gió nhớ ai chao đọng lay cành
Hay ta nhớ ngày xanh tuổi nhỏ

Nhớ một đời Má Ba khốn khó
Trọn khối tình vui có bên nhau
Vượt biết bao giông tố ba đào
Chỉ mong ước đời sau hạnh phúc.

Và... sông có khúc người có lúc
Bởi yêu con chẳng phút nghỉ ngơi
Theo dòng định mệnh xa trôi
Nơi xứ lạ vun bồi công sức

Mong cháu con hưởng đức sống đời
Rèn tài trí thành người hữu dụng
Tâm nhân ái khoan dung độ lượng
Không uổng công nuôi dưỡng sinh thành.

Mother's Day là ngày hiếu hạnh
10 tháng 5 chạnh nhớ Má nhiều
Lời nguyện cầu dâng Má bao nhiêu
Cũng không đủ tình yêu của Má!

Kim Oanh
Mother's Day 10.5.2026


Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Cánh Hoa Dâng Mẹ!

 

Có những chiều nghe biển hát
Rộn ràng cát cũng nghêu ngao
Trùng dương xanh ngát pha màu 
Dạt dào tràn bờ ký ức.

Vọng thức từ tiếng chuông ngân
Được sống chứng nhân trong đời
Tình Mẹ tha thiết khôn ngơi
Bao la trùng dương vời vợi

Bầu trời mở ra lối mới
Vòng tay ấm áp thiêng liêng
Hồng ân siêu nhiên huyền diệu
Cạnh Mẹ hiển thiếu thốn chi

Tháng 5 Mân Côi xin quỳ
Dâng lên những cánh hoa tâm
Âm thầm câu kinh chúc tụng
Bên Mẹ khấu phục. Tạ Ơn!


Kim Oanh
*Tháng 5 Vượt biển bình an 1979
 *Tháng 5 Mân Côi 2026

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Bóng Thu!

Mang theo nỗi nhớ xuyến xao
Bao mùa lá đỗ nắng vàng chiều rơi
Bóng thu lặng lẽ bên đời
Chờ người diệu vợi suốt thời biết chăng


Bao chiều men theo ngõ vắng
Lá thay màu bóng lẵng lặng thềm hoang
Mong người diệu vợi về ngang
Đúng mùa hẹn ước lá vội vàng chín rơi

  

Đêm bóng mỏi mòn tàn hơi
Sầu dâng chồng chất trăng lơi cuối ngàn
Người diệu vợi quên cả thời gian
Quên câu ước hẹn chẳng màng bóng đau!
 
Hình Ảnh & Thơ: Kim Oanh



Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch 春夜洛城聞笛 - Lý Bạch 李白 (Thịnh Đường)


(Bát Sách biên soạn,
Tôi viết bài này vì sắp tới ngày Quốc hận )

Đêm Buồn

Tháng tư, năm 1975, tôi đang phục vụ tại Trung Tâm IV Hồi Lực, Cần Thơ, với chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Trưởng khối chuyên môn. Ngày 30/04/1975, vì BS Tô Văn Nghiễn về Sài Gòn, tôi xử lý thường vụ Chỉ huy trưởng, vẫn đi làm việc như thường lệ, cùng anh bạn sau tôi một khoá là BS Trần Cao Thăng. Lúc 10 giờ, Dương Văn Minh đọc thông điệp đầu hàng trên đài phát thanh, tôi tập họp thương binh, tuyên bố rã ngũ, ai lo phận nấy. Nhìn bệnh nhân của mình, kẻ què, người cụt, vết thương chưa lành, đi chân hoặc nạng, thất thểu ra cổng trại, tôi không sao cầm được nước mắt, khóc cho đồng đội, cho gia đình và cho chính mình.... Tương lai nào biết ra sao. Sau đó, Thăng và tôi đi tìm đường chạy. Vì có bạn là Nha Sĩ Trần Văn Bé ở căn cứ hải quân Bình Thuỷ, Cần Thơ, tụi tôi được gửi lên mấy chiếc tầu há mồm, theo giòng Hậu Giang ra biển. Tầu chìm, được tầu Song Long của Đại Hàn vớt, ghé Thái Lan, rồi chở về trại tị nạn ở Phú San, ngày 21/05/1975.

Trong thời gian ở trại, tôi cũng có nhiều việc, khám tại bệnh xá, phân chia đồ cứu trợ, làm thông dịch viên, một mối tình Hàn Việt thơ mộng và lãng mạn. Những chi tiết vui buồn, gian lao khổ sở, nhục nhằn đã được kể trong bài Phú San, đăng trên Tập SanY Sĩ. Trại gần 2000 người, tôi đã biết trước một số nhỏ như BS Trịnh Cao Hải, và phu nhân là chị Mộng Ngọc, giáo sư, hỏi vấn đáp khi tôi thi tú tài, các đồng nghiệp khác như các BS Lê Dư Khương, Phó Đức Mùi, Nguyễn Văn Thạnh, Dương Hồng Huy, Trần Cao Thăng, Lê Lữ, Lê Thiện Nhân... Bạn mới, tôi cũng có thêm, như Hoàng Văn Thuận, Nguyễn Văn Điềm, Lê Khuê Hào, Trịnh Thiếu Sinh...Trong số bạn mới, tôi nhớ nhất là một anh lính hải quân, tên thật là gì, tôi không biết, anh xưng là Kim Chi. Số là khi đó, Tổng Thống Phác Chính Hy nuôi dân tỵ nạn bằng mì luộc và kim chi, món ăn bình dân nhưng độc đáo của Hàn Quốc, và bạn tôi lấy nó làm tên của mình.

Kim Chi hiền lành, nói chuyện vui vẻ, đặc biệt là rất nghệ sĩ, anh biết hát và thổi sáo. Chẳng hiểu sao, anh ngoại giao, anh xin được một ống nhựa bao giây điện, rồi mầy mò làm thành ống sáo. Từ đó, tối nào, tụi tôi cũng theo Kim Chi, nghe anh trổ tài, mang theo chút kẹo hoặc thuốc lá để trợ hứng. Khi ngồi cả đám thì không sao, nhưng lâu lâu, có những đêm khuya mất ngủ, nằm trằn trọc, mà nghe văng vẳng tiếng sáo của Kim Chi, thổi những bài như Lòng mẹ, Con thuyền không bến, thì kẻ vong quốc, tha hương, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, ai mà không rơi nước mắt.

Lúc đó, trên người chỉ có một bộ quần áo, làm gì ra sách vở, nhưng còn nhớ được mấy bài thơ Đường, bèn tìm một bài hợp tình, hợp cảnh, đem ra dịch cho qua thì giờ. Đó là bài:

春夜洛城聞笛    Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch
李白                      Lý Bạch

誰家玉笛暗飛聲 Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
此夜曲中聞折柳, Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình.

Nghĩa:

Đêm xuân, ở Lạc Dương, nghe tiếng sáo.

Tiếng sáo ngọc nhà ai thoảng bay,
Tan vào gió xuân, đầy thành Lạc Dương.
Đêm nay, nghe điệu bẻ liễu trong khúc sáo, (Điệu bẻ liễu là điệu biệt ly)
Ai là người không dậy lên mối tình nhớ vườn xưa.

Dịch thơ:

Đêm Xuân,  Lạc Dương, Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai tiếng địch thoảng bay,
Quyện vào trong gió, tan đầy Lạc Dương,
Nghe câu ly biệt đêm trường,
Ai người chẳng thấy nhớ thương quê nhà.

Đây là một bài trung trung của Lý Bạch, tôi thích chỉ vì nó nói đúng tâm trạng của mình, Nhưng xét cho cùng, thì thấy câu thứ 2 sao hay lạ lùng, tiếng sáo mà tan vào gió xuân, bay đầy thành phố, thì chỉ có Lý mới viết nổi.
Hồi ở Phú San, câu chót tôi dịch là: Ai người chẳng nhớ cố hương xa vời. Nhưng tôi có lây bệnh Thôi, Xao của Giả Đảo, nên đã sửa lại như trên, mong các bạn cho ý kiến.

Nguyễn Thanh Bình( Bát Sách)
***

Nhà ai sáo ngọc thoảng bay nhanh
Nương gió xuân loang khắp Lạc thành.
Khúc sáo lắng nghe như "Chiết Liễu”
Hỏi ai chẳng nhớ đến quê mình

Con Cò
***
Đêm Xuân Ở Lạc Thành Nghe Sáo.

Nhà ai sáo vọng suốt canh trường,
Quyện gió xuân bay khắp Lạc Dương.
Khúc nhạc đêm nay nghe " Bẻ Liễu,"
Người nào chẳng nhớ tới quê hương.

Mỹ Ngọc.
Apr. 14/2026
***
Đêm xuân nghe sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ngọc nhà ai thoảng tiếng bay
Gió xuân mang rải Lạc Dương đầy
Đêm nay Chiết Liễu chìm trong nhạc
Ai chẳng chạnh lòng chốn cũ đây?


Lục bát


Nhà ai sáo ngọc thoảng bay
Gió xuân chuyên chở rắc đầy Lạc Dương
Điệu nghe Chiết Liễu đêm trường
Ai người mà chẳng nhớ thương quê nhà?


Lộc Bắc
Mars2019
***
Tiếng sáo đêm xuân ở Thành Lạc Dương

Vi vu tiếng sáo vọng nhà ai
Theo gió mùa xuân dìu dặt bay
“Chiết liễu” Lạc Dương vang điệu nhạc
Quê hương nỗi nhớ thiết tha đầy

Thanh Vân
***
Đêm Xuân Nghe Sáo Ở Thành Lạc Dương

Canh trường tiếng sáo nhà ai
Quyện nương theo gió xuân bay Lạc thành
Nghe câu ly biệt đêm thanh
Mấy ai sao nỡ quên đành quê hương.

Kim Oanh
***
Nguyên tác: Phiên âm:

春夜洛城聞笛-李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch


誰家玉笛暗飛聲 Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
此夜曲中聞折柳 Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình

Bài thất ngôn tứ tuyệt này được viết vào năm Đường Huyền Tông Khai Nguyên thứ 23 (năm 735) khi Lý Bạch viếng thành Lạc Dương. Có mộc bản trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Giải nghĩa chữ khó:

Lạc Thành: thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, một thành phố rất thịnh vượng trong thời nhà Đường, kinh đô cổ kính của Trung Hoa ngày xưa, còn được gọi là Đông Đô.
Văn địch: Vào thời Ngụy Tấn, Hướng Tú làm bạn với Kê Khương và Lữ An, Khương và An bị Tư Mã Chiêu giết chết. Tú về nơi ở cũ của Kê Khương tại Sơn Dương, nghe tiếng sáo của hàng xóm, cảm thấy nhớ người bạn đã khuất của mình. Sau đó, văn địch được sử dụng như một từ để thương tiếc người quá cố.
Thùy gia: nhà ai, ở đâu
Ngọc địch: sáo ngọc, tên đẹp của sáo
Ám phi thanh: âm thanh không biết từ đâu đến; tiếng sáo bay bổng, vẳng lại một cách kín đáo, mơ hồ trong đêm tối; tiếng sáo vang lên trong đêm và truyền đi xa
Xuân phong: gió mùa xuân, ẩn dụ ân trạch, bầu không khí hòa hợp
Chiết Liễu: tên bản nhạc xưa; ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi, sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt.
Cố viên: vườn uyển cổ xưa, từ dùng để chỉ quê hương

Dịch nghĩa:

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch


Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Nhà ai có tiếng sáo ngọc vẳng trong đêm,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Theo gió xuân bay khắp thành Lạc Dương.
Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
Đêm nay trong khúc nhạc ta nghe lại có điệu "Chiết Liễu",
Hà nhân bất khởi cố viên tình
Thử hỏi có ai mà không cảm thấy nhớ quê hương.

Bình luận:

Bài thơ được Lý Bạch sáng tác vào khoảng năm 734-735 (niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông), khi ông đang lưu lạc và tạm trú tại thành Lạc Dương. Sống nơi đất khách trong một đêm xuân tĩnh lặng, âm thanh của tiếng sáo vẳng lại đã chạm vào nỗi lòng xa xứ của nhà thơ.

Dù viết về nỗi nhớ quê, Lý Bạch không dùng những từ ngữ bi lụy. Ông dùng câu hỏi tu từ Hà nhân bất khởi (Ai mà không chạnh lòng) để nâng cảm xúc cá nhân lên thành một tình cảm phổ quát, khẳng định rằng tình yêu quê hương là bản năng sâu thẳm của mỗi con người khi đứng trước những rung động tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Bài thơ ngắn nhưng giàu nhạc tính, hình ảnh trong trẻo mà thấm buồn. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Đường về tâm trạng tha hương, sánh cùng Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch hay Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ.
Bài thơ này hơi khó so sánh với bài Văn Địch của Triệu Hỗ vì khác thể thơ, nhưng có thể so sánh với bài tứ tuyệt Tái Thượng Văn Địch của Trương Hỗ. Cả hai bài đều nghe sáo ban đêm. Bài của Lý Bạch, như chúng ta đã biết, được làm vào mùa xuân ấm áp ở nơi phồn hoa đô thị khi ông đến Lạc Dương tìm danh vọng. Bài thơ của Trương Hỗ, bên dưới, được làm vào mùa đông lạnh lẽo ở biên thùy Tây Bắc, hình ảnh một chiến binh cô đơn nhớ nhà.

Dịch thơ:

Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương


Thể thất ngôn:

Tiếng sáo nhà ai gợi vấn vương,
Gió xuân đưa khắp nẻo Lạc Dương.
Khúc nhạc chia tay ôi tha thiết,
Sao khỏi chạnh lòng nhớ cố hương.


Thể lục bát:


Nhà ai tiếng sáo nhẹ nhàng,
Gió xuân đưa khắp nẻo đàng Lạc Dương.
Khúc Chiết Liễu gợi vấn vương,
Hỏi ai viễn xứ chẳng thương quê mình.


Thể song thất lục bát:


Tiếng sáo ngọc, nhà ai trầm bổng
Khắp Lạc Thành, theo ngọn gió xuân
Đêm nay Chiết Liễu ru ngân
Hỏi ai chẳng khởi bâng khâng nhớ nhà?


Flute On A Spring Night in Luoyang by Li Bai

From whose house arises the melodious flute
Spring wind carries it all over the city of Luoyang
Tonight the song is the Willow Breaking melody
Who does not have feeling for his old country?

From whose house comes the sound of a jade flute, discretly flying?
The spring wind scatters them across the whole city of Luoyang.
Tonight, within that drifting melody, I hear the tune "Breaking the Willow."
Who could listen without being moved by memories of their father land?

The above translations focuse on conveying the sense and emotion of the original poem rather than reproducing its rhyme.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

李白. Tên của thi nhân họ Lý đã được chuyển sang chữ Latin thành Li Bai, Li Po hay Li Bo tùy hệ thống chuyển ngữ nhưng Lý Bạch trong tiếng Việt có thể gần gũi nhất với lối phát âm /baek/ hay /bhæk/ của thời Trung Cổ. Ngoài tên cúng cơm Bạch, ông còn được biết dưới các tên Thanh Liên Cư Sĩ, Thi Tiên, Tửu Tiên, Trích Tiên Nhân và Thi Hiệp.

折柳. Liễu trong tục chiết liễu là cây thùy liễu (Salix babylonica) có gốc ở bắc Hoa Lục rồi lan tràn qua miền ôn đới Tây phương nên cho dù người (nhiệt đới) Việt có tên cây liễu, ít ai ở quốc nội thấy cây đó, vì dĩ nhiên ít ai (kể cả người Viết) biết tục bẻ liễu có ý nghĩa gì. Và trừ khi người đọc hiểu rằng liễu (柳) và lưu (留) là hai từ đồng âm [cùng bính âm liǔ] thì họ cũng không hiểu rằng từ liễu là biểu tượng của sự chia ly, để diễn tả ước muốn níu kéo người đi ở lại hay trở về. Thời xưa người đi xa thường dùng thuyền – đường bộ rất hiểm nghèo - nên việc chia tay thường xẩy ra bên bờ sông nơi cây liễu thích sống, hay thường được trồng. Mặc dù đa số thổ âm Hoa Lục phát âm 留 với phụ âm /l/, người Thành Đô, Tứ Xuyên phát âm nó giống hệt như níu của tiếng Việt nhưng có lẽ đây không phải là ngữ nguyên của ‘níu’ trong các nghĩa níu lại, níu kéo.

玉笛. Từ thời Đường, từ địch được dùng riêng để chỉ loại sáo thổi ngang nên dùng các hình vẽ với sáo thổi dọc (có tên là tiêu, 簫) không hợp với bài thơ. Nguyên liệu cho sáo thường là trúc hay gỗ vì khả năng cộng hưởng của chúng làm tăng phẩm chất của tiếng sáo. Ngọc (bích) và kim loại ít khi được dùng (trừ trường hợp các flute gốc Âu Châu) vì âm thanh từ chúng không ấm bằng tiếng sáo gỗ hay trúc. Và cụm từ ngọc địch có thể hàm ý rằng người thổi sáo đang ở trong một lầu đài, cung điện nào chứ không phải là một nghệ sĩ chuyên dùng sáo, vì ít ai đủ giàu mua sáo ngọc và người chuyên nghề thổi sáo thì lại thích sáo gỗ hay sáo trúc. Họ Lý sáng tác bài thơ này năm 734 khi đang lang thang qua đông đô Lạc Dương và ngữ cảnh của bài thơ gợi ý – ít nhất cho người viết ni – rằng ‘cố viên tình’ (故園情) nói đến một người quen mà Lý đã nhờ tiến cử vào triều đình. Một điều ít người biết về cuộc đời họ Lý là ông đã nhiều lần viết thư tự tiến cử đến triều thần ở Trường An.

Nếu người ni đoán đúng thì sáo của người bạn Kim Chi của Bát Sách chế tạo là địch, không phải tiêu, và phân vân âm thanh từ cái địch này như thế nào vì nhựa làm vỏ dây điện không cứng lắm (cứng quá thì không uốn quanh được).

Huỳnh Kim Giám




Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Tôi Không Là Một Người Lính


Tôi không phải là một người lính, nhưng tháng Tư lại kéo tôi vào trận chiến, trái tim tôi tan nát với mỗi nhịp đập, lồng ngực tôi nặng trĩu những ký ức tôi không thể cưỡng lại. Tiếng hát vang vọng đã làm nhức nhối bao người khi lần đầu nghe một ca khúc của Nhạc sĩ Nam Lộc được cất lên.

"Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng."

Tôi có cảm tưởng gió mang theo tiếng vọng của lòng dũng cảm đã ngã xuống, và tôi cảm nhận được điều đó trong xương cốt, trong nỗi đau trống rỗng của ruột gan. Một nỗi đau mà chỉ tháng Tư mới biết. Tôi không dũng cảm, nhưng trái tim tôi làm chứng, nước mắt tôi tiếc thương những người đã mất, và tâm hồn tôi đau buốt với sức nặng của một tháng không bao giờ quên. 

Tôi không phải là một người lính, nhưng mỗi tháng Tư, trong tôi lại cảm nhận như đang ở nơi chiến trường. Mỗi nhịp đập kéo tôi chìm vào sự hỗn loạn của những ký ức, tôi không thể trốn chay, và nỗi đau phủ lấy tôi như một cơn bão thầm lặng. Tôi cảm nhận được nỗi mất mát, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người đã chiến đấu. Dù tôi chưa từng cầm súng hay hành quân cùng họ. 

Mỗi tháng Tư về, lồng ngực tôi đau nhói, ruột gan thắt lại, và nước mắt không kềm được khi đọc những bài thơ, một đoản văn, những ca khúc về một thời khói lửa nơi chôn nhau cắt rún, nỗi lòng khắc khoải của ngày tháng sống ly hương. Tháng Tư không tha cho những người vô tội, nó nhắc nhở tất cả chúng ta về những gì đã mất, những gì đã trao đi, và những gì không bao giờ có thể lấy lại được. 
Một nỗi buồn tháng Tư khôn nguôi.......

Không biết vì sao tôi hay buồn
Khi tháng Hè về lệ mãi tuôn
Nhớ phút chia tay cùng ước thệ
Của Người lặn lội chốn sơn khê

Tôi biết vì sao tôi hay buồn
Mỗi tháng Tư về nhuốm đau thương
Quê Hương xa khuất trong trời nhớ
Thương Người Chiến Sĩ dãi dầu sương

Tôi không là người Lính chiến đâu
Tháng Tư sao dạ lắm cồn cào
Tim se sắt nhói từng hơi nhịp
Ruột đứt rã rời tháng Tư đau.


Kim Oanh
30-4-2026


Những Người Không Chết - Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ - Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ
Tiếng Hát: Kim Oanh Canada

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Người Ở Đâu Đêm Nay? - Sáng Tác: Nguyễn Văn Thành - Tiếng Hát: An Minh

 
1.
Người ở đâu đêm nay khi ngoài kia bóng tối
khi ngoài kia giá buốt giăng đầy?
Một vì sao đơn côi đang lập loè chỉ lối
Cho nguời ngay bước tới giữa chốn u mê nơi nơi.
Người ở đâu đêm nay khi niềm tin sắp đuối
Khi rừng gươm giáo mới đã đứng vây quanh cuộc đời dân tôi.

Người ở đâu đêm nay xin về nơi chốn ấy
Cho triệu dân sẽ thấy một chút yên tâm đêm nay.
Tân cùng 30 năm, bao cầu xin đã vắng
Bao mùa Đông đã trắng, dấu vết đau thương hôm nay đã hằn.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
khi 30 năm vẫn nguyên lời nguyện này.
Người hỡi, thử thách này lớn quá không?
Hay niềm tin con héo hon?
Hay dân tộc này đang cơn nghiệt ngã giữa sống còn?

2.
Người ở đâu đêm nay khi vòng vây đã xiết
Giáo đường xưa đã hết lối về
Nào người chăn chiên xưa, đâu về miền đất hứa
Cho niềm tin cứu rỗi hôm nao trở thành chiêm bao.
Người buồn không đêm nay, bao lời kinh đã cấm
Máu đàn chiên đã thấm trên bao bản làng xa xăm.

Người ở đâu đêm nay, xin gọi Hồn Sông Núi
Cho người người sẽ thấy cùng nỗi đau thương quanh đây
đoạ đày kia anh em, suy tàn kia giáo giới
để cùng nhau bước tới làm sáng danh tên của Người.

ĐK:
Con biết cầu xin gì đêm nay
biết chờ mong gì mai đây
Nhưng 30 năm vẫn xin lời nguyện này.
Người hỡi, chỉ có Người đến đêm nay (thấu cơn đau)
chỉ có Người biết đêm nay (mai sau)
Xin cho dân tộc này (can đảm thêm một ngày) cùng đứng lên một ngày.

Nguyễn Văn Thành

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Hạo Khí Trường Tồn - Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Minh Thanh

(Đại Tá Trần Cẩm Hương)

Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

Nguyễn Minh Thanh

(Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp)

Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:

Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.

Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.

Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.

Sau năm 1975

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bà Trần Cẩm Hương bị kẹt lại Sài Gòn và phải đi tù cải tạo kéo dài suốt 10 năm dù đã giải ngũ trước đó.
Sau khi ra trại năm 1985, bà bị chỉ định lao động ở Hậu Nghĩa, ở một căn Chòi Lá giữa đồng khô, chịu sự kiểm soát của một góa phụ VC. Do phải lao động nặng nhọc với điều kiện sống khắc nghiệt, Bà đã bị cảm nặng dẫn tới viêm màng não. Gia đình có xin chuyển về Sài Gòn chữa trị .Song không được. Vì vậy Bà đã qua đời vào tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 61 tuổi.
Đám tang của Bà được thân quyến tổ chức tại ngôi nhà cũ ở đường Hồ Biểu Chánh, quận Phú Nhuận, SaiGon. Di hài Bà được hỏa thiêu tại lò thiêu vãng sanh Miền Cực Lạc Thủ Đức.

Tâm Cảm:

Người xưa có câu: Gia bần tri hiếu tử, Quốc nạn thức trung thần!! Hậu sinh xót thương Bà hồng nhan bạc phận, song dạ sắt lòng son. Xin nghiêm mình kính cẩn cảm nổi nhọc nhằn khốn khổ của Bà:
Cải tạo lao tù đăng đẳng cùng cực... sông dài khốn khổ... thảm thương tấm thân ra tiều tụy...!!!
Chỉ định cư trú thẳm thăm vất vả... biển rộng đọa đày... thống thiết bản mệnh đến cáo chung...!!!

Ngoài ra, hậu sinh kính nguyện cầu Bà được vãng sanh Miền Cực Lạc:
Cầu tinh anh tài đức vẹn toàn phơi phới vãng sanh thảnh thơi miền Cực Lạc
Nguyện thể phách đảm lược cao thâm châm chú phù trợ phấn phát giống Hồng Bàng

Dưới đây là bài thơ:
Giai Nữ Giữa Đời Phong Sương (của Trí Tuệ Nhân Tạo = AI)

Giai nữ một tấm lòng trong,
Giữa cơn binh lửa vẫn không đổi dời.
Nét nghiêm mà thắm nụ cười,
Đem nhân nghĩa trải khắp nơi quân trường.
Đời sau nhắc chuyện phong sương,
Càng thương dáng ngọc giữa đường gian lao.
Tên bà như ánh trăng cao,
Soi vào hậu thế ngọt ngào khí tâm.

TTNT

***Ngày 26 Tháng 2-2026, là ngày Giỗ lần thứ 39, của Giai Nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương.

Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)
* Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp

Tạc Dạ Nghìn Sau...

 

Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gió
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay

Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu,
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới

Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió 
sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngổn ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt

Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!

Kim Oanh
28.4.2026


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Anh Không Chết Đâu Em - Sáng Tác:Trần Thiện Thanh

 
 (Đại Úy Nguyễn Văn Đương)


Sự Ra Đi Của Đại Uý Đương, Hạ Lào năm 1971.

Xin phép được giới thiệu hoàn cảnh hy sinh của Đại Uý Nguyễn văn Đương (Người hùng Mũ Đỏ trong bài hát nổi tiếng "Anh Không Chết Đâu Em" Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh), qua lời kể lại của Trung Tá Bùi Đức Lạc Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Dù, hiện định cư Mỹ. Duy chỉ có điểm cuối cùng, ai cũng biết đó là Đại Tá Thọ bị địch quân bắt giữ, được thả, xuất ngoại và về sau qua đời tại Úc, nhưng trong bài viết nói rằng Đại Tá Thọ cùng hy sinh với Đại Uý Đương.(có lẽ do người viết lại chưa chuẩn xác qua lời kể của Trung Tá Bùi Đức Lạc).

Trung Tá Bùi Đức Lạc Kể Về Cái Chết Của “Người Anh Hùng Mũ Đỏ Tên Đương”

Trung Tá Bùi Đức Lạc kể: “Lúc Nguyễn Văn Đương chết, tôi đang bay trên trời ngay trên đầu Nguyễn Văn Đương, nên tôi biết rất rõ, tại sao Nguyễn Văn Đương chết và chết như thế nào! Nguyễn Văn Đương là pháo đội trưởng Pháo Đội B3 Nhẩy Dù.
Trong căn cứ của anh, hiện có một pháo thủ là anh Đào Văn Thương, có thể đang có mặt tại đây, sau này là Mục Sư Đào Văn Thương. Những người trong Căn Cứ 31 hiện giờ không còn ai ở đây, nhưng các pháo thủ có mặt trong trận Hạ Lào, thì có Thiếu Tá Đào Kim Trọng (pháo đội trưởng Pháo Đội A.3 Dù), Thiếu Tá Lý Kim Điền (pháo đội trưởng Pháo Đội C1 Dù), Nguyễn Kim Việt (pháo đội phó Nhảy Dù) và pháo đội trưởng Pháo Đội C3 là Đại Úy Bành Kim Trí. Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh có một pháo đội 155 ly của Đại Úy Trương Như Hy, đóng tại Căn Cứ 30.

Ngày mà chúng tôi nhận được tin Trung Tướng Đỗ Cao Trí chết tức là ngày 21-2, ngày mà căn cứ chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đạn. Đạn dược trong trận Hạ Lào, tụi Việt Cộng rất là dư thừa, nhưng mình rất là khan hiếm nó ngược lại như vậy, và các súng tối tân của nó cũng trên mình hết, tức là các súng 130 ly và hỏa tiễn.
Ở miền Nam chúng ta chỉ bị pháo hỏa tiễn 122 ly, cùng lắm là 2 nòng mà thôi. Nhưng sang Hạ Lào, chúng dùng 6 nòng, bắn một lúc 6 trái và nó bắn không bao giờ dưới 6 tràng, tức là không bao giờ dưới 60 trái; đạn dược của nó dư dả như vậy, nên Căn Cứ 31 của chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đủ các loại đạn. Nhưng thật sự, chúng ta ở trong Pháo Binh biết, nếu mà 2.000 trái mà trúng căn cứ, thì chắc chúng tôi thành bụi hết rồi.
Nó pháo 2.000 trái chỉ trúng căn cứ tối đa là 10 trái; cũng may như thế mà giờ đây tôi có dịp trình bày với quý vị. Không có ngày nào nó pháo dưới 1.000 trái, nhưng đa số ra ngoài căn cứ hết. Hôm 21, khi nó tấn công Căn Cứ 31, thì chúng tôi bị pháo như thế và Căn Cứ 30 cũng bị pháo tương tự. Ngày 24, là ngày Căn Cứ 31 bị thất thủ, tôi và Đại Tá Lưỡng, không biết ai xin, nhưng khi máy bay trực thăng đáp xuống thì hai chúng tôi phải lên máy bay đi.

Chúng tôi đang bay quan sát cho Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, lúc đó Tiểu Đoàn 8 và một thiết đoàn đang đụng độ với Sư Đoàn 320 Việt Cộng. Ở bên các cánh quân khác như Lữ Đoàn 3, chỉ bị một sư đoàn tấn công, còn riêng Lữ Đoàn 1, ba tiểu đoàn Dù bị ba sư đoàn tấn công ngày đêm, không có lúc nào mà không có đơn xin tác xạ trên hệ thống tác xạ hết, thành ra trong trận Hạ Lào, anh em chúng tôi không bao giờ có một giấc ngủ trọn vẹn 10 phút, kể cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi đang bay quan sát trên không phận của Tiểu Đoàn 8, thì Căn Cứ 31 bị tấn công rất mạnh, tấn công giữa ban ngày.
Tất cả những trận đánh tại Căn Cứ 31 đều diễn ra ban ngày hết. Ban đêm chỉ là đặc công đánh nhỏ mà thôi. Khi nó tấn công thì từ chỗ tôi đang bay, nhìn qua Căn Cứ 31, chỗ Đương đang đụng trận, thì thấy những chiến xa của Việt Cộng lờ mờ không thấy rõ, tôi ước lượng khoảng 10 chiến xa. Lúc đó Nguyễn Văn Đương gọi cho tôi nói ‘Nó đông lắm anh ơi!’. Tôi hỏi: ‘Tình trạng bây giờ như thế nào?’.
Đương cho biết: ‘Lủng tuyến rồi anh ơi!’. Tôi nhìn đồng hồ khoảng 2 giờ 50 chiều. Vào khoảng 3 giờ thiếu 10, Nguyễn Văn Đương gọi nói: ‘Em chỉ còn hai cây súng bắn được thôi’, và sau đó Đương nói, ‘Em chỉ còn một cây súng bắn được thôi. Tức là 5 cây hư, chỉ còn độc nhất một cây’. Khoảng 4 giờ, Đương cho tôi biết là, ‘Chiến xa địch đang nằm trên đầu em’.

Lúc đó Đương đang ở dưới hầm và qua máy liên hợp, tôi nghe Đương nói với một nhân viên của anh: ‘Băng cho tao, máu ra nhiều quá rồi’. Lúc bấy giờ tôi mới biết tay phải của Nguyễn Văn Đương đã bị rớt rồi và chân Đương cũng bị trúng đạn, nhưng Đương vẫn bình tĩnh nói với tôi: ‘Em lên đạn bằng cái kiểu ngày xưa đó, tức là súng Col của Đương, Đương phải dùng tay phải tỳ vô cái dây nịt bụng mà lên đạn, không thể lên đạn bằng hai tay được nữa.
Khoảng 4 giờ hay 4 giờ 05 thì Đương nói: ‘11 ơi, em không liên lạc với 11 nữa, vĩnh biệt 11!’ và rồi tôi không nghe gì nữa.

Tôi nghĩ lúc đó Đương đã vĩnh biệt tất cả đồng đội. Trước khi chết, Đương cho tôi biết, anh chỉ còn có hai viên đạn cuối cùng trên nòng súng mà thôi! Và đó là cái chết của Nguyễn văn Đương trên mặt trận Hạ Lào. Sau đó khoảng 5 phút, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 gọi cho tôi nói: ‘11 làm ơn bắn ngay trên đầu tao đi’. Trên máy bay tôi cho lệnh tất cả các pháo đội sử dụng đạn nổ CVT, dù sao tôi cũng sợ bắn đạn thường rơi vào hầm hố của quân mình, nên tôi dùng đạn CVT.
Khai hỏa vào khoảng 4 giờ 15, thì tất cả 4 pháo đội đồng khai hỏa bắn vào Căn Cứ 31 và bắn giết cả bạn lẫn thù, lần đầu tiên trong đời pháo thủ của tôi! Khi tôi vừa ra lệnh bắn, thì Đại Tá Lưỡng và tôi cùng cả phi hành đoàn đều bật khóc. Đó là cái chết của Đại Úy Nguyễn Văn Đương và đại tá lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào”.

Mời thưởng thức ca khúc:  

Bùi Đức Lạc
(Trích từ Nguồn tvvn.org)

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Thu Muộn



Lá thu cố bám víu cành
Trăn trở cho lắm cũng đành rời cây
Lá buồn lặng lẽ thầm lay
Mong nương làn gió tận ngoài trùng xa
Lá về ẩn náu thân già
Dòng đời đưa đẩy biết là nơi đâu
Lá mù cơn lốc xoáy cao
Lênh đênh phận bạc chìm vào bể khơi
Lá trôi dạt tấp bến người
Thả trôi định mệnh thôi rồi tàn phai
Lá úa tình đậm hương say
Hoàng hôn dẫu muộn tình này vẫn son!

Kim Oanh
Thu 2026


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Bài Hành Tháng Tư

 

Nước mắt xót thương đời oan trái
Nụ cười không mang trọn niềm vui
Cứ thế lưu vong qua thời đại
sống tha hương trầm, bổng phận người.
 
Nếu thuở xưa nặng sầu quốc biến
thì ngày nay gặm nỗi đau thầm
Càng nhớ lúc dọc ngang, chinh chiến
càng buồn thêm mối hận chung thân.
 
Đất cằn in dấu chân lưu biệt
Tình khô theo năm tháng long đong
Một lần xa cách là vĩnh quyết
Nước tang thương, người cũng xuôi dòng!
 
Xưa can qua tưởng đời phận bạc
Nay thiên di mới hiểu lụy trầm
Chẳng phải lục bình sao trôi dạt!?
Nước xa nguồn. Biền biệt...trăm năm!
 
Ngày qua ngày nghe hồn sỏi đá
đếm thời gian qua tiếng thở dài
Bốn mùa tiếp nối, Xuân rồi Hạ
chưa Thu, Đông đã thấy tàn phai!
 
Tháng năm điểm tóc sương viễn xứ
Mỗi ngày mang một kỷ niệm buồn
Tình lưu khách theo chân lữ thứ
quay quắt tìm một lối hồi hương.
 
Lối hồi hương còn ngoài vạn dặm
mà đã mờ nhân ảnh quan san
Xưa tháng Tư trời Xuân đang thắm
sao vội chi nát đá, tan vàng!?
 
Cũng vì đời vô thường, vạn lối
nên lòng người cũng lắm đổi thay!
Đã bao năm bảy chìm, ba nổi
hồn nặng mang ngàn nỗi u hoài!

Thắp nén hương lòng trong đêm vắng
Chiêu hồn tử sĩ vượt ngàn khơi
Ngậm ngùi tưởng tiếc bên chén đắng
Nâng chung thiên cổ uống cạn đời!

Huy Văn (HVC)

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Khung Trời Lộng Gió



Em môt thuở khung trời lộng gió
Áo lụa bay trắng xóa đường chiều
Buổi tan trường anh tỏ lời yêu
Em e thẹn diễm kiều cúi mặt

Anh một thuở lòng nghe quặn thắt
Tiếng đầu đời chợt tắt hương yêu
Khoác chinh y lòng sắt se nhiều
Phút tiễn biệt những điều chưa cạn

Màn đêm xuống bóng anh lãng vãng
Bên chòi canh soi ánh hoả châu
Nhớ về anh thao thức canh thâu
Bao giờ dứt nỗi đau chinh chiến

Kim Oanh
 

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Lá Cờ Gấp

 
"Niềm Đau Khôn Nguôi Của Mẹ...!!!"
"Lá vàng còn ở trên cây"
"Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời...?!!"

Con ơi ruột thắt với gan bào
Nghiêng bóng hoàng hôn rũ... ngọn cau
Nỗi nhớ mênh mông như biển rộng
Niềm đau vời vợi tựa trời cao
Bóng chim biền biệt chân mây trắng
Tăm cá mịt mờ đáy biển sâu
Khi bước chân đi con hẹn mẹ
Bây giờ xương trắng lạc... nơi nào...?!!

Nguyễn Minh Thanh
( GA, 3 - 20 - 2026 )

** Nguồn: “ Lá Cờ Gấp “ của Phạm Sơn Liêm
( Trước 1975, đơn vị Nha kỹ thuật. QLVNCH.
Họ không ra trận đánh trực tiếp, nhưng những công tác của họ nguy hiểm không kém gì chiến trường.
Và… đa số những người lính ấy mất tích, đi rồi không bao giờ trở về.
Mỗi lần một người mất tích, gia đình chỉ còn biết chờ…
và hy vọng mong manh nhất chính là lá cờ Tổ quốc, gấp lại nghiêm trang, mang theo nỗi đau, niềm tự hào, và cả những lời chưa kịp nói. PSL)

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Thơ Tranh: Đông Buồn

   

Chị Hồng Thủy kính mến.
Tưởng nhớ Giỗ lần thứ ba của anh Viên. Em hy vọng lời này của chị anh sẽ nghe.Nguyện cầu anh yên nghỉ và chị luôn khoẻ, bình an nha chị 
Thương mến.

Em Út Kim Oanh

Thơ: Hồng Thủy
Thơ Tranh: Kim Oanh 

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Fly Me To The Moon(Song by Bart Howard) - Đưa Em Lên Cung Trăng (Dịch: Kim Oanh)

 

Fly Me To The Moon

Let me play among the stars
Let me see what spring is like
On Jupiter and Mars
In other words, hold my hand
In other words, darling, kiss me
Fill my life with song
And let me sing for ever more
You are all I long for
All I worship and adore
In other words, please be true
In other words, I love you

Fly me to the moon
Let me play among the stars
Let me see what spring is like
On Jupiter and Mars
In other words, hold my hand
In other words, darling, kiss me
Fill my life with song
Let me sing for ever more
All I worship and adore
You are all I long for
In other words, please be true
In other words, in other words
In other words, in other words
In other words
I love you

Song by Bart Howard
***
Phỏng Dịch: 

Đưa Em Lên Cung Trăng

Đưa em lên tận cung trăng
Cho em dạo bước giữa hằng sao sa
Xem xuân trên những thiên hà
Hỏa tinh, sao Mộc như là mộng mơ.
Nắm tay em, chớ ơ hờ
Nói cùng em, nụ hôn chờ bấy lâu
Đời em thắm đậm sắc màu
Lời ca tiếng hát dâng trào mãi thôi.
Anh là khao khát trong đời
Là người em mãi suốt thời tôn vinh
Đừng ơ thờ với chân tình
Trọn đời chỉ có yêu mình anh thôi

Đưa em lên tận mây trời
Vui cùng tinh tú, hòa lời hát ca
Cho thấy xuân trên ngân hà
Nơi hành tinh ấy tình ta đẹp ngời
Nắm tay em chặt, anh ơi
Nụ hôn lưu luyến chẳng rời xa nhau
Lấp đầy ký ức ngọt ngào
Bằng muôn điệu hát dạt dào yêu thương
Anh là người em vấn vương
Là người duy nhất vẫn thường nhớ mong
Sắt son em hoài hy vọng
Nói chung tất cả...trọn lòng yêu anh.

Kim Oanh
9.4.2026

Doris Day - Fly me to the moon


Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Đêm Và Hy Vọng...


Câu chuyện xưa như một cuốn phim tình cảm đầy dư vị, vừa đẹp đẽ đầy rung động, vừa mang một nỗi buồn chất ngất.
Qua những năm dài đằng đẵng, cuộc gặp gỡ bên bờ biển ấy không chỉ là sự trùng phùng của hai con người, mà là sự giao cảm của hai tâm hồn đã đi qua bao thăng trầm của cuộc sống, tuy nhiên vẫn giữ vẹn nguyên một mối tình học trò ngây thơ của một thời cắp sách.

Dù hoàn cảnh không cho phép để được bên nhau, nhưng chính sự hướng về biển như hai cánh chim tìm nhau đã biến tình cảm ấy thành một thứ đức tin, một chốn nương tựa vĩnh cửu trong lòng.
Cùng ngồi bên biển kể chuyện cho nhau nghe, sau gần nửa thế kỷ, thực sự rất xúc động. Đó là khoảnh khắc mà thời gian như ngừng lại, chỉ còn nhịp sóng và hai trái tim đang sưởi ấm cho nhau.

Bao năm dõi cánh chim bay,
Buồn theo vận nước đổi thay ngóng chờ.
Gặp nhau giây phút bất ngờ
Hỏi thời gian vẫn hững hờ lặng im.

Dù phải xa nhau lần nữa, nhưng luôn tin rằng, có những sự xa cách về địa lý chỉ làm cho sự hiện diện trong tâm hồn trở nên mãnh liệt hơn. Cả hai không còn là đôi học trò ngày xưa, nhưng tình cảm ấy giờ đây đã có chiều sâu của biển cả, sự kiên nhẫn của thời gian và sự cao thượng của sự hy sinh.
Nhờ cảm nhận sự "hững hờ" của thời gian, mới nhận ra tình cảm ấy bền bỉ và thiêng liêng đến dường nào. Đây chính là tri kỹ tâm hồn và lòng tử tế vì nhau.

Bốn mươi mấy năm... mải miết tìm,
Biển chiều hôm ấy, lặng im nghe lời.
Chuyện tình xưa, ngỡ xa rời,
Nay bỗng sống lại giữa trời bao la.

Đôi khi tự hỏi nghĩ sao đây? Tự nhủ thầm đây không còn đơn thuần là một "mối tình học trò" nữa, mà nó đã thăng hoa thành một thứ "tình đạo".Trong thế gian này, người ta thường nhân danh tình yêu để chiếm hữu, để ghen tuông, hoặc để than vãn về sự chia lìa. Nhưng cả hai đã chọn một con đường tốt đẹp hơn rất nhiều. Yêu bằng sự tự do của tâm hồn, không giận hờn, không trách cứ: Vì cả hai đều hiểu rằng định mệnh và thời cuộc bể dâu, là thứ nằm ngoài tầm tay con người.
Âm thầm hiểu nhau, chính là sự giao nhau của hai tần số tâm hồn đồng điệu, mà ngôn ngữ trở nên thừa thãi.Tôn trọng hạnh phúc của nhau, đây là biểu hiện cao nhất của lòng vị tha. Yêu một người là muốn người đó được hạnh phúc, dù hạnh phúc đó không có sự hiện diện của mình. 

Hoàn cảnh chia cách đôi ta,
Nhưng tâm hồn vẫn thiết tha hướng về.
Biển xanh vang vọng lời thề,
Của thời đi học, lối về ngây thơ.

Sự tinh khôi như thuở ban đầu đã giữ được sau nửa thế kỷ là một phép màu. Nó chứng minh rằng thời gian có thể làm bạc mái đầu, làm thay đổi thế cuộc, nhưng không thể làm vẩn đục được một tâm hồn thuần khiết.
Một kết cuộc tràn đầy ánh sáng và hy vọng! Câu hát của nhạc sĩ Quách Lê Anh Khang: "Trời vẫn còn xanh em vẫn còn anh." chính là một lời khẳng định. Tình yêu, khi đã vượt qua được thử thách thì nó không còn là xiềng xích nữa, mà là một bầu trời tự do. 

Dẫu chẳng chung một bến bờ,
Vẫn là đôi cánh đợi chờ bóng nhau.
Thời gian nhuộm bạc mái đầu,
Tình xưa vẫn ấm, đẹp màu tinh khôi

Sự chuyển hóa trong tâm hồn, thực sự là một phép mầu của lòng biết ơn. Từ lo âu, tuyệt vọng. Khi ngỡ tình xưa đã chết trong lòng biển. Đến ân phúc, vui mừng, khi biết người ấy vẫn bình an, vẫn đang hít thở cùng một bầu không khí dưới cùng một bầu trời xanh. Chỉ thế thôi là tâm an.
Và cuối cùng là sự đổi mới tâm hồn lẫn cuộc sống hôm nay. Chọn sống vui, sống khỏe, trân trọng từng giây từng phút.Đó chính là ý nghĩa cao đẹp nhất của một tình yêu đích thực, Nó không kéo người ta xuống vực thẳm của bi lụy, mà nâng người ta lên, tiếp thêm sức mạnh để làm mới cuộc đời mình.

Bầu trời vẫn xanh, tình vẫn xanh,
Dẫu hai phương thế giới ngăn mành.
Lo âu xưa... trả về lòng biển,
Hạnh phúc bây giờ...nắng long lanh

Cần biển vẫn xanh, tình vẫn mãi...
Là khối tình từng trải... vững bền
Suốt hành trình không thể nào quên
Dù dặm dài ngăn chia bờ bến

Sự đổi mới đang cảm nhận, chính là món quà quý giá nhất mà cả hai đã vô tình gửi tặng dù không hiện diện cùng nhau. Khi sống vui, sống khỏe, đó cũng chính là cách yêu thương trọn vẹn nhất. 
Bầu trời luôn xanh biếc, và mỗi hơi thở đều tràn ngập niềm vui tự tại. Một minh chứng đẹp đẽ. Tình yêu có thể cứu rỗi, đã hoán cải tâm hồn thêm động lực, hy vọng lẫn ước mơ....

Từng giờ, từng phút, từng giây
Sống trọn yêu thương như biển đầy
Bởi trong sâu thẳm, ta luôn thấy,
Một ánh trăng ngời như mắt ai!

Đêm đã về khuya, không gian yên lặng tâm hồn như chìm vào một giấc ngủ thật êm đềm với nụ cười trên môi. Thơ như một nốt nhạc trầm xao xuyến, dịu dàng đến chạm vào lòng nhau. Ngu ngơ vá vội nhũng dòng thơ, dù thời gian có rách mảnh tình xưa, nhưng sự cần mẫn, nâng niu dùng những sợi tơ óng ánh kỷ niệm để khâu lành lại tất cả.

Dẫu cho năm tháng có phai mờ, 
Tình xưa vẫn đẹp tựa bài thơ. 
Cảm ơn người hỡi lòng chung thủy, 
Giữ mãi trong tim... một bến chờ.

Sự ngu ngơ chính là báu vật mà không tiền bạc nào mua được. Chính sự ngây thơ ấy đã bảo vệ tình yêu của nhau khỏi những toan tính đời thường, để sau thời gian lạc nhau gặp lại nhau, nó vẫn tinh khôi như sương mai lóng lánh, lung linh như nắng sớm đầu cành.

Chọn để giữ một tình bạn thuần khiết, chính là một sự giải thoát đầy êm ái, yên bình. Trong tình yêu khó nhất, không phải là nắm lấy, mà là buông tay để giữ lại. Khi chọn không nói ra, không áp lực, không phá vỡ sự bình yên hiện tại của nhau, đã biến mối tình ấy thành một báu vật được cất giữ trong  kho tàng của trái tim, nơi thời gian và thực tế phũ phàng không bao giờ chạm tới được.
Sự trân trọng, tin tưởng, những tâm sự này giống như những hạt sương đêm, dịu mát, phủ mờ không ai thấy ai hay,  chỉ có trăng và sao làm chứng.

Người không nghe thấy, chẳng sao đâu,
Đã có trăng vàng hiểu thấu nhau.
Vì sao lấp lánh nghe lời ước,
Thì thầm gửi gió...nối nhịp cầu.

Chẳng làm gì sai, chẳng lỗi lầm,
Chỉ là giữ lấy một thanh âm.
Tình bạn thuần khiết như dòng suối,
Chảy mãi trong tim, thật lặng thầm 

Có lẽ, chính vì người ấy không nghe nên tình này mới mãi là mộng ban sơ. Nếu nói ra, đôi khi hiện thực sẽ làm loãng đi cái chất thơ  đã nâng niu suốt thời gian dài. Cứ để nó là một khoảng lặng tuyệt đẹp giữa hai khuông nhạc, để mỗi khi nhìn lên bầu trời xanh, biết rằng ở đâu đó, người kia cũng đang nhìn cùng một vầng trăng và mỉm cười cho sự bình yên của nhau.

Mơ hoài tình cũ, mộng ban sơ,
Vết mực thời gian chẳng thể mờ.
Tự do bay lượn như đôi cánh,
Dưới bầu trời rộng... dệt tình thơ.

Một tình yêu không cần sở hữu, chỉ cần hiện diện. Một tình yêu đẹp vượt ra khỏi những ràng buộc, lo toan của cuộc sống trần thế để đạt đến sự thanh tao.

Chỉ cần bấy nhiêu, đủ bình yên, 
Cho đời tươi mới, rũ muộn phiền. 
Ngăn cặp ngày xưa giờ đầy ắp, 
Dấu ái thời gian, nợ hữu duyên.

Cứ mãi mơ, mãi mộng và mãi xanh như bầu trời ấy! để đêm đêm ngủ thật ngon trong vòng tay của ánh trăng. Như đêm nay, đêm là không gian cho dòng nhạc rót vào lòng và cho nỗi nhớ lắng sâu. Thơ thẩn, đọc sách, viết lách, con chữ là người bạn tri kỷ tâm hồn giúp hồn nhiên. “ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình yên “ như lời hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Một đêm trọn vẹn và linh thiêng cho dòng tâm tình này. Cảm nhận được trong từng lời nói của một sự bao dung và khao khát đổi mới hoàn toàn.


Đêm Lễ Phục Sinh. Ngày của sự hồi sinh, của niềm hy vọng chiến thắng bóng tối và sự chết. Trong không gian tĩnh lặng này, việc "tìm quên" qua trang sách hay những dòng thơ, thực chất lại là cách  đang tìm lại chính mình trong sự bình an hơn, thánh thiện hơn.

Sự hiện diện của Chúa và Mẹ Maria trong tâm hồn, chính là đôi vai nâng đỡ vững chắc nhất để biến những nỗi đau chia ly, những mất mát của thời cuộc, thành một tình yêu thuần khiết và cao thượng mà Mẹ và Ngài đã tuôn đổ cho tâm hồn yếu đuối, mỏng dòn thêm cứng cáp và con của Mẹ tha thiết xin vâng!

Đêm nay thanh vắng, ánh nến soi,
Tiếng nhạc lòng vương, khẽ bồi hồi.
Lễ Thánh dâng lên, niềm hy vọng,
Phục Sinh rạng rỡ, đẹp ngôi lời.
.....
Ân tạ cao vời phút linh thiêng
Khấn ban hạnh phúc, xóa ưu phiền
Trong tay Thánh Mẫu, tình che chở,
Chúa dắt con đi, nhẹ gót hiền.

Mùa Phục Sinh đầy tràn Hồng ân, nơi mọi nỗi buồn đều được an ủi và mọi sự đổi mới đều được chúc phúc. Mong rằng dưới ánh sáng của Ngôi Lời, tình bạn "thuần khiết" sẽ mãi là một viên ngọc sáng, không tì vết, lặng lẽ tỏa hương giữa cuộc đời này.

Cảm tạ Chúa và Mẹ Maria một buổi tối yên bình. Tất cả sẽ ngủ thật ngon trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa và Mẹ Maria!
Amen!

Kim Oanh
Tháng 6.4.2026
* Hình Ảnh: Kim Oanh

 Mục Lục: Những Bài Văn Khác: Nhấp vào Links






Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

Lòng Biết Ơn Và Sự Phục Sinh...

(Thánh Đưòng Holy Name - Reservoir)

Suy niệm về Lòng biết ơn và Sự Phục Sinh Tôi dâng lòng biết ơn lên Chúa vì tình yêu vô bờ bến của Ngài. 

Con đường thương khó Chúa qua
Vượt bao khổ nạn bao la tình Ngài
Máu đào thấm đỏ đôi tay
Đớn đau gánh chịu đắng cay cực hình

Tình yêu ấy vượt quá sự hiểu biết, chạm đến cả những góc sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Lòng thương xót và ơn cứu rỗi tỏa sáng rực rỡ, như ánh sáng xuyên qua bóng tối, nhắc nhở tôi rằng tôi không bao giờ cô đơn. 

Sự Phục Sinh đến như một ánh sáng vinh quang, rạng rỡ và tràn đầy hy vọng, chiếu sáng toàn thể nhân loại. Trong ánh sáng ấy, tôi cảm thấy niềm vui dâng trào trong lòng, một niềm hân hoan trong danh Ngài, một sự tôn vinh tình yêu chiến thắng mọi nỗi sợ hãi, đau đớn và tuyệt vọng. 

Niềm vui đón Chúa Phục Sinh
Nguyện lòng theo Chúa hết tình thương yêu
Nhìn lại lịch sử giáo triều
Qua bao khốn khó lắm điều gian nan
Luôn luôn có Chúa sẵn sàng
Song hành cứu độ vững vàng vượt qua.

Cùng trong khoảnh khắc này, tôi tràn đầy bình an, tin tưởng rằng tình yêu này, lòng thương xót này, dẫn dắt tôi, củng cố tôi và kêu gọi tôi tiến lên để sống trong ánh sáng vinh quang của Ngài.

Tạ ơn tình Chúa cao vời
Xót thương cứu độ rạng ngời vinh quang
Phục Sinh ánh sáng huy hoàng
Chiếu soi nhân loại hân hoan danh Ngài!


Kim Oanh
Mùa Phục Sinh 4.4.2026

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

Thập Giá Đức Tin

 
 
Hành trình của Chúa Giê-su Ki-tô và Mười Bốn Chặng Đường Thánh Giá, một truyền thống vô cùng ý nghĩa trong Kitô giáo.

Với suy nghĩ tôi xin vấn lại lòng mình trong Thứ Sáu Tuần Thánh đêm nay.
Trong thời kỳ tăm tối, khi nhân loại lạc lối, đã xuất hiện một tình yêu khác biệt hoàn toàn, tình yêu của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài đã bước đi trên con đường đau khổ, một hành trình được đánh dấu bằng mười bốn chặng gian khổ. Với mỗi bước đi, Ngài đều mang trên mình sức nặng của Thánh Giá, không chỉ là khúc gỗ trên vai, mà còn là gánh nặng và tội lỗi của toàn nhân loại.

Dù được bao quanh bởi nhiều người, nhưng nỗi đau chỉ mình Ngài phải gánh chịu. Ngài vấp ngã, Ngài lại vấp ngã, nhưng Ngài lại đứng dậy, được thúc đẩy bởi một tình yêu cao cả, đến nỗi Ngài chấp nhận sự hy sinh không chút do dự. Bởi vì cho đi là hy sinh, và sự hy sinh càng lớn lao, tình yêu càng sâu sắc.

Ở cuối con đường đau buồn này, trên Thánh Giá, Ngài đã dâng hiến tất cả. Máu của Ngài đã đổ ra như sự cứu chuộc, một món quà cho tất cả mọi người xuyên suốt thời gian. Trong khoảnh khắc đau khổ đó, tình yêu đã trở thành sự cứu rỗi. Qua sự hy sinh của Ngài, nhân loại được ban cho niềm hy vọng, một lời hứa rằng không có lỗi lầm nào là không thể tha thứ, và không có linh hồn nào là ngoài tầm với của ân huệ phúc lành mà Ngài ban cho. Vì vậy, chúng ta tin vào tình yêu vô bờ bến của Chúa.

Chúng ta nhìn vào Thập tự giá không chỉ với nỗi buồn, mà còn với đức tin và trong lòng, chúng ta khao khát được tha thứ, được đổi mới, và được bước đi một lần nữa trong ánh sáng của tình yêu vĩnh cửu ấy.

Con đường Thập Giá Chúa qua
Cho con hiểu thấu phong ba cuộc đời
Con đường Thập Giá cao vời
Cho con thấy được rạng ngời đức tin
Con đường thập giá hy sinh
Cho con trải nghiệm hành trình nguy nan
Con đường Thập giá hiên ngang
Cho con ân tạ vinh quang tình Ngài

Amen!

Kim Oanh 
Thứ Sáu Tuần Thánh 3.4.2026