Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bách Hợp Cài Áo


(Trưởng Hướng Đạo Trịnh Mỹ Phương (Phượng Hoàng Nhiệt Thành) phóng tác theo nhạc phẩm “ Bông Hồng Cài Áo"- Ý Thơ: Thầy Nhất Hạnh - Nhạc: Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ - Hát: Trần Đình Phước.)

Tháng Bảy, năm 2008.Tôi về Sài Gòn thăm mẹ tôi đang bệnh nặng. Lần này, tôi cố gắng dành thời giờ đi thăm Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ. Ông là một nhạc sĩ mà tôi ngưỡng mộ qua các bài hát do ông sáng tác như :Bóng Mát, Đan Áo Mùa Xuân, Nắng Lên Xóm Nghèo, Những Ngày Xưa Thân Ái, Tóc mây, Trăng Tàn Bên Hè Phố…Đặc biệt, một bài hát về Mẹ phỏng theo ý thơ của Thầy Nhất Hạnh. Đó là nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo.”

Tôi chưa lần nào gặp mặt Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ mà chỉ được nghe tên ông thôi! Phải mất hơn hai ngày tôi mới tìm ra nơi trú ngụ của ông, sau khi đã thăm hỏi nhiều nơi. Đó là một căn phòng nhỏ, nằm trên lầu một, phòng P-11, thuộc Cư Xá Vĩnh Hội - Quận Tư.

Nhìn ông nằm trên giường bệnh, dáng điệu uể oải, mệt mỏi. Tôi thấy xót xa vô cùng. Tôi hỏi thăm cô giáo Trần Thị Lý, là vợ nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ nguyên nhân nào đã khiến ông bị như thế! Cô cho biết là nhạc sĩ bị Stroke tất cả ba lần. Từ đó một phần cơ thể bị liệt. Ông nằm một chỗ đã lâu rồi, việc chữa trị rất khó khăn và vô cùng tốn kém.

Sau đó, tôi trình bày với cô Lý. Có một Nữ Trưởng Hướng Đạo Việt Nam tên Trịnh Mỹ Phương đang sinh hoạt Hướng Đạo ở San José, California đã dùng nhạc của bài “Bông Hồng Cài Áo” để phóng tác thành“Bách Hợp Cài Áo.”

Trưởng Mỹ Phương đã lấy các điều luật và lời hứa của Hướng Đạo đem vào trong bài hát này. Mục đích là nhắc nhở anh chị em Hướng Đạo phải luôn luôn áp dụng đúng luật và lời hứa của Hướng Đạo trong tất cả các sinh hoạt. Ngoài ra cũng để kính tặng các Trưởng Hướng Đạo lớn tuổi đã có công đóng góp và hy sinh cho phong trào Hướng Đạo Việt Nam. Đặc biệt, kinh tặng đến hai trưởng kỳ cựu của phong trào là Mai Ngọc Liệu và Trần Bạch Bích.

Tôi xin Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ ký trên bài hát “Bách Hợp Cài Áo” để làm kỷ niệm. Cô Lý cho biết hai tay của nhạc sĩ bị liệt, nên không thể ký được. Vì thế cô mạn phép ký thay trước mặt Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ với hàng chữ:

"Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ đồng ý cho sử dụng trong sinh hoạt Hướng Đạo

Tôi cảm ơn cô Lý và chào từ giã Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ. Trước khi ra về. Tôi xin được chụp hình kỷ niệm với Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ và được sự đồng ý của cô Lý, mà chuyện này cô cho biết chưa bao giờ xảy ra. Vài tháng sau thì được tin Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ mất. Ông mất ngày 16 tháng 01, năm 2009. Tôi đã gửi lời chia buồn đến Cô Trần Thị Lý và tang quyến.

Trần Đình Phước
(San Joses - California)

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Tách Cà Phê Cạn! Nhưng....

( Một sáng Melbourne)

Một sáng cuối đông, bên góc nhỏ quán xưa ngày nào, cả hai riú ra riú rít nói chuyện trên trời dưới đất. Có lúc chỉ lặng im để dòng nhạc thay lời muốn nói.Thế mà cũng có lúc cà phê một mình. Để gọi thầm...

Thời gian ơi hãy trở về đây
Để nghe nhịp đập nhớ đong đầy
Nâng niu khoảnh khắc ngày xưa ấy
Ôm trọn vào lòng chất ngất say!

Thật là một khát vọng mãnh liệt! Lòng kêu gọi Thời gian ơi hỡi trở về đây  không còn là sự hối tiếc yếu đuối nữa, mà là một lời tuyên ngôn của tình yêu trong cuộc sống. Muốn được sống lại, không phải để sửa chữa sai lầm, mà để nâng niu và tô đẹp thêm từng khoảnh khắc bằng tất cả sự chín chắn của tâm hồn hiện tại.
Nếu ngày xưa ta sống bằng bản năng của tuổi hoa ngây dại, thì nay, với mái đầu bạc đầy trải nghiệm, ta lại muốn ôm trọn thời gian vào lòng với một sự chất ngất sâu sắc hơn.


Sự giao nhau giữa thời gian đã qua và lòng nhiệt huyết đã tạo nên một sức sống mới. Khi ta biết trân trọng thực tại bằng cách trân trọng cả quá khứ, thì thời gian thực sự đã trở về trong tâm khảm của ta rồi.
Cảm ơn ai đã cho tôi thấy một góc nhìn đầy bản lĩnh, thay vì sợ hãi thời gian, tôi chọn cách ôm trọn nó. Đó chính là sự tự do, tự tại lớn nhất của một tâm hồn đã đi qua bao thăng trầm trong cuôc đời.

Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Chẳng để tình xưa phải không tên.
Ta gom nắng ấm, tô màu nhớ,
Dựng lại tình yêu thật vững bền.

Dẫu là khoảnh khắc thật mong manh,
Cũng hóa bài thơ ước mộng xanh. 
Bởi tâm ta đã thầm tâm niệm
Yêu cả nỗi đau, bước song hành

Một tách cà phê, một cơn mưa đông, nhạc nhè nhẹ và cảm xúc thành thơ... tất cả đã tạo nên một buổi sáng nơi này cùng buổi tối nơi kia.Thật sự tĩnh lặng và đầy xúc cảm. Cảm ơn ai đã để tôi được cùng lạc vào bến mê của những ngày xưa cũ ấy.

Thắp lên tia sáng bình minh
Pha thêm tuổi mộng lung linh gọi ngày
Ly cà phê đắng sáng nay
Dường như dư vị hương bay thơm nồng

(Hình Ảnh: Kim Oanh)

"Tách cà phê đã cạn, nhưng con tim không bao giờ cạn.",trái tim lắng xuống đáy tách, hình ảnh trước mắt cũng chính là hình ảnh biểu tượng nhất cho hành trình tâm tưởng mà ta đã đi cùng nhau. Tách cà phê dù nóng hay nguội rồi cũng sẽ vơi, thời gian dù nhanh hay chậm rồi cũng sẽ trôi, nhưng nguồn nhựa sống, tình yêu thương và những ký ức trân quý trong lòng thì vẫn luôn tràn đầy, không bao giờ cạn. Chính cái "không bao giờ cạn" đó đã giúp ta biến sự hối tiếc thành ân sủng, biến nỗi đau thành lòng biết ơn. biến cái lạnh mùa đông thành mùi hương nhớ. Và biến mái đầu bạc thành một trái tim son thấm đậm nồng nàn..

Cảm ơn ai đã cùng uống chung tách cà phê tâm hồn này. Một tách cà phê có vị đắng của quá khứ, vị nồng của tình người và hậu vị ngọt ngào của sự bình an.
Mong trái tim "không bao giờ cạn"  luôn rực cháy ngọn lửa yêu đời và hy vọng. Ngủ thật ngon người nhé, trong sự bao bọc của những kỷ niệm đẹp và tình yêu thương vô tận! 

Tiếng lòng tựa như một nốt nhạc trầm xao xuyến, khép lại bản giao hưởng ký ức của hôm nay bằng một sự dịu dàng đến nao lòng, những gì không nguyên vẹn, cho dù thời gian có thay đổi nẻo đường xưa, thì tâm hồn đã là tri kỷ trong nhau. Vẫn ân cần, tỉ mỉ dùng những sợi tơ kỷ niệm để khâu lành lại tất cả.

Vá vội thời gian giữ vẹn nguyên
Tâm hồn tri kỷ đẹp tinh tuyền
Đêm ngày nỗi nhớ hiệp duyên
Ngàn năm sau nữa hương nguyền chẳng phai

Kim Oanh
Một ngày cuối Đông. 2026



Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Ngày Của Ba! (Father's Day2026)

 
Thắp lên ánh sáng đầu ngày
Mùa Xuân hoa nở vươn vai đón mừng
Lòng con rộn rã tự dưng...
Ngày 6 tháng 9  kính dâng món quà
Father's Day đến mời Ba
Tách cà phê nóng thiết tha ấm nồng
Ngạt ngào hương đượm ngọt lòng
Con quen mùi nhớ Ba bồng trên tay
Sao quên hạnh phúc mỗi ngày
Cùng Ba nhấp nháp tràn đầy niềm vui
Thương yêu chẳng phút nào nguôi
Nhìn Ba tâm đắc nụ cười vui say...

 Có phải vậy không Ba của con ơi!


Happy Father's Day 6.9.2026
Kim Oanh
Con gái 9 của Ba

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Đẹp Sao!

  

Tình Cha nghĩa Mẹ đẹp sao
Mẹ thao thức hát ca dao canh tàn
Gian lao khổ nhọc Cha mang
Mong con hạnh phúc vô vàn giấc say!
Vu Lan con có từng ngày
Công ơn dưỡng dục con hoài khắc tâm
Nguyện cầu theo nến hương trầm
Lời con tha thiết thì thầm đêm nay!

Kim Oanh
Vu Lan 2026

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Mưa Ngâu Nhớ Người...

 

Từng giọt mưa dâng theo dòng chảy
Tìm đến người tháng Bảy mưa Ngâu
Lóng ngóng chờ đợi canh thâu
Để cho Chức Nữ lệ châu ngắn dài

Đã một thời luyến thương bỏng cháy
Lời cui cùng vẫn mãi yêu ai
Sông Ngân bắt lỡ nhịp sai
Chàng Ngưu chấp chới với tay nghìn trùng

Cầu Ô bắt lại nhịp tương phùng
Ngưu Chức hẹn thề mộng tình chung
Đôi tim lạc lối mê cung
Hai đầu nỗi nhớ gánh cùng nỗi đau...

Kim Oanh
Mùa Ngâu 2026

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Một Thời Khai Phá - Huy Văn (Sóc Nhanh Nhẹn)

 
( Từ Internet)

(Thân ái gởi quý Trưởng/ Đạo Bình Than - Sài Gòn...)

“ …Lúc này tôi có nhiều thì giờ để chơi hơn để làm. Nhờ vậy mới có dịp gõ cho nhau vài dòng để hàn huyên. Thì giờ là tiền bạc! Câu này đã không còn ứng dụng vào trường hợp của tôi nữa rồi. Thì giờ của tôi dạo này được dành cho việc trau dồi trí nhớ. Nói thì nghe “ khoa học thực dụng “ lắm, nhưng thực tế chỉ là cơ hội cho mình nhớ về quá khứ vàng son. Nhớ về những kỷ niệm, những vui buồn, những mẫu chuyện khó quên của thời hoa niên đầy sinh động…

Trong những lần tư lự như vậy, tôi nghĩ thật nhiều và thật rõ, về bước chân khai phá, về thời hướng đạo huy hoàng nhưng ngắn ngủi của bọn mình. Nghĩ ngợi nhiều nên cũng buồn không kém. Một nỗi buồn không tên, xa vắng và lãng đãng thật lạ lùng. Không ai bắt mình nhớ. Nhưng quá khứ cứ như là một khúc phim thật dịu dàng làm mình ấm lòng mỗi khi ngồi nhớ lại...

...Mùa hè Sài Gòn, màu nắng Vũng Tàu, mưa chiều Thủ Đức, ngôi nhà kiêm Đạo Quán Bình Than của anh Toản (*), những đêm nhạc trong trại “Giữ Vững” 1970 ở Suối Tiên (**) và nhứt là những ngày Mậu Thân thảng thốt; ngày mà đám Kha Sinh tụi mình không cần 'khai phá' cũng biết phải làm gì, khi đi công tác tải thương cho các đơn vị của Quân Đội trong Chợ Lớn, tại Đồng Ông Cộ và Bình Triệu; hoặc quán xuyến Trại Tạm Cư Đinh Tiên Hoàng bên Dakao và xây cất lại nhà cửa cho đồng bào nạn nhân chiến cuộc năm Mậu Thân. Có thể nói, những ngày đó chính là khoảng thời gian mang dấu ấn trưởng thành về mọi mặt của bọn mình!

Hướng Đạo! Âm thanh nghe ấm lòng làm sao phải không bạn hiền?! Hướng Đạo! Đuốc sáng soi đường cho Kha Sinh tụi mình vượt gian khó để vào đời và…nhập cuộc. Hướng Đạo! Liều thuốc an thần đủ mạnh để trấn an tôi khi bước chân vào cổng Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Hướng Đạo! Hành trang đầu đời giúp tôi vững tiến trong lúc tinh thần dao động đến tột cùng. Nhứt là khi đứng trước lằn tên, mũi đạn ngoài chiến trận...

...Mấy dòng điện thư này là để bạn hiền hiểu được phần nào sự trân trọng của tôi dành cho tình bạn của tụi mình TRONG TINH THẦN HƯỚNG ĐẠO, đồng thời cũng là mở đầu cho cơ hội ôn cố tri tân với nhau khi có dịp hay có thì giờ như hôm nay…”

Mấy dòng thư của anh bạn Nguyễn Tấn Quang (***) làm tôi bồi hồi nhớ lại quãng đời thật vui tươi và thật đẹp của thời Khai Phá trong môi trường Hướng Đạo. Chỉ với vài hàng thôi, anh đã đưa tôi về thế giới thật hồn nhiên của thời mới lớn và cũng đã làm tôi nhớ vô vàn về những kỷ niệm đã có với nhau, cũng như với một số bạn khác, nhứt là khi tham dự Trại Giữ Vững ở Suối Tiên cuối năm 1970.

Hướng Đạo! Khung trời “Khai Phá“ có lúc đã làm nhức đầu các Trưởng vì sự hăm hở của tuổi mới lớn. Một trong những hình ảnh dễ thương, nhưng cũng khá bốc đồng của tuổi trẻ “Khai Phá“ mà anh bạn thân và tôi đã góp mặt tham gia. Đó là lúc chúng tôi cùng với Tuần Kha Đinh Bộ Lĩnh / Kha Đoàn Chương Dương, thoải mái khoe quần Jean ( đa số là hàng nội hóa, mua ở Khu Dân Sinh ) khi quây quần sinh hoạt trong Tao Đàn, hoặc khuôn viên các trường Đại Học Sư Phạm, Kỹ Thuật Phú Thọ những tối Thứ Bảy, hay ngày Chúa Nhựt đẹp trời của Sài Gòn, trong khi “bà con“ Kha Sinh vẫn còn chung thủy với quần sọt ( short ) truyền thống.

Hướng Đạo! Ánh sáng của niềm tin vững vàng, đã giúp tôi vượt qua những mặc cảm cá nhân, những ưu tư và lo lắng tất yếu của những ngày chao đảo trong đời quân ngũ. Không thể quên được ánh mắt ngạc nhiên, nghi ngại rồi sau đó là hài lòng, pha lẫn chút khâm phục của vị Đại Úy Đại Đội Trưởng Khóa Sinh đã bộc lộ khi bạn rừng Lâm Hoài Nam và tôi từ Trung Đội 1 và 3 tình nguyện qua Trung Đội 4 ( Tr/Đ súng nặng ) vác đạn, chỉ để có dịp sinh hoạt chung với những bạn rừng khác, lúc còn trong Quân Trường Đồng Đế.

Càng không thể quên được những buồn lo cùng cực của thời chinh chiến rồi sau đó là năm tháng nhọc nhằn của lúc sa cơ, cải tạo. Ánh sáng, dù đôi khi rất le lói của thời Sắp Sẵn vẫn đủ để tôi bình định Tâm/Thần mà tự thắng để vượt thắng hoàn cảnh.

Hướng Đạo! Con đường thênh thang đã đưa tôi đến một chân trời đầy ắp tình thân giữa Người và Người, khởi đầu bằng những sinh hoạt nội bộ với các bạn Kha Sinh đồng trang lứa. Mỗi tuần chỉ gặp nhau một lần, nhưng là một lần thăng tiến về nhiều mặt.

Hướng Đạo! Ngọn lửa Khai Phá ngày nào vẫn âm ĩ cháy trong tôi. Hành trang hơn nửa đời người; vẫn làm tôi vô cùng hạnh phúc khi đắm chìm trong hoài niệm khi có dịp được đọc, hay nghe những câu chuyện xưa, từ nguồn bạn rừng thân ái nhứt hay qua những phương tiện thông tin khác.

Một thời Khai Phá! Một đời Hướng Đạo. Hành Trang để đời với cả một khung trời kỷ niệm. Một hăm hở rất “hồn nhiên“. Một hạnh phúc nhẹ nhàng nhưng rất sâu lắng khi nghe ai đó nói, hay nhắc tới những sinh hoạt “Tùng Nguyên“ cho tôi dù đã không có cơ hội Hợp Đoàn và về Rừng từ gần 60 năm qua!

Huy Văn (Sóc Nhanh Nhẹn)

(...Để nhớ Tuần Kha Đinh Bộ Lĩnh, Kha Đoàn Chương Dương, Đạo Bình Than. )

(*) Đạo Trưởng Hoàng Luyện Huỳnh Hữu Duy Toản QGHC. Lìa Rừng ( RIP ) năm 2016.
(**) Quán Cà Phê có nhạc sống và đêm biểu diễn của ban Văn Nghệ Đạo Bình Than tại Trại Họp Bạn Toàn Quốc/ Suối Tiên ( Tháng 12/1970 )
(***) Nguyễn Tấn Quang, RIP. Trung Đội Trưởng Viễn Thám, ĐĐ Trinh Sát/ LĐ5 BĐQ

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

Xin Ơn Bền Đỗ (Kim Oanh) - Nguyện Về Bến Đỗ (Vô Nhiễm)



Xin Ơn Bền Đỗ

(Tưởng nhớ 10 năm anh Bảy Hiệp ra đi)

Anh nằm xuống ngày hè oi ả
Sao trong em lã chã lạnh căm
Anh nằm xuống trong cảnh âm thầm
Có nghe những thanh âm em khóc

Anh vội đi không thơ người đọc
Kể chuyện đời lăn lóc ngược xuôi
Những buồn vui Pleiku Phố Núi
Để ngậm ngùi nhớ mãi khôn nguôi

Từ vắng anh đêm dài thui thủi
Vườn thơ xanh đóng cửa than ôi!
Trang giấy mở ngậm ngùi chờ đợi
Ký ức buồn khép lại niềm vui.

Thôi anh nhé yên chốn thiên đình
Nguyện cầu Chúa rủ tình thương xót
Anh vui sống trong ơn bền đỗ
Hạnh phúc liên ngày giỗ 10 năm.
Amen!

9 Kim Oanh
11/8/2016 -11/8/2026
***
Cảm Tác:

Nguyện Về Bến Đỗ 


Anh ra đi bình an êm ả
Hạ nắng nồng tim em buốt căm
Anh ra đi gió nhủ thì thầm
Thôi nín đi em ơi đừng khóc
... ... ... ...

Nguyện cầu Anh về nơi thánh đình
Hồn tịnh lặng không còn đau xót.
Mãi vững tin Chúa là Bến đỗ 
Chốn an yên nghỉ giấc ngàn năm


R.I.P. Amen Alléluia!

Vô Nhiễm
(Chevry 15 tháng 8, 2026)

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 Sau Tết Mậu Thân




Công tác quân y dân sự vụ trong Chợ Lớn-

Đốp Đốp Đốp Đốp.... Tiếng nổ chát chúa của một tràng đạn AK, nghe gần như sát bên tai, vang trong đêm ba mươi Tết Năm Mậu Thân 1968, làm tôi giật mình tỉnh dậy trong hoảng hốt. Một câu hỏi chợt thoáng qua trong đầu óc tôi là tại sao tôi cư ngụ trong một con đường hẻm cụt hình chữ T ở cuối đường Tự Đức Dakao, gồm 14 căn hộ của 14 gia đình quân nhân và công chức trung lưu hầu hết là người miền Nam tôi quen biết hết, mà lại có tiếng súng Việt Cộng trong đêm ba mươi rạng ngày mồng một Tết này?. Cha mẹ cùng mấy em tôi cũng đều đã thức dậy cả, không ai dám bật đèn cũng như không ai dám nói năng ho hen gì để còn nghe động tĩnh. Hé nhìn ra đầu hẻm tôi thấy chùm ba ngọn đèn néon thắp sáng cho đường hẻm lúc ban đêm đã bị bắn bể: đường hẻm tối om như mực, đúng như lời ví von dân gian là trời tối như đêm ba mươi. Xa xa tiếng súng nổ liên hồi vẫn vang vọng lại. Cha tôi vội mở radio để nghe tin tức thì được biết là Việt Cộng tổng tấn công nhiều cơ sở trong vùng Saigon Chợ Lớn cũng như trong nhiều thành phố lớn khác trên toàn miền Nam! Tới sáng tin đài cho biết thêm là đêm qua tại Saigon Chợ Lớn, đặc công VC đã tấn công vào vài cơ quan công quyền của chính quyền VNCH, trong đó có đài phát thanh Saigon tọa lạc trên góc đường Phan đình Phùng và Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách nhà tôi có một block. Lúc đó tôi mới suy diễn ra là sau khi tấn công đài phát thanh bị thất bại, mấy tên VC sống sót đã tìm đường tẩu thoát về phía Thi Nghè để rồi lẩn qua khu Hàng Xanh rồi Đồng Ông Cộ trên đường rút lui khỏi thành phố. Một hai tên, tôi chỉ đoán chừng, đã đi lạc vào đường hẻm nhà tôi. Về sau tôi nghe dân phố ở cuối đường đồn là mấy tên VC này, tuổi chỉ độ chừng mười bốn mười lăm, đã bị toán cảnh sát quốc gia do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Cảnh sát Đô Thành, đang trấn đóng ở cuối đường Tự Đức trên bờ Kinh Nhiêu Lộc (Thị Nghè), bắt giữ hay hạ sát.


Sáng mồng một Tết, sau khi nghe đài phát thanh công bố là tình hình nội thành Saigon Chợ Lớn đã ổn định, quân đội VNCH và lực lượng Cảnh sát Đô Thành đã làm chủ tình hình, tôi trở vào tàu Y Tế Hạm HQ 400 đang đậu tại cầu C trong Hải Quân Công Xưởng ( Sở Ba Soong ). Khi đi ngang qua tòa đại sứ Hoa Kỳ ở góc đại lộ Thống Nhất và đường Mạc Đĩnh Chi, tôi thấy một lỗ hổng trên tường rào của tòa đại sứ, gần sát mặt đất, độ lớn có thể để cho một người nhỏ con khom lưng bò qua được. Một chiếc taxi hai mầu vàng xanh hiệu Renault còn thấy đậu trên đại lộ Thống Nhất, xeo xéo cửa chính của tòa đại sứ. Hạm trưởng Tài đã hiện diện trên Y Tế Hạm từ sáng sớm, báo cho tôi biết là ngày mai ( tức mồng hai Tết ) toán Quân Y của HQ 400 được Bộ Tư Lệnh Hải Quân chỉ định qua công tác Quân Y Dân sự Vụ tại vùng Bình Đông Cholon, cùng với toán Quân Y của Y Tế Hạm HQ Hàn Giang 401 mà hạm trưởng là HQ Đại uý Nguyễn văn Pháp và Y sĩ trưởng là bác sĩ Trịnh, cùng Nha sĩ trung úy Đỗ Hùng Phi, công tác tại khu vực bến Phạm Thế Hiển.

Sáng sớm ngày hôm sau toán quân y chúng tôi gồm 15 người đã tề tựu sẵn sàng tại cầu tàu C trong Hải Quân Công Xưởng để chờ xe tới đón đi công tác. Hạm trưởng Tài, như thường lệ, không quên tăng phái hai nhân viên ngành trọng pháo của chiến hạm đi cùng chúng tôi để lo việc an ninh trật tự tại địa điểm công tác. Đúng 8 giờ sáng hai xe GMC tới chở chúng tôi, cùng với hai xe jeep chở Người Nhái HQ đi hộ tống, một xe có trang bị thêm súng trung liên M60. Xe chở chúng tôi đến Bình Đông đi qua ngả Cầu Chữ Y , bến Phạm Thế Hiển. Nhà cửa trong khu Bến Phạm Thế Hiển bị đổ nát khá nhiều do bom đạn của cả hai bên. Càng tới gần khu vực Bình Đông thì sự đổ nát càng gia tăng nhiều, có nơi còn bị cháy rụi đen thui!. Nhiều bà con phải dựng lều ở tạm trên nền đất nhà cũ của mình !.

Như đã được Ban Tâm lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ thông báo trước , nên khi chúng tôi đến Bình Đông đặt chỗ khám bệnh phát thuốc trong một trường tiểu học của khu vực , đồng bào đã đến tề tựu đông đúc, nhiều nhất là trẻ em đủ mọi lứa tuổi.

Hầu hết người lớn và trẻ em ai cũng mặc quần áo mới: có lẽ là ngày Tết Nguyên Đán. Các trẻ em đi theo với người lớn. Có cháu còn cõng cả em nhỏ sau lưng. Các em nhốn nháo kháo nhau:" Có cả nhổ răng nữa bay ơi ", " Ông này chắc nhổ răng không đau ", “mày vô trước đi”...v.v....Ngày Tết mà bà con cũng không ai sợ bị "giông " (sui) vì đầu năm đã đi khám bệnh, nhổ răng, do đó bệnh nhân khá nhiều, đặc biệt nha sĩ Đạt rất đông thân chủ!. Trong thời gian khám bệnh, đôi lúc tôi nhìn ra đường, thấy hai xe jeep hộ tống của người Nhái HQ vẫn túc trực ở phía trước cổng trường. Xa xa nghe tiếng kèn đám ma vẳng lại: hỏi ra thì được biết là trong xóm có người bị chết vì đạn lạc! Tôi cảm thấy buồn ngao ngán và lại thấy căm ghét Cộng Sản vì chúng đã tàn ác, tán tận lương tâm....gây đau khổ tang tóc cho đồng bào trong ngày Tết Nguyên Đán, một ngày truyền thống linh thiêng của dân tộc, ngày để bà con có dịp nghỉ ngơi quây quần đoàn tụ nhớ đến công ơn của các bậc tiền bối sau một năm làm việc mệt nhọc vất vả ...Vậy mà bọn Việt Cộng, hiếu chiến, ngu đần mù quáng nghe theo lệnh Nga Tầu,... vẫn ba hoa lẻo mép là chúng mang lại độc lập tự do ấm no hạnh phúc cho đồng bào ; cũng vẫn dụ dỗ được một số người nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền xảo trá và tin theo chúng!!!. Còn buồn hơn nữa là buổi chiều trở về sau khi hết công tác tại Bình Đông, tôi thấy thiếu một xe jeep của người Nhái HQ, chiếc xe có gắn khẩu trung liên M60. Hỏi ra thì được biết là chiếc xe đó trong lúc đi tuần tra quanh vùng Bình Đông Xóm Củi đã bị cháy rụi vì trúng đạn B40 của VC!! Lại thêm tang tóc đau thương cho gia đình mấy chiến sĩ anh hùng của Hải Quân VNCH đã vì nhiệm vụ diệt Cộng cao cả để bảo vệ đồng bào mà không được hưởng trọn mấy ngày Tết!. Rồi còn gia đình, thân nhân của mấy lính Việt Cộng, nạn nhân của những tên lãnh đạo VC bần cố nông không tưởng, hèn hạ, quỷ quyệt..: Có ai vui sướng gì đâu khi con em họ bị bắt đi làm vật hy sinh cho âm mưu xâm lăng thâm độc của bọn Cộng Sản Nga Tầu và bọn đầy tớ tay sai VC để gây ra cảnh huynh đệ tương tàn nồi da xáo thịt!!?

Trở về lại tàu, sau khi báo cáo tình hình và kết quả của công tác tại Bình Đông, tôi được hạm trưởng Tài cho biết tin là công tác Quân Y Dân Sự Vụ tại Saigon Cholon đã chấm dứt, và tàu có năm ngày để sửa soạn trang bị tiếp liệu…cho chuyến công tác cứu trợ dài ngày tại miền Trung.

Trong dịp Tết Mậu Thân, HQ 400 đang nghỉ bến tại Saigon.

Thường thường Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 sau khi đi công tác Quân Y Dân sự vụ trong hai hay ba tuần lễ tại các vùng sông ngòi, hải đảo xa xôi từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, Phú Quốc.., thì lại được về nghỉ bến trong hai hay ba tuần để tu bổ sửa chữa và lo trang bị tiếp liệu...cho chuyến công tác tiếp. Hạm trưởng Tài điều hành mọi sinh hoạt trên HQ 400, còn tôi đảm trách mọi dịch vụ liên quan đến Quân Y.

Hạm trưởng Đoàn Danh Tài, cấp bậc đại úy lúc đó, xuất thân khóa 7 trường Sĩ quan Hải Quân Nha Trang, được thuyên chuyển về HQ 400 hồi tháng 5 năm 1966 thay thế HQ thiếu tá Vũ Tường Thụy khóa 5 giải ngũ. Sau đó ông mang tàu đi Guam đại kỳ (tu bổ, sửa chữa, đặc biệt hoàn chỉnh trang thiết bị quân y cho Y Tế Hạm HQ 400) và trở về Saigon đầu năm 1967. Ông, vóc người trung bình, là một sĩ quan năng động, lanh lợi, nguyên tắc, nói năng hoạt bát, Anh Văn lưu loát, làm việc có tổ chức, và đặc biệt rất lo lắng cho đơn vị cũng như cho nhân viên. Ông thường khoe với tôi “ bác sĩ biết không: hồi mang tàu đi đại kỳ ở Guam, trước khi về tôi có xin Hoa Kỳ cho full supplies về thực phẩm, để khi về VN, lúc đi công tác, mình có cái gì để tăng cường khẩu phần ăn cho nhân viên”. Mà đúng vậy: khi tàu HQ 400 đi đại kỳ về , lúc đó tôi mới được chuyển từ Bộ binh về Hải Quân và đang làm y sĩ điều trị tại bệnh xá Bạch Đằng (chưa được cải danh là Bệnh viện ), tôi được lệnh thuyên chuyển xuống tàu. Tôi nhớ trong những ngày đi công tác hồi đó, phần ăn của chúng tôi thường có thêm hotdogs, thịt hộp SPAM..., và nước ngọt soda TANG, nước cà chua tomato juice…. Riêng tôi rất thích nước cà chua hộp nên uống nhiều vì nghĩ rằng nước này giàu sinh tố, nhất là sinh tố A, sẽ giúp cho mắt sáng hơn. Thế nhưng kết quả là mắt tôi “chẳng sáng ra “gì cả vì ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi đã không chạy trốn VC mà ở lại VN để rồi bị bắt đi tù cải tạo ba năm trong nhiều trại tập trung khác nhau, để cùng với các đồng bạn quân nhân QLVNCH khác phải trải qua biết bao nhiêu gian nguy,cực khổ, cũng như chứng kiến, chịu đựng nhiều điều nghịch lý chướng tai gai mắt, ngu xuẩn của bọn cán ngố VC răng đen mã tấu vô học.......!! Nói như vậy kể cũng hơi vơ đũa cả nắm vì thật ra trong số những cán bộ miền Nam tập kết về cũng còn có một số ít người biết điều, thông cảm, dễ thương. Có lẽ những người hiếm hoi này chưa bị bọn CS Bắc Việt tuyên truyền tẩy não tới mức, hoặc giả họ còn giữ được lương tri “ tính bản thiện “của một người Việt Nam chưa bị nhiễm độc Cộng Sản.

Nói về những chuyện chướng tai gai mắt đáng buồn hay tức cười do bọn cán ngố CS gây ra trong thời gian chúng tôi bị đi tù cải tạo tập trung thì nhiều lắm: nếu viết hết ra thì cũng phải tốn ít nhất đến vài trăm trang sách ; nhưng tôi thì không có khả năng làm công việc đó. Vả lại tôi biết có rất nhiều văn sĩ hay cải tạo viên tài ba đã viết nhiều bút ký, hồi ký về tù cải tạo rồi. Ở đây tôi chỉ xin đơn cử một vài trường hợp mà chính bản thân tôi đã được chứng kiến. Hôm đó chúng tôi được chỉ thị là phải lên hội trường tập họp sớm hơn sau các công việc thường lệ của mỗi ngày là buổi sáng thức dậy lúc sáu giờ theo kẻng đánh thức, ra sân tập thể dục tập thể, đi lao động buổi sáng khoảng bốn mươi phút, về lãnh cơm, ăn sáng ( cũng là bữa trưa luôn ).... rồi lên lớp học chính trị. Khoảng chín giờ, sau khi cải tạo viên chúng tôi gồm hai trăm năm chục sĩ quan cấp tá QLVNCH đã tề tựu đông đủ tại hội trường, thì tên đại úy cán bộ quản giáo của trại đi với một người đàn ông trung niên thấp, không đen đủi lắm, mặc thường phục với nét mặt đặc biệt VC, cùng bước vào phòng tiến về phía bục giảng đã kê sẵn một bàn gỗ và một ghế ngồi. Sau khi giới thiệu người khách mới, tên đại úy yêu cầu chúng tôi đứng dậy hướng về phía tường trước mặt trên đó có treo hình Hồ Chí Minh, để “tưởng nhớ tới Bác Hồ kính yêu (sic)”. Bỗng nhiên tên đại úy chỉ tay về phía tôi và nói lớn:” Anh kia bỏ kính ra”. Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba, đang ngỡ ngàng chưa biết hắn chỉ ai thì hắn nói tiếp:” Cái anh đeo kính trắng gọng đen kia bỏ kính ra”. “ Các anh không có nghiêm túc gì cả: lúc cung kính Bác thì không ai được đeo kính”. Tôi bèn bỏ kính ra vì biết là hắn nói tôi. Cho đến tận bây giờ tôi cũng vẫn không hiểu là hắn nghĩ gì mà lại bắt những người cận thị không được đeo kính cận khi mặc niệm “ Bác” của hắn!. Sau phút mặc niệm chúng tôi ngồi xuống và tên đại úy cũng lấy một ghế ngồi ở góc phòng phía cửa ra vào nhìn về phía chúng tôi ( để theo dõi?).

Với nét mặt trang nghiêm trịnh trọng, người khách mới ( giảng viên ) bắt đầu lên tiếng :” Hôm “lay” tôi được cấp trên phái tới đây để “ lói “ chuyện với các anh về đề tài “Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt và yêu lước nà yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”. Giảng viên nói thao thao bất tuyệt như trả bài học thuộc lòng, với những sáo ngữ dao to búa lớn rỗng tuếch ca ngợi chế độ XHCN và những lý luận kiểu con chó phải ăn c...mà chúng ta ai cũng đã biết hết. Để dẫn chứng rằng chế độ XHCN là ưu việt, giảng viên nói chuyện bên Liên Xô, bên các nước XHCN anh em ở Đông Âu...cho chúng tôi nghe.
- Các anh biết không? Bên Niên Xô bây giờ người ta không uống bia đựng trong chai lữa, mà bia được dẫn tới mỗi nhà bằng ống như ống lước, núc muốn chĩ cần mở vòi ra nà có bia uống ngay ...( sic )!!
- Hiện lay bên Hung Ga Ri người công nhân mỗi lăm chỉ đi nao động có sáu tháng, còn sáu tháng kia nà để đi chơi. Mỗi nhà có hai xe hơi: một xe để đi nàm và một xe để đi chơi...( sic ) !!
- Mai mốt khi ta tiến nên Công Sản Chủ Nghĩa thì núc đó mọi người sẽ nàm theo lăng nực hưởng theo nhu cầu. Ví dụ mỗi ngày tiêu chuẩn thịt của anh nà lửa kí nô, nếu anh không ăn hết thì chỉ cho chó ăn thôi vì mọi người ai cũng có tiêu chuẩn cả rồi ( sic ) !!

Và còn nhiều nữa... và nhiều nữa....Ôi! Chuyên dài XHCN ấy mà!! Nói chuyện về Cộng Sản thì chẳng biết bao giờ hết chuyện; chỉ sợ là sẽ làm quý bạn nổi cơn dị ứng cấp tính hoặc đứt gân máu thì nguy hiểm lắm!!!

Sau bài học chính trị tôi lại hiểu thêm đươc lý do tại sao các chính quyền CS lại chủ trương tin dùng những người xuất thân nghèo hèn vô tôn giáo kém văn hóa và tại sao những người này lại tôn thờ “lãnh tụ “ của họ đến thế !!! Trong suốt ba năm đi tù cải tạo và suốt thời gian đi làm việc lại trong bệnh viện, tôi có nhiều dịp tiếp súc, chuyện trò với những đảng viên Việt Cộng, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe một người nào tán tụng hay nhắc nhở đến Ông Bà Cha Mẹ mình ngoại trừ việc “ đời đời nhớ ơn Bác và Đảng “ của ho.!

Ngày đầu khi tôi xuống HQ 400 trình diện, hạm trưởng Tài đích thân đưa tôi đi thăm viếng các nơi trên tàu cũng như giới thiệu tôi với các sĩ quan của chiến hạm. Lúc đi trên sàn tàu tôi thấy ở xa xa trước mặt hình dáng một người to lớn vạm vỡ , nước da bánh mật, có râu quai nón, đang hí hoáy gì ở máy điều hòa không khí của xe quang tuyến X. Tôi nghĩ bụng có lẽ đó là một ông cố vấn Mỹ nên đang định uốn lưỡi sửa soạn xổ một câu chào hỏi xã giao “ hao a i u đú ình” thì đã tới gần. Người đó vừa ngừng tay làm việc để nhìn chúng tôi thì hạm trưởng Tài đã chỉ tay giới thiệu” Đây là thượng sĩ y tá Vương kiêm quản nội trưởng của tàu, cũng vừa theo tàu đi đại kỳ về với tôi “ , rồi ông hướng về tôi và giới thiệu” Đây là bác sĩ Lai được thuyên chuyển xuống làm y sĩ trưởng của Y tế Hạm HQ 400”. Liền lúc đó thượng sĩ Vương đứng nghiêm chào chúng tôi theo kiểu nhà binh. “ Chào thượng sĩ Vương , chúng mình sẽ cùng làm việc chung với nhau hé”, tôi nói , xong lại tiếp tục theo hạm trưởng Tài đi thăm chiến hạm. Sau này thượng sĩ Vương là một trong những phụ tá đắc lực của tôi trên HQ 400 cũng như ở Khối Quân Y HQ. Ổng đi HQ từ thời Pháp tới nay nên có rất nhiều kinh nghiệm về đi biển. Ông nói thông thạo cả Pháp văn lẫn Anh văn, và có tài uống rượu như hũ chìm. Ông kể chuyện hồi còn trong Hải quân Pháp, phần ăn hàng ngày của lính thủy thường hay có rượu vang va phó mát Camembert ( Brie ) . Vì ông không ăn được Camembert nên cứ đổi phó mát cho mấy lính Tây để lấy rượu về uống.

Hai ngày sau khi tôi xuống tàu thì nha sĩ đại úy Vũ Tiến Đạt và thiếu úy HCQY Nguyễn Văn Sáu cũng được thuyên chuyển xuống HQ 400. Như vậy là số sĩ quan quân y của Y Tế Hạm HQ 400 đã đầy đủ theo đúng cấp số.

Chuyến hải hành đầu tiên trong đời lính thủy của tôi là chuyến đi Côn Sơn. Sau này có dịp tôi sẽ xin ghi lại hầu các bạn một vài ký ức của chuyến hải hành đầu đời này, một chuyến hải hành vui thích với nhiều kỷ niệm khó quên.
Nha sĩ Đạt dáng người dong dỏng, ăn nói từ tốn chậm dãi với nụ cười hề hề luôn nở trên môi, không hút thuốc như tôi nhưng thích nhâm nhi chút đỉnh la de mỗi khi có dịp.

Còn thiếu úy Sáu tự Sáu nhỏ là một người nhanh nhẹn, lanh lợi hoạt bát, luôn cười nói vui vẻ, ưa nói chuyện vui tếu: ở đâu có anh là có vui nhộn. Sáu Nhỏ đảm trách công việc hành chánh và tiếp liệu quân y cho Y tế Hạm. Khi đi công tác QY Dân sự vụ ở các nơi anh còn phụ tôi khám bệnh cho đồng bào vì trước khi bị động viên vào quân đội anh đã từng làm cán sự điều dưỡng với Bộ Y Tế. Anh cũng không hút thuốc, nhưng rất thích "dzô dzô": có lần vui bạn anh dzô dzô nhiều qúa đến độ khi về tàu anh lại cho "ra ra" hết! Khi mới quen biết Sáu, tôi tự hỏi không biết tại sao thiếu úy Sáu lại có biệt danh Sáu Nhỏ, vì ảnh vóc người thì cũng trung bình như tôi và đứng cạnh nhau thì chỉ thua tôi có nửa cái đầu thôi (tôi cao 1m70) .Tôi tò mò hỏi thăm má anh thì được biết là " hồi mới sanh ra nó ốm o còm cỏi lắm so với các anh chị nó nên ở nhà mới đặt tên nó là Sáu Nhỏ". Sau này tôi suy ra là khi lớn lên Sáu Nhỏ không còn nhỏ con nữa vì nhờ được ăn nhiều tôm cá tươi từ vựa cá của cha mẹ ở Nhà Bè.

Công tác quân y dân sự vụ tại Huế


Năm ngày để sửa soạn cho chuyến công tác tại Huế qua đi rất mau. Vì đã quen với các thủ tục hành chánh, cộng thêm với sự làm việc sốt sắng nhiệt tình của các nhân viên y tế đắc lực nên việc xin tiếp liệu y dược cho Y tế Hạm HQ 400 không có gì khó khăn chậm trễ.
Kho Y dược HQ, và chính yếu là Kho Y dược Trung Ương 731 tại Phú Thọ, là hai nguồn cung cấp tiếp liệu y dược dồi dào cho hai Y tế hạm. Ngoài ra mỗi khi có trường hợp đột xuất tại một địa diểm công tác, Y tế hạm có thể nhờ tới cố vấn Hoa Kỳ xin tiếp liệu y dược đặc biệt từ nhũng đơn vị y tế của Hoa kỳ hay các đồng minh khác. Thí dụ có lần tàu đang công tác QY dân sự vụ trong vùng Phan Rang Phan Thiết thì hết thuốc nhỏ mắt vì ở đây đang có dịch đau mắt đỏ. Tôi báo với hạm trưởng Tài : sau đó thấy ông đi với cố vấn Hoa Ký và đến chiều cùng ngày ông mang về cho tàu mấy thùng thuốc nhỏ mắt.

Ngày khởi hành đi Huế đã đến. Ngoại trừ một vài người quê ở Huế hay Đà nẵng, còn phần lớn những người trên tàu ít ai đã có dịp đặt chân đến đất Thần Kinh với những địa danh nổi tiếng như núi Ngự, sông Hương , cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ..v..v...Ai nấy đều thấy thích thú vì sẽ được biết Cố Đô. Song cũng có một số ít người thoáng chút ưu tư vì tình hình ở Huế lúc đó cũng chưa hoàn toàn yên tĩnh. Riêng tôi thì có nhiều cảm tình với Huế vì trước đây tôi đã có dịp ra thăm Huế hai lần trong thời gian đi lính đóng ở Đà Nẵng. Ở Huế có nhiều món ngon như cơm hến, bánh khoái, bánh nậm, bánh ram, tré, mắm tôm chua, mè xửng..v...v... Tôi thích hai món tré và mắm tôm chua . Nhưng điều tôi thích nhất không phải là món ăn ngon mà là giọng nói dễ thương của người Huế: Giọng Huế thánh thót, líu lo ríu rít như chim hót, như âm nhạc..., nghe êm tai “ dề ..ệ sờ ợ...” chi đâu!.

Đặc biệt trong chuyến công tác lần này là hai tàu Y Tế hạm Hát Giang HQ 400 và Hàn Giang

HQ 401 đều cùng khởi hành đi Huế một lần. Tàu chạy từ Saigon tới cửa Thuận An mất khoảng hai ngày hai đêm. Vì tàu lớn không vào sông Hương được nên hai Y Tế Hạm phải neo ở cửa Thuận An . Toán y tế chúng tôi, cùng với toán Tâm Lý Chiến của Bộ Tư Lệnh HQ, đi ghe của duyên đoàn hải quân để đến Huế.



Sau khoảng hai giờ giang hành trên sông Hương, chúng tôi đã tới trung tâm kinh thành và đổ bộ xuống bãi đất trống ngay sát bên chân cầu Tràng Tiền. Rồi người đại diện của chính quyền Huế hướng dẫn chúng tôi băng qua đại lộ Lê Lợi để vào trú ngụ trong trường Đại học Sư Phạm Huế. Khác với các sông ngòi ở miền Nam, khúc sông Hương từ cầu Tràng Tiền ra biển không quanh co uốn khúc nhiều, nước sông trong xanh, lững lờ chảy hiền hòa chậm rãi cho tới cửa Thuận An. Từ trường đại học Sư Phạm Huế chúng tôi nhìn thấy cầu Tràng Tiền, bên kia sông là đường Trần Hưng Đạo dẫn tới cửa Thượng Tứ và Chợ Đông Ba... Nếu đi trên đại lộ Lê Lợi dọc theo hữu ngạn sông Hương hướng về phía thượng nguồn, chúng ta thấy Bệnh viện Trung Ương Huế, khách sạn Morin, trường Quốc Học...tọa lạc ở phía tay trái. Xa xa là cầu Bạch Hổ. Xa xa nữa là chùa Thiên Mụ ....

Vách tường trường Đại học Sư Phạm lỗ chỗ với nhiều vết đạn, và rất nhiều cửa kính của các phòng học bị bể vỡ mảnh kính rơi rớt tung tóe trên sàn nhà chưa có người dọn dẹp. Chúng tôi trải poncho để nằm ngủ trên sàn nhà của các phòng lớp ít bị hư hại. Rất may là điện nước của trường cũng còn xử dụng được nên vấn đề nấu nướng, vệ sinh không bị trở ngại lắm. Thật sự mà nói , nếu so sánh với các đồng đội bên Bộ Binh lúc đi hành quân, thì chúng tôi sung sướng hơn nhiều.

Hàng ngày toán Quân Y của HQ 400 làm việc (khám bệnh, nhổ răng, phát thuốc) cho bà con tại trường Quốc Học (bên hữu ngạn sông Hương ), và toán QY của HQ 401 thì làm việc tại Cửa Sập (bên tả ngạn ). Hai ngày đầu Thiếu úy Tiến , trưởng toán Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ, có mang theo dầu ăn và mền ấm để tặng bà con.

Trong thời gian đoàn công tác trú ngụ tại trường Sư Phạm, HQ Thiếu tá Phan Phi Phụng, trưởng phòng Tâm Lý Chiến BTL HQ , có ra thăm và ngủ lại vài đêm với anh em. Thiếu tá Phụng là một người nho nhã hiền lành nói năng chậm rãi, hay phì phèo ống điếu. Ông thường hay thức khuya để cùng tán chuyện gẫu với anh em trước khi đi ngủ. Một lần có lẽ ông cũng bị một phen sợ như chúng tôi. Số là đêm đó trong lúc đang chuyện trò trước khi đi ngủ thì chúng tôi chợt thấy một tia sáng lóe ở phía sông , tiếp theo sau là một tiếng nổ lớn vang trời. Qua ngày hôm sau chúng tôi được biết đó là VC pháo kích, đạn rớt nhằm bãi đất trống trên bờ sông gần cầu Tràng Tiền và may mắn không có thiệt hại nhân mạng hay vật chất gì cả.

Số bà con cô bác đến xin khám bệnh nhổ răng rất đông: phần lớn là các phụ nữ và các ông bà già có tuổi. Rất ít bệnh nhân thanh niên hay đàn ông : không biết có phải vì nhiều người đã bị VC bắt đi theo chúng để làm lao công chiến trường.v..v.. để rồi cuối cùng họ bị VC giết hại trong lúc chúng rút lui và chôn xác họ trong những mồ tập thể!!.

Qua nét mặt ngơ ngác, bơ phờ của những bệnh nhân, chúng ta có thể đoán biết được là họ đã sống căng thẳng sợ hãi đến chừng nào trong những ngày VC đánh chiếm thành phố !. Một ông cụ than thở với tôi:
- “Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới chừ, chưa bao giờ tôi sợ như lần ni. Bọn VC dã man tàn bạo quá . Ngày xưa Tây nó ác, nhưng đâu có bằng tụi ni “. Ngưng một lát như để nguôi cơn giận và để lấy thêm hơi , ông cụ nói tiếp : “ chúng chia nhau đi lục soát khắp mọi nhà để tìm kiếm đàn ông thanh niên và bắt đi theo chúng. “. Tôi tò mò hỏi cụ:
-” Thế chúng có lục xét nhà bác không , thưa bác?”. “
-“ Có chứ ,sao lại không “, ông cụ trả lời. “Khi chúng thấy trong nhà chỉ có vợ chồng tôi thôi thì một đứa hỏi: đàn ông thanh niên trốn đâu hết rồi? Bộ chúng đi theo Mỹ Ngụy để đánh phá cách mạng phải không?. Chúng tôi sợ quá. Nhưng vợ tôi nhanh trí trả lời ngay: “thưa các anh chúng tôi không có con cái, chỉ có hai ông bà già sống với nhau thôi”. Sau đó chúng không xét hỏi gì thêm nữa và vội vã đi qua nhà khác. Có lẽ vì chúng thấy nhà tôi quá đơn sơ nghèo nàn nên bỏ đi ...”

Sau khi khám bệnh tôi viết toa tặng hai ông bà một chai thuốc đa sinh tố cùng một ít viên thuốc an thần và dặn ông bà uống một viên nâu ( multivitamins) vào ban ngày và viên trắng (thuốc an thần meprobamate ) vào buổi tối.

Có một điều vui là sáng ngày hôm sau ông cụ đó trở lại tìm tôi, đi cùng hai bạn già khác.
_”Bữa qua ông cho tôi thuốc chi hay quá: đêm ngủ ngon một giấc và không còn mớ thấy VC nữa. Xin ông khám và cho bạn tôi thuốc như rứa đi” , ông cụ nói với nụ cười biết ơn trên môi.
Với lòng tin vững mạnh vào sự chiến đấu anh dũng của quân đội VNCH, tôi nói để trấn an các cụ: ” Bác uống hết thuốc là hết sợ VC thôi. Bữa trước tụi nó đột nhập đánh lén, chứ bây chừ quân đội VNCH đã trở lại làm chủ tình hình rồi thì còn chi mô nữa mà các bác phải lo sợ”.
-“ Đúng rứa , cũng nhờ mấy ông cả; nếu không thì cũng chẳng biết răng. Tụi nó dễ sợ quá ông ơi “, một cụ trả lời.
Một bữa khác, nhân nói chuyện với một ông tuổi trạc tứ tuần, tôi hỏi:
-Ông hay quá vậy? Ông trốn đâu mà không bị tụi nó bắt đi?
- “Mèng đéc ơi, sợ quá xá đi chứ! Tưởng đã chết rồi kìa! Ông biết hôn: tôi gốc Mỹ Tho, làm cảnh sát ở Saigon, lấy vợ người Huế và về quê vợ ăn Tết. Cái đêm lộn xộn biết là VC về, tôi trốn vào Bệnh Viện Huế mặc quần áo nhà thương giả làm bệnh nhân. Bọn VC có đi rảo qua các phòng bệnh nằm, nhưng có lẽ vội vàng nên chúng không lục lọi kỹ. Nếu không thì chắc tôi cũng tiêu với bọn quỷ đó rồi. Thật cám ơn Trời Phật: Nam Mô A Di Đà Phật”, ông tứ tuần kể lại.

Có một Chủ Nhật không làm việc, anh em đòi đi chơi đó đây thăm thú Cố Đô; nhưng vì lý do an toàn tôi chỉ dám để anh em qua bên kia sông, tới ăn uống ở chợ Đông Ba và vào thăm Nội Điện. Cảnh tượng trong Nội Điện thật là hoang tàn đổ nát!. Nhiều mái nhà trong cung điện bị sập, tượng đá tạc các quán quần thần đổ ngã ngổn ngang ngoài sân, có ông bị đạn khắp người, cụt tay, cụt chân, thậm chí có ông mất cả đầu....Nhiều cột nhà bằng gỗ lim bị bể tróc toác hoác, ngai vàng của vua bị đạn lủng lỗ trỗ...

Ai là người đã gây ra cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn để mang đến biết bao nhiêu hậu quả tang thương đổ vỡ...cho quê hương Việt Nam giàu đẹp hiền hòa này!.
Sau nửa tháng anh em QYHQ làm việc hết sức mình để giúp đỡ bà con Cố Đô , chúng tôi đã hoàn thành công tác và được ghe hải quân chuyên trở lại tàu đang neo đợi ở cửa Thuận An. Hai Y tế Hạm lại “ thuận buồm xuôi gió” về miền Nam.

Một buổi sáng trong lúc hải hành ngang vùng Qui Nhơn, sau khi dùng điểm tâm xong, hạm trưởng Tài mời riêng thiếu úy Sáu và tôi ra nói chuyện ở sân sau của Tàu. Hôm nay thấy ông vui vẻ tươi cười hơn mọi ngày. Ông lấy ra ba hôp nhỏ hình chữ nhật, được gói ghém cẩn thận, từ trong túi quần và nói với hai chúng tôi:
- Xin báo cho quý vị một tin vui là đêm qua tôi nhận được công điện cho biết là qúy vị và tôi được thăng cấp kể từ hôm nay. Xin mừng quý vị. Nhân tiện tôi xin tặng mỗi vị môt cập lon mới. Sáu và tôi rất cảm động trước sự quan tâm dễ thương của hạm trưởng Tài.

Tôi hỏi:
- Làm sao hạm trưởng hay quá vậy? Đang đi tàu trên biển mà lại có được lon mới.
- “Ồ chuyện thăng cấp thường niên ấy mà. Tôi đã được phòng Tổng Quản Trị cho biết trước, nhưng còn giữ kín để gây ngạc nhiên, chờ tới khi có công lệnh chính thức thì mới thông báo”, hạm trưởng Tài nói.

Rồi ông nói tiếp: “ Hôm này về nghỉ bến, mình sẽ tổ chức lễ rửa lon để ăn mừng và đãi anh em trên tàu.”. Tôi mừng thầm và nghĩ bụng là tôi lại có dịp để thực tập cách pha coctail học được từ thượng sĩ y tá Vương. Tiện đây tôi cũng xin nói nhỏ với quý bạn cho vui là sau này khi được qua Mỹ định cư ông Google có chỉ dẫn cho tôi nhiều kiểu pha rượu ngon và xuất sắc lắm.

Giờ đây, ở tuổi gần đất xa trời, nhờ ơn Trời Phật tôi và gia đình đã may mắn được sống trên đất Mỹ, một xứ sở của độc lập tự do, nhân phẩm con người được tôn trọng...,tôi ngồi ôn lại những chuyện buồn vui lẫn lộn trong những chặng đường đời đã qua, lòng tôi cảm thấy nao nao, tim tôi sắt lại vì càng ngày càng thiếu đi những người thân, những người tôi mang ơn, những bạn bè, những đồng nghiệp.....Đời tôi nhiều bạn, không có kẻ thù, ngay cả những người Cộng Sản mà tôi có dịp tiếp xúc. Tôi không thù ai, nhưng có thể có người thù tôi thì làm sao biết được!.

Còn một điều vẫn luôn vương vấn trong tâm tư tôi là ước muốn làm sao cho quê hương xứ sở Việt Nam sớm được thực sự độc lập tự do, thoát khỏi ách Cộng Sản tam vô độc tài gian ác, để đồng bào tôi được sống ấm no hạnh phúc, để con cháu tôi có thể về thăm hay sinh sống ở một quê hương an lành, văn minh và tiến bộ. Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết có nên ghi lại sau đây bài thơ tôi đã nghe được trong một giấc mơ, bài thơ mà tôi cho là những lời trăn trối của Hồ Chí Minh nhắn nhủ những người lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

Các Cô các Chú hãy nghe tôi:
Chán Mác Mao, tôi giác ngộ rồi.
Thoát Trung, cải tổ, thân Âu Mỹ,
Chơi với ba Tầu mất nước thôi.

Thật mong lắm thay.

Gaithersburg Maryland . Mùa Xuân năm 2016

Nguyễn Tích Lai

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Xin Ơn Bền Đỗ...

  

(Tưởng nhớ 10 năm anh Bảy Hiệp ra đi)

Anh nằm xuống ngày hè oi ả
Sao trong em lã chã lạnh căm
Anh nằm xuống trong cảnh âm thầm
Có nghe những thanh âm em khóc

Anh vội đi không thơ người đọc
Kể chuyện đời lăn lóc ngược xuôi
Những buồn vui Pleiku Phố Núi
Để ngậm ngùi nhớ mãi khôn nguôi

Từ vắng anh đêm dài thui thủi
Vườn thơ xanh đóng cửa than ôi!
Trang giấy mở ngậm ngùi chờ đợi
Ký ức buồn khép lại niềm vui.

Thôi anh nhé yên chốn thiên đình
Nguyện cầu Chúa rủ tình thương xót
Anh vui sống trong ơn bền đỗ
Hạnh phúc liên ngày giỗ 10 năm.
Amen!

9 Kim Oanh
11/8/2016 -11/8/2026

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Mưa Nắng Hai Mùa…

 

Ta giấu mùa đông trong mắt nâu
Để tâm cảm nhận phút ban đầu
Để tan hơi lạnh lùa sau gáy
Để giấc nồng nàn suốt đêm thâu

Ta đón mùa đông thật an nhiên
Có ai nhung nhớ trọ trước thềm
Có ai thỏ thẻ lời tâm sự
Có một sáng về thật bình yên

Mùa đông ơi hỡi mùa đông
Hè ai gửi nắng sưởi ấm lòng
Hòa chung nhịp sống theo tùng lúc
Mưa nắng hai mùa bước song song.

Kim Oanh
Mùa Đông 2026

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Thi Tập Miền Đông Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

Thi Tập Miền Đông
Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông

(Đề Thơ tặng Ban Biên Tập Miền Đông Văn Bút, Hoa K)

Mùa Xuân rộ nở thắm ngàn hoa
Thi phú điểm tô nét ngọc ngà
Đượm sắc hương yêu Xuân Ất Tỵ
Miền Đông Văn Bút đến gần xa...


Cánh Phượng chao nghiêng đón Hạ về
Ấm tình Thi Tập kết hồn quê
Bao năm ly xứ ôi vời vợi
Được dịp tuôn trào nỗi thỏa thuê...


Giao mùa thư thả mực mài xong
Nét bút ung dung tỏ nỗi lòng
Nhặt lá chép lời thơ phổ nhạc
Mang hồn Thu dạo khúc mênh mông...

Cái lạnh đầu Đông ở xứ người
Nỗi sầu chất ngất nói sao vơi
Viết bao thi tứ làm sao đủ
Thi Tập Miền Đông tải hộ tôi...

Kim Oanh
Melb. 2026

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Thu Hoài Vọng ( Nguyệt San Kỳ III 2026)

 
(Cung Lan Thực Hiện)

Thu Hoài Vọng

( Đề Thơ tặng chị Cung Lan)

Thu đến chạnh lòng nhớ thuở xưa
Hoài mong tha thiết chợt như vừa...
Vọng về vàng lá hương đưa
Nguyệt San Văn Bút chuyển mùa luyến lưu!

Kim Oanh
Melb.2026


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)

 


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh

Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Phế Trạch của Ngô Dung.

Ngôi nhà sang trọng bỏ hoang
Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha m

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

 Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Thơ Ngây Trăng Mộng Mơ Hoa



Một mùa trăng mộng mơ hoa
Vai kề má tựa chung nhà thơ ngây
Trăm thương ngàn nhớ tóc mây
Bể dâu ly cách còn đầy hương mê...


MD.07/16/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Một Mùa Trăng & Bến Mê Ký Ức"
của TVS đa tài hoa thật quý Kim  Oanh


Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Trưởng Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Minh Triết - Cựu Đạo Trưởng Đạo Phiên An - Châu Gia Định (Trần Đình Phước)

(Kính tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết và các Cựu Hướng Đạo Sinh Đạo Phiên An,) 

Trưởng Nguyễn Minh Triết và tôi biết nhau từ những năm còn rất trẻ. Trưởng Triết lúc đó là Đạo Trưởng Đạo Phiên An, còn tôi là một Trưởng của một đơn vị trực thuộc Đạo Phiên An. 

Đạo là tên gọi một đơn vị trong tổ chức của Hội Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) gồm nhiều Liên Đoàn và Đoàn, một Đạo thường có từ vài trăm đoàn viên trở lên. Thiết tưởng cũng nên biết qua Phong Trào Hướng đạo là một Phong Trào Giáo Dục Thanh Thiếu Niên có phạm vi toàn cầu với mục đích góp phần phát triển thanh thiếu niên có được thân thể cường tráng, đạt được tiềm năng về trí tuệ, về xã hội và về tâm linh cho chính bản thân cũng như trở thành các công dân có trách nhiệm, trở thành các thành viên của cộng đồng địa phương, của quốc gia và của quốc tế". 

Phong trào dùng ‘Phương Pháp Hướng đạo’ là một chương trình giáo dục chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm cắm trại trong rừng và các trò chơi do Huân Tước Baden Powell sáng lập năm 1906 tại Anh quốc, rồi sau đó lan tỏa ra toàn cầu. 


Đạo Phiên An, thuộc Châu Gia Định thành lập vào năm 1965, được tách ra từ Đạo Bến Nghé do Trưởng Nguyễn Minh Triết có Tên Rừng là Sói Trầm Ngâm được Trưởng Tổng Uỷ Viên Hội Hướng Đạo Việt Nam Nguyễn Hữu Mưu ký quyết định giao trách nhiệm làm Đạo Trưởng.
Lúc ban đầu, Đạo Phiên An có 3 Liên đoàn và 3 đơn vị Đoàn, nhưng sau đó không lâu đã phát triển thành một trong vài Đạo có nhiều đoàn sinh trong vùng Sài Gòn và Gia Định. 
Địa bàn sinh hoạt của Đạo Phiên An gồm ba nơi là: Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt, Vườn Tao Đàn, và Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Dưới sự dẫn dắt của Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết.

Đạo Phiên An đã tích cực tham gia mọi sinh hoạt do Hội HĐVN khởi xướng, đặc biệt là sinh hoạt ở Châu Gia Định. Trưởng Nguyễn Minh Triết là một Trưởng có nhiều khả năng trong việc ứng dụng phương pháp giáo dục Hướng Đạo, vì đã trải qua mọi khóa trại huấn luyện ở mọi cấp từ trong nước và ngoại quốc như: các khóa trại huấn luyện Bạch Mã, Bằng Rừng ở đồi Tùng Nguyên, cạnh hồ Than Thở, Đà-lạt và khóa huấn luyện ITTC ở Seoul, Đại Hàn. Nhờ khả năng và thành tích trong việc phát triển sinh hoạt Hướng Đạo trong giới thanh thiếu niên nên Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Hội Hướng Đạo Việt Nam đề cử các công tác sau: 
 - Năm 1967 là. Đại Diện Hướng Đạo Việt Nam tham dự trại Họp Bạn Hướng Đạo Quốc Tế tổ chức tại Jindalee, Brisbane, Queensland (Australia,) từ 28 Tháng 12, 1967 tới 06 Tháng 01, năm 1968. 
 - Năm 1969 tham dự trại Huấn Luyện ITTC (International Training The Team Course) tại Seoul, Đại Hàn và sau đó là thành viên trong phái đoàn Hướng Đạo Việt Nam do Hội Trưởng Phan Thành Hy và Tổng Ủy Viên Huỳnh Văn Diệp hướng dẫn tham dự Hội Nghị Trưởng Hướng Đạo Quốc Tế cũng tổ chức ở Séoul (Đại Hàn). Trên đường về nước phái đoàn ghé thăm hữu nghị Hướng Đạo Đài Loan và Hong Kong.


 - Năm 1970, Trưởng Nguyễn Minh Triết lại được tham gia vào Ban Tổ Chức Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn quốc tổ chức tại Suối Tiên (Thủ Đức) từ ngày 26/12/1970 đến ngày 30/12/1970. 

Trại Trưởng là Trưởng Tổng Uỷ Viên HĐVN Trần Văn Luợc, tên Rừng là Bò Lém. Trại mang tên Giữ Vững để kỷ niệm 40 năm thành lập Phong Trào HĐVN.Trong lễ khai mạc trại, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đại diện Ban Quản Trại hướng dẫn Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đi thăm toàn trại.

 Ngoài, ra, giữa tháng 06 năm 1969, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã được Trưởng Nguyễn Tuyên Thùy, nguyên Thiếu Tá Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, cũng là một Trưởng Hướng Đạo kỷ cựu biết Trưởng Nguyễn Minh Triết có nhiều khả năng về hướng đạo do được đào tạo có bài bản và nhiều kinh nghiệm về tổ chức, nên tin tưởng giao trách nhiệm tổ chức ra mắt Đoàn Thiếu Nhi Quân Đội Trường Bộ Binh Thủ Đức gồm tất cả con em quân nhân thuộc Trường Bộ Binh và Trại Gia Binh. Buổi lễ ra mắt thành công mỹ mãn dưới sự chủ toạ của Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức Trong lãnh vực sinh hoạt cộng đồng và hoạt động xã hội,


Trưởng Nguyễn Minh Triết được hai phụ tá đắc lực của Đạo Phó Trưởng Huỳnh Văn Nhì và Trưởng Phụ Tá Trang Thế Phương đã dẫn dắt Đạo Phiên An tham gia các công tác như: - Mùa Hè năm 1966, Kha Đoàn Nguyễn Huệ tham gia giúp ban tổ chức cuộc thi Săn Bắn dưới đáy biển do Bộ Thanh Niên tổ chức tại Hòn Yến, Nha Trang. - Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Đạo Phiên An gồm Thiếu Đoàn Trương Cộng Định và Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định tiếp đón đồng bào chiến nạn tại Trường Chi Lăng 2, Gia Định. Các Trưởng và Đoàn sinh giúp Ty Xã Hội phân phát thực phẩm, quần áo, thuốc men và hướng dẫn sinh hoạt hướng đạo cho các thiếu nhi là con em của đồng bào chiến nạn. - Giúp Tỷ Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức cho các em mồ côi du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu. - Hợp tác với các đoàn thể bạn xây dựng các Trại Tạm Cư chung quanh khu vực Trường Pétrus Ký, Quận 5, Sài Gòn cho đồng bào chiến nạn Mậu Thân và Việt Kiều bị cáp duồng (Cap Youn) ở Nam Vang (Kampuchea)) chạy lánh nạn về. - Tổ chức lạc quyên vật chất, thuốc men, quần áo khi có Thiên Tai, Bão Lụt xảy ra. Đạo Phiên An đã hoạt động và phát triển rất mạnh với hơn 500 đoàn sinh và Trưởng phụ trách. Lệnh Tổng Động Viên của chính phủ sau Tết mậu Thân 1968 và Mùa Hè Lửa Đỏ 1972, khiến một số Trưởng phải nhập ngũ. Cũng trong năm này, Trưởng Nguyễn Minh Triết đã tốt nghiệp Cao Học tại Học viện Quốc Gia Hành Chánh được trường cấp học bổng đi du học Hoa Kỳ theo chương trình đào tạo Tiến Sĩ để tăng cường cho Ban Giảng Huấn của trường. Do đó, sinh hoạt của Đạo Phiên An bị ảnh hưởng rất nhiều, vì thiếu Trưởng hướng dẫn. 

Đạo Phiên An tham dự Trại Họp Bạn HĐVN Toàn Quốc cuối cùng là Trại Tự Lực từ ngày 21/12/1974 đến ngày 25/12/1974. Trại nằm trên một khu đất rộng, bên cạnh Dòng Đồng Công, thuộc Xã Tam Bình, Huyện Thủ Đức, Tỉnh Gia Định. Sau ngày 30 Tháng 04, năm 1975, chính quyền mới cấm mọi sinh hoạt Hướng Đạo, trụ sở Hội HĐVN tại số 18 Đường Bùi Chu bị tịch thu. Đạo Phiên An, các Đạo khác và Phong Trào Hướng Đạo VN coi như không còn nữa!
Hiện nay, tại một số công viên ở Sài Gòn và tỉnh thành trong nước, vào cuối tuần xuất hiện sinh hoạt giống như hướng đạo ngày trước do các Cựu Trưởng HĐVN hướng dẫn. Chính quyền không ra lệnh cấm vả cũng không chính thức cho phép hoạt động. 


Hy vọng, trong tương lai không xa, Phong Trào Hướng Đạo sẽ được chính quyền xem lại và cho phép tái hoạt động. Cá nhân tôi, may mắn có dịp gặp Trưởng Nguyễn Minh Triết hai lần:
 - Lần thứ nhất tại Virginia vào Tháng 05, năm 2007, khi gia đình tôi tình nguyện giúp Ban Quản Lý Trại Truyền Thống 7 tổ chức tại đây, trùng hợp với Trưởng Nguyễn Minh Triết đi dự họp mặt Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành. Trước đó, gia đình tôi gồm: con trai, vợ tôi và tôi đã tham dự Trại Truyền Thống 4 tổ chức tại Orange County, Nam Cali vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 2003 
 - Lần thứ hai, khi gia đình tôi tham dự Trại Họp Bạn Hướng Đạo Việt Nam toàn Thế Giới, Thẳng Tiến 10 tổ chức từ 27 Tháng 06, năm 2014 đến 03 Tháng 07, năm 2014 tại Trại Strake, Thành Phố Houston (Texas). Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đầt trại thăm. Sau đó, khi trại bế mạc Trưởng Nguyễn Minh Triết đã đến đón gia đình tôi về nhà ở một ngày, chở đi thăm các thắng cảnh ở Thành Phố Houston và dùng cơm tối tại một nhà hàng trong vùng. Hai anh em có dịp cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm Hướng Đạo ngày xưa, sau nhiều năm xa cách, tưởng chừng không bao giờ có thể gặp lại. 


Giờ đây! Anh Chị Em Đạo Phiên An tứ tán khắp nơi, kẻ còn, người đã giã từ cuộc chơi. Hầu hết đã ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy, có người sắp sửa 90 tuổi, nhưng một số vẫn còn giữ mối dây liên lạc Hướng Đạo, và hẹn sẽ gặp lại các Trường Hướng Đạo đi trước để cùng nhau đưa hai tay lên hông “ Nhảy Lửa” và hát bài “ Giữ Chặt Mối Dây.” Theo tôi, trong bất cứ hoàn cảnh nào.Tinh Thần và Tinh Huynh Đệ Hướng Đạo vẫn luôn luôn bền vững. Đúng như câu châm ngôn của Hướng Đạo. "Hướng Đạo một ngày là Hướng Đạo Mãi Mãi - Once a Scout, always a Scout." 

 Trần Đình Phước 
 (Voi Chăm Chỉ - Đạo Phiên An)