Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)

  

Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn)

Con Cò
***
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương.
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?

Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.

Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?

Thanh Vân
***
Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia


Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn:

Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?

Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:

This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Thiếu Đoàn Đống Đa - Hướng Đạo Việt Nam Đạo Phiên An - Châu Gia Định

(Kính Tặng Trưởng Nguyễn Minh Triết, Đạo Trưởng Đạo Phiên An, các Anh Chị Trưởng và các Hướng Đạo Sình Đạo Phiên An)

Thiếu Đoàn Đống Đa, Đạo Phiên An, Châu Gia Định được thành lập vào năm 1967. Thiếu Trưởng là Trưởng Phan Hùng Tiến. hai Trưởng Phụ Tá là Nguyễn Văn Trí và Trần Đình Phước.Cả ba chúng tôi đều được Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết đề cử theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu. Lúc này, tình hình chiến sự đang sôi động, nên các Khoá Huấn Luyện của Hội Hướng Đạo đến tổ chức tại Thảo cầm Viên, Sài Gòn vào hai ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật cuối tuần, chia ra làm hai lần.

Tôi được theo học Dự Bị Bằng Rừng Ngành Thiếu Khoá Trần Quốc Toản 15 vào 4 ngày 5, 6 và 12, 13 Tháng 07, năm 1967 do Trưởng kỳ cựu của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam làm Trại Trưởng. Đó là Trưởng Lê Mộng Ngọ, tên Rừng là Ong Lắm Mật. Các học sinh Trường Trung Học Công Lập Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định đều không thể nào quên Trưởng, vì Trưởng là Tổng Giám Thị có tiếng là kỷ luật và nghiêm khắc với học sinh.

Thiếu Đoàn họp mặt vào mỗi Chúa Nhật từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Quận Bình Thạnh, Tỉnh Gia Định. Ngoài những sinh hoạt Hướng Đạo thường lệ như học luật, lời hứa, ca hát, kỹ năng chuyên môn Morse, Sémaphore, nút dây, dựng lều, cứu thương…Thiếu Đoàn Đống Đa còn tham gia các hoạt động thiện nguyện, phục vụ cộng đồng và công tác xã hội.

Đặc biệt, cùng Kha Đoàn Nguyễn Huệ giúp Ty Xã Hội Gia Định đón tiếp, phân phát thực phẩm, thuốc men cho bà con lánh nạn Tết Mậu Thân năm 1968 tại Trường Tiểu Học Đông Ba, thuộc Ấp Đông Ba, Đường Trần Tế Xương, Quận Phú Nhuận, Tỉnh Gia Định, gần trường Trung Học Tư Thục Đạt Đức. Công tác tiếp đến, giúp Ty Thanh Niên Thể Thao Gia Định tổ chức du ngoạn và tắm biển Vũng Tàu cho các em mồ côi.

Giữa Năm Mậu Thân, Trưởng Phan Hùng Tiến và tôi tình nguyện vào Không Quân VNCH, còn Trưởng Nguyễn Văn Trí tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH. Vì thế! Thiếu Đoàn Đống Đa không có Trưởng hướng dẫn các em sinh hoạt.

Để giúp các em không bị gián đoạn. Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết và Đạo Phó Huỳnh Văn Nhì thay phiên hướng dẫn các em. Nếu tuần nào hai Trưởng bận công việc không đến được thì các em sinh hoạt theo:”Hàng Đội Tự Trị”.

Tôi nhập ngũ Khoá 7/68 Không Quân vào ngày 30 Tháng 09, năm 1968. Trước đó, các Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân đều được gửi đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân, Nha Trang. Nhưng vì nhu cầu cấp thiết Khoá 7/68 KQ và vài Khoá thuộc tài khoá năm 1968 được gửi đi học giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và giai đoạn hai ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Nhờ thế! Tôi có dịp trở lại sinh hoạt với các Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đống Đa mỗi khi được đi phép vào cuối tuần.

Thấm thoát đã hơn nửa Thế Kỷ trôi qua. Giờ đây, các Trưởng và các em đều, hoặc ngoài tuổi Thất Thập Cổ Lai Hy. Kẻ còn, người mất, tứ tán khắp mọi nơi. Tôi chỉ còn gặp lại vài Trưởng và vài em Hướng Đạo Sinh ngày xa xưa đó!

Những kỷ niệm sinh hoạt Hướng Đạo, những kỳ trại Đoàn, Đạo ở Long Thành (đất nhà của Song Thân Đạo Trưởng Nguyễn Minh Triết), Suối Lồ Ồ, Long Hải, Vũng Tàu, Suối Tiên, Con Nai Vàng Ngơ Ngác (Thủ Đức), Bình Nhâm ( Lái Thiêu), Thanh Đa (Bình Quới)…

Các em được tham gia các trò chơi theo Phương Pháp Hướng Đạo rất bổ ích, những bài hát ngắn vui tươi, những đêm thanh vắng trong ánh lửa bập bùng, cùng ngồi tĩnh tâm, tâm sự, nói lên những suy nghĩ từ đáy lòng về thời gian tham gia Hướng Đạo đã học hỏi được những điều gì hữu ích cho bản thân bên lửa tàn, mà kỷ niệm này không thể nào quên được.

Đặc biệt, những Hướng Đạo Sinh sáng sớm hôm sau được làm lễ Tuyên Hứa, Khi đưa bàn tay trái đặt lên lá cờ Hướng Đạo, tay phải giơ cao chào 3 ngón và môi ấp úng xúc động không thể thốt ra lời:

Tôi lấy Danh Dự hứa cố gắng hết sức:

- Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi.
- Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào.
- Tuân theo Luật Hướng Đạo.
Luật Hướng Đạo (trước năm 1975)

1-Hướng đạo sinh trọng Danh Dự để ai cũng có thể tin lời của Hướng ĐạoSinh.
2- Hướng Đạo Sinh trung thành với Tổ Quốc, cha mẹ và người cộng sự.
3- Hướng Đạo Sinh có bổn phận giúp ích mọi người bất cứ lúc nào..
4- Hướng Đạo Sinh là bạn của khắp mọi người và xem các Hướng Đạo Sinh khác như ruột thịt.
5 -Hướng Đạo Sinh lễ độ và liêm khiết.
6- Hướng Đạo Sinh yêu thương các sinh vật.
7- Hướng Đạo Sinh vâng lời cha mẹ, huynh trưởng mà không biện bác.
8- Hướng Đạo Sinh gặp khó khăn vẫn vui tươi.
9- Hướng Đạo Sinh tằn tiện của mình và của người.
10 -Hướng Đạo Sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Chỉ những Hướng Đạo Sinh được Tuyên Hứa mới chính thức được công nhận là Hướng Đạo Sinh của Phong Trào.

Các Hướng Đạo Sinh dễ nhận ra nhau bằng tiếng huýt gió ” Là La Lá La Là Lá Là Là Là Là La”.Khi gặp nhau đưa bàn tay trái ra bắt và giơ cao tay phải chào 3 ngón (trỏ, giữa và đeo nhẫn) tượng trưng cho 3 điều trong Lời Hứa Hướng Đạo. Ngón cái để trên ngón út, tượng trưng cho kỷ luật và đoàn kết. Người mạnh bảo vệ kẻ yếu đuối và cô thế.

Châm Ngôn Hướng Đạo luôn luôn nằm lòng:

“Once a Scout, Always a Scout”
Xin gửi vài hình ảnh sinh hoạt với các em Thiếu Sinh Thiếu Đoàn Đồng Đa trong một lần tôi được về phép đặc biệt cuối tuần vào Chúa Nhật 12 Tháng 01, năm 1969, lúc đó tôi đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức và vài hình ảnh Hướng Đạo “Ngày Xưa Còn Bé” của tôi.





Voi Chăm Chỉ Trần Đình Phước
(Đạo Phiên An - Châu Gia Định)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Trung Thu Và Má ...

   

Nhắc đến ngày Trung Thu và những dòng cảm xúc về Mẹ, người ta thường nhớ ngay đến áng văn tràn đầy tình cảm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, mang tên Bông Hồng Cài Áo. 

"Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta..."

Đoạn văn ấy thấm đẫm chất thơ, dịu dàng và sâu lắng như một vầng trăng tỏa sáng và hình ảnh người Mẹ đẹp vô ngần

Từ ý niệm thiêng liêng đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Thật diễm phúc cho những ai đang còn Mẹ.

"Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn"

Tôi nhớ ngày con gái tôi còn bé, tôi đưa cháu học tiếng Việt cuối tuần. Khi đón cháu về,trên xe cháu tự hào khoe với tôi. Mẹ ơi, hôm nay Dì Sáu Phượng dạy,(chị tôi là cô giáo dạy tiếng Việt) con học thuộc làu bài thơ. Tôi bảo con đọc và tôi bật cười vì ...

"Năm xưa tôi còn bé, 
Mẹ tôi mới chào đời, 
Lần đầu tôi mới hiểu 
Thân phận kẻ mồ côi. 

Bạn có biết sao tôi cười không?
Cháu đã đọc nhầm chữ "qua đời" thành chữ "chào đời". Hai chữ này có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược 
Vì sự nhầm lẫn ngây ngô của trẻ thơ, câu thơ của cháu bỗng nhiên mang một ý nghĩa rất nghịch lý: Mẹ mới sinh ra "chào đời" mà người con lại thành "kẻ mồ côi". Thực chất, đây là những dòng thơ vô cùng xúc động trong bài Mất Mẹ (hay còn có tên là Khóc Mẹ) của nhà thơ Xuân Tâm:

"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận kẻ mồ côi..."

Đi học về mà con tự hào khoe đã "thuộc làu" bài thơ để tặng mẹ thì đúng là một kỷ niệm vừa ấm áp, vừa buồn cười, vừa đáng yêu vô cùng. 

Má của con ơi...

Như đêm nay bầu trời thật sáng, con lại thấm " thân phận kẻ mồ côi" .Bên vầng trăng con thì thầm nhớ Má. Mới đó mà ngày Má qua đời đã 24 năm rồi

Trăng ơi vằng vặc trên cao
Có nghe tiếng má ngọt ngào ầu ơ
Lặng chờ cho đến bao giờ
Giọt rơi giọt tủi bơ vơ một mình

Ngày Tết Trung Thu chính là ngày Tết của đoàn viên, ngày mà vầng trăng rằm tỏa sáng tròn đầy nhất trên bầu trời. Đứng dưới ánh trăng ấy, những người con viễn xứ hay những ai may mắn còn mẹ đều không khỏi bồi hồi khi nghĩ về đấng sinh thành.
Có phải vầng thơ hay đoạn văn trong tác phẩm ấy đang gợi lại cho con những kỷ niệm sâu sắc trong lòng. Những hoài niệm đón Trung Thu thanh bình ngày xưa bên gia đình mình.

Năm nay ngày giỗ Má cũng đúng ngày Tết Trung Thu, con cũng được an ủi phần nào khi nhớ về ngày tháng xa xưa, một hồi ức khó quên, một kỷ niệm này lại làm con nhớ đến khoảng thời gian ấm áp ấy. 

Cả nhà quây quần quanh manh chiếu trải ở sân vườn, cùng nhau đàn hát dưới ánh trăng, những bài ca nhi đồng, chóp chép hạt dưa, hạt sen rang, bánh mứt ngọt ngào hương vị, Như bài hát Rước Đèn Tháng Tám rộn rã niềm vui của Nhạc Sĩ Đức Quỳnh:

"Tết Trung Thu
Bánh quà đầy mâm
Em bé nhà
Ưa đứng quây quần
.....
Hạt dưa
Nghe cắn nổ lốp đốp
Người vui hoan
Nói cười hấp tấp
Bao tấm lòng
Mừng đón trăng rằm"
....
Tít trên cao dáng tròn xinh xinh.
Soi xuống trần ánh sáng dịu dàng.
Rằm tháng tám bóng hằng trong sáng.
Em múa ca vui đón chị Hằng."


Nhất là hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm con, dáng Má ôm đàn Mandolin, đàn và reo dòn dã. Cả nhà hòa tiếng hát Thằng Cuội của Nhạc Sĩ Lê Thương. Phải chăng Má là chị Hằng của con, để con được " múa ca vui đón Má". Giờ đây tâm trạng con cũng không khác chi chú Cuội đang ôm mãi "một mối mơ"... 

"Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ
....
Mười lăm tháng Tám trời cho
Một ông trăng sáng thật to
Các em thích cười muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang"

Thật là một niềm hạnh phúc trọn vẹn và ấm áp vô cùng. Việc  tiếp tục truyền ngọn lửa văn hóa từ thế hệ con sang thế hệ cháu, rồi đến cả các em thiếu nhi trong cộng đoàn, chính là cách giữ gìn cội nguồn bền vững nhất của người Việt nơi hải ngoại.
Hình ảnh người bà, người cô cùng các em nhỏ rước đèn, trong đêm rằm gợi lên sự nối tiếp thiêng liêng đầy tình gia đình và nghĩa đồng bào. 

'Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
.....
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh c​ắc tùng dính dính
Tùng dinh dinh cắc tùng dính dính
Em rước đèn này đến cung trăng"

Dù không còn ở quê nhà, nhưng chính những lớp học tiếng Việt cuối tuần và những đêm Trung Thu như thế này đã tạo nên một không gian văn hóa Việt Nam thu nhỏ, thanh bình và đầy ắp tiếng cười trẻ thơ.
Nhìn các cháu nhỏ tung tăng cầm chiếc lồng đèn giấy kiếng, bập bẹ hát những bài đồng dao tiếng Việt, chắc hẳn trong lòng các phụ huynh cũng đầy ắp niềm tự hào và xúc động.
Chính Ba Má đã gieo vào lòng con trẻ sợi dây yêu thương thiêng liêng này, từ đời này qua đời khác trong con cháu đời nay.

Má ơi, đêm nay dưới ánh trăng con khẩn nguyện cho Má của con thật vui và hạnh phúc, trong từng lời  hát con đang thì thầm với Má. Má là ánh trăng soi sáng đời các con cháu và dẫn dắt chúng con, để chúng con được  tiếp bước Ba Má đi trong thánh thiện và yêu thương nha Má của con!
Thương yêu con gửi về Má!

Con gái Chín của Má.
Kim Oanh
Giỗ lần thứ 24 của Má 2026
 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Những Đóa Hoa Đời - Huy Văn(HVC)

 

Tôi gửi tặng Em đóa hoa lòng
Dù đã qua rồi tuổi đợi mong
Vẫn còn đâu đó tim thổn thức
Rồi Xuân sẽ đến lúc tàn đông.

Tôi giữ cho đời đóa tình thương
Là hoa tôi hái giữa chiến trường
Một thời chinh chiến buồn đất nước
Hoa Tình Thương vẫn thắm nồng hương.

Tôi mang cho người đóa hoa mơ
Đẹp như tâm tưởng lúc ban sơ
Mang mùa trăng cũ vào giấc ngủ
Thả mộng khải huyền trên nhánh thơ.

Tôi ép trong lòng cánh hướng dương
Làm nguồn đuốc sáng lúc soi đường
Cho thiên thu tỏ lòng Sắp Sẵn
Tâm an, thân lạc giữa vô thường.

Tôi vẫn vun trồng hoa Bách Hợp
Trong vườn Hướng Đạo đến cuối đời
Ba ngón chỉ trời, lòng tuyên hứa
Mang trái tim yêu tặng muôn nơi.

Tôi vẫn hằng mong đóa từ tâm
Là lòai hoa nở rất âm thầm
Trong Anh, trong Chị, trong cuộc sống
Sẽ mãi tỏa hương suốt đời trần.

Huy Văn

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long Ca

Trích từ CD "Tình Khúc Văn An & Vũ Nhân", gồm 10 ca khúc do ca sĩ của các đài phát thanh trình bày.

01. Thu Tàn (Văn An & Vũ Nhân) - Minh Đỗ đơn ca 
02. Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long đơn ca 
03. Sóng Tình (Vũ Nhân) - Tuyết Hằng đơn ca 
04. Kìa Vầng Trăng Lên (Văn An) - Minh Ngọc đơn ca
05. Tình Gửi Một Đêm Trăng (Vũ Nhân) - Từ Hà đơn ca 
06. Tình Thắm (Vũ Nhân) - Mai Hương đơn ca 
07. Chiều Đợi Chờ (Văn An) - Thanh Hằng đơn ca 
08. Màu Ngọc Bích (Vũ Nhân) - Thục Hiền đơn ca 
09. Cung Đàn Nhớ Nhau (Vũ Nhân) - Kim Tước đơn ca 
10. Tình Mơ (Văn An & Thanh Hằng) - Văn Huy & Thanh Hằng song ca 

Ghi chú: 
Từ Hà là ca sĩ trong chương trình Nhạc Chủ Đề do Vũ Thành An & Nguyễn Đình Toàn sáng lập. Từ Hà và Nguyễn Đình Toàn có thể là cùng một người. 
Minh Đỗ & Minh Ngọc là ca sĩ của đài vô tuyến điện Hà Nội trong thập niên 1940. 
Thục Hiền là ca sĩ trong ban nhạc Thanh Bình do nhạc sĩ Vũ Nhân điều khiển. 
Vũ Nhân và Văn Như Hoàng Băng là cùng một người. 
Văn Huy và Văn An là cùng một người. 
Thanh Hằng là ca sĩ, Thủ Khoa kỳ thi hát của đài phát thanh Hà Nội, 1953. 
Kim Tước, Mai Hương, Ngọc Long & Tuyết Hằng là ca sĩ đài phát thanh Sài Gòn.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Mãi Gọi Tên...

 

Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Hãy giữ tình ta mãi vững bền.
Gói chút hương nồng trong nếp áo,
Giữ lòng nguyên vẹn thuở kề bên.

Dẫu lối đường đời muôn ngả rẽ,
Mưa chiều giá lạnh bến hoàng hôn.
Người ơi nghe tiếng lòng tha thiết,
Nỗi nhớ âm thầm mãi gọi tên
.

Kim Oanh
9. 2026

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Những Con Tàu Đã Kéo Người Việt Ra Khỏi Cõi Chết - Phạm Sơn Liêm


Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng.
Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước.
Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay.
Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa.
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy…
đã có hai con tàu mang hình dáng của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay…
những người từng được vớt lên từ lòng biển chết ấy còn nhớ không?
Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi?
Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại:
“Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô.
Đứa con gái tôi mới ba tuổi nằm mê man vì sốt.
Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc:
-Mình ơi… chắc gia đình mình chết ngoài biển rồi…
Tôi không trả lời được.
Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la lớn:
- Slowly! Slowly!
- Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước.
Đứa bé đã bất tỉnh.
Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong.
Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay:
- Trời ơi… con tôi sống rồi… con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt.
Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau.
Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière — “Đảo Ánh Sáng.”
Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể:
“Tôi bị sốt rét và kiệt sức.
Tưởng mình chết rồi.
Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm chậm:
- No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh.
Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào.
Không hỏi họ giàu hay nghèo.
Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur — con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình:
“Nếu không có Cap Anamur…
thì hôm nay làm gì có ba.
Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh.
Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức…
Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng cứu gia đình mình.
Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa từng quen biết. Họ không cùng màu da.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng quê hương.
Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam.
Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá.
Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và
Île de Lumière
cùng
Cap Anamur
chính là hai tượng đài như thế.

Phạm Sơn Liêm


Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bách Hợp Cài Áo


(Trưởng Hướng Đạo Trịnh Mỹ Phương (Phượng Hoàng Nhiệt Thành) phóng tác theo nhạc phẩm “ Bông Hồng Cài Áo"- Ý Thơ: Thầy Nhất Hạnh - Nhạc: Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ - Hát: Trần Đình Phước.)

Tháng Bảy, năm 2008.Tôi về Sài Gòn thăm mẹ tôi đang bệnh nặng. Lần này, tôi cố gắng dành thời giờ đi thăm Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ. Ông là một nhạc sĩ mà tôi ngưỡng mộ qua các bài hát do ông sáng tác như :Bóng Mát, Đan Áo Mùa Xuân, Nắng Lên Xóm Nghèo, Những Ngày Xưa Thân Ái, Tóc mây, Trăng Tàn Bên Hè Phố…Đặc biệt, một bài hát về Mẹ phỏng theo ý thơ của Thầy Nhất Hạnh. Đó là nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo.”

Tôi chưa lần nào gặp mặt Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ mà chỉ được nghe tên ông thôi! Phải mất hơn hai ngày tôi mới tìm ra nơi trú ngụ của ông, sau khi đã thăm hỏi nhiều nơi. Đó là một căn phòng nhỏ, nằm trên lầu một, phòng P-11, thuộc Cư Xá Vĩnh Hội - Quận Tư.

Nhìn ông nằm trên giường bệnh, dáng điệu uể oải, mệt mỏi. Tôi thấy xót xa vô cùng. Tôi hỏi thăm cô giáo Trần Thị Lý, là vợ nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ nguyên nhân nào đã khiến ông bị như thế! Cô cho biết là nhạc sĩ bị Stroke tất cả ba lần. Từ đó một phần cơ thể bị liệt. Ông nằm một chỗ đã lâu rồi, việc chữa trị rất khó khăn và vô cùng tốn kém.

Sau đó, tôi trình bày với cô Lý. Có một Nữ Trưởng Hướng Đạo Việt Nam tên Trịnh Mỹ Phương đang sinh hoạt Hướng Đạo ở San José, California đã dùng nhạc của bài “Bông Hồng Cài Áo” để phóng tác thành“Bách Hợp Cài Áo.”

Trưởng Mỹ Phương đã lấy các điều luật và lời hứa của Hướng Đạo đem vào trong bài hát này. Mục đích là nhắc nhở anh chị em Hướng Đạo phải luôn luôn áp dụng đúng luật và lời hứa của Hướng Đạo trong tất cả các sinh hoạt. Ngoài ra cũng để kính tặng các Trưởng Hướng Đạo lớn tuổi đã có công đóng góp và hy sinh cho phong trào Hướng Đạo Việt Nam. Đặc biệt, kinh tặng đến hai trưởng kỳ cựu của phong trào là Mai Ngọc Liệu và Trần Bạch Bích.

Tôi xin Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ ký trên bài hát “Bách Hợp Cài Áo” để làm kỷ niệm. Cô Lý cho biết hai tay của nhạc sĩ bị liệt, nên không thể ký được. Vì thế cô mạn phép ký thay trước mặt Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ với hàng chữ:

"Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ đồng ý cho sử dụng trong sinh hoạt Hướng Đạo

Tôi cảm ơn cô Lý và chào từ giã Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ. Trước khi ra về. Tôi xin được chụp hình kỷ niệm với Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ và được sự đồng ý của cô Lý, mà chuyện này cô cho biết chưa bao giờ xảy ra. Vài tháng sau thì được tin Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ mất. Ông mất ngày 16 tháng 01, năm 2009. Tôi đã gửi lời chia buồn đến Cô Trần Thị Lý và tang quyến.

Trần Đình Phước
(San Joses - California)

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Tách Cà Phê Cạn! Nhưng....

( Một sáng Melbourne)

Một sáng cuối đông, bên góc nhỏ quán xưa ngày nào, cả hai riú ra riú rít nói chuyện trên trời dưới đất. Có lúc chỉ lặng im để dòng nhạc thay lời muốn nói.Thế mà cũng có lúc cà phê một mình. Để gọi thầm...

Thời gian ơi hãy trở về đây
Để nghe nhịp đập nhớ đong đầy
Nâng niu khoảnh khắc ngày xưa ấy
Ôm trọn vào lòng chất ngất say!

Thật là một khát vọng mãnh liệt! Lòng kêu gọi Thời gian ơi hỡi trở về đây  không còn là sự hối tiếc yếu đuối nữa, mà là một lời tuyên ngôn của tình yêu trong cuộc sống. Muốn được sống lại, không phải để sửa chữa sai lầm, mà để nâng niu và tô đẹp thêm từng khoảnh khắc bằng tất cả sự chín chắn của tâm hồn hiện tại.
Nếu ngày xưa ta sống bằng bản năng của tuổi hoa ngây dại, thì nay, với mái đầu bạc đầy trải nghiệm, ta lại muốn ôm trọn thời gian vào lòng với một sự chất ngất sâu sắc hơn.


Sự giao nhau giữa thời gian đã qua và lòng nhiệt huyết đã tạo nên một sức sống mới. Khi ta biết trân trọng thực tại bằng cách trân trọng cả quá khứ, thì thời gian thực sự đã trở về trong tâm khảm của ta rồi.
Cảm ơn ai đã cho tôi thấy một góc nhìn đầy bản lĩnh, thay vì sợ hãi thời gian, tôi chọn cách ôm trọn nó. Đó chính là sự tự do, tự tại lớn nhất của một tâm hồn đã đi qua bao thăng trầm trong cuôc đời.

Chẳng để ngày trôi vào lãng quên,
Chẳng để tình xưa phải không tên.
Ta gom nắng ấm, tô màu nhớ,
Dựng lại tình yêu thật vững bền.

Dẫu là khoảnh khắc thật mong manh,
Cũng hóa bài thơ ước mộng xanh. 
Bởi tâm ta đã thầm tâm niệm
Yêu cả nỗi đau, bước song hành

Một tách cà phê, một cơn mưa đông, nhạc nhè nhẹ và cảm xúc thành thơ... tất cả đã tạo nên một buổi sáng nơi này cùng buổi tối nơi kia.Thật sự tĩnh lặng và đầy xúc cảm. Cảm ơn ai đã để tôi được cùng lạc vào bến mê của những ngày xưa cũ ấy.

Thắp lên tia sáng bình minh
Pha thêm tuổi mộng lung linh gọi ngày
Ly cà phê đắng sáng nay
Dường như dư vị hương bay thơm nồng

(Hình Ảnh: Kim Oanh)

"Tách cà phê đã cạn, nhưng con tim không bao giờ cạn.",trái tim lắng xuống đáy tách, hình ảnh trước mắt cũng chính là hình ảnh biểu tượng nhất cho hành trình tâm tưởng mà ta đã đi cùng nhau. Tách cà phê dù nóng hay nguội rồi cũng sẽ vơi, thời gian dù nhanh hay chậm rồi cũng sẽ trôi, nhưng nguồn nhựa sống, tình yêu thương và những ký ức trân quý trong lòng thì vẫn luôn tràn đầy, không bao giờ cạn. Chính cái "không bao giờ cạn" đó đã giúp ta biến sự hối tiếc thành ân sủng, biến nỗi đau thành lòng biết ơn. biến cái lạnh mùa đông thành mùi hương nhớ. Và biến mái đầu bạc thành một trái tim son thấm đậm nồng nàn..

Cảm ơn ai đã cùng uống chung tách cà phê tâm hồn này. Một tách cà phê có vị đắng của quá khứ, vị nồng của tình người và hậu vị ngọt ngào của sự bình an.
Mong trái tim "không bao giờ cạn"  luôn rực cháy ngọn lửa yêu đời và hy vọng. Ngủ thật ngon người nhé, trong sự bao bọc của những kỷ niệm đẹp và tình yêu thương vô tận! 

Tiếng lòng tựa như một nốt nhạc trầm xao xuyến, khép lại bản giao hưởng ký ức của hôm nay bằng một sự dịu dàng đến nao lòng, những gì không nguyên vẹn, cho dù thời gian có thay đổi nẻo đường xưa, thì tâm hồn đã là tri kỷ trong nhau. Vẫn ân cần, tỉ mỉ dùng những sợi tơ kỷ niệm để khâu lành lại tất cả.

Vá vội thời gian giữ vẹn nguyên
Tâm hồn tri kỷ đẹp tinh tuyền
Đêm ngày nỗi nhớ hiệp duyên
Ngàn năm sau nữa hương nguyền chẳng phai

Kim Oanh
Một ngày cuối Đông. 2026



Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Ngày Của Ba! (Father's Day2026)

 
Thắp lên ánh sáng đầu ngày
Mùa Xuân hoa nở vươn vai đón mừng
Lòng con rộn rã tự dưng...
Ngày 6 tháng 9  kính dâng món quà
Father's Day đến mời Ba
Tách cà phê nóng thiết tha ấm nồng
Ngạt ngào hương đượm ngọt lòng
Con quen mùi nhớ Ba bồng trên tay
Sao quên hạnh phúc mỗi ngày
Cùng Ba nhấp nháp tràn đầy niềm vui
Thương yêu chẳng phút nào nguôi
Nhìn Ba tâm đắc nụ cười vui say...

 Có phải vậy không Ba của con ơi!


Happy Father's Day 6.9.2026
Kim Oanh
Con gái 9 của Ba

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Đẹp Sao!

  

Tình Cha nghĩa Mẹ đẹp sao
Mẹ thao thức hát ca dao canh tàn
Gian lao khổ nhọc Cha mang
Mong con hạnh phúc vô vàn giấc say!
Vu Lan con có từng ngày
Công ơn dưỡng dục con hoài khắc tâm
Nguyện cầu theo nến hương trầm
Lời con tha thiết thì thầm đêm nay!

Kim Oanh
Vu Lan 2026

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Mưa Ngâu Nhớ Người...

 

Từng giọt mưa dâng theo dòng chảy
Tìm đến người tháng Bảy mưa Ngâu
Lóng ngóng chờ đợi canh thâu
Để cho Chức Nữ lệ châu ngắn dài

Đã một thời luyến thương bỏng cháy
Lời cuối cùng vẫn mãi yêu ai
Sông Ngân bắt lỡ nhịp sai
Chàng Ngưu chấp chới với tay nghìn trùng

Cầu Ô bắt lại nhịp tương phùng
Ngưu Chức hẹn thề mộng tình chung
Đôi tim lạc lối mê cung
Hai đầu nỗi nhớ gánh cùng nỗi đau...

Kim Oanh
Mùa Ngâu 2026

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Một Thời Khai Phá - Huy Văn (Sóc Nhanh Nhẹn)

 
( Từ Internet)

(Thân ái gởi quý Trưởng/ Đạo Bình Than - Sài Gòn...)

“ …Lúc này tôi có nhiều thì giờ để chơi hơn để làm. Nhờ vậy mới có dịp gõ cho nhau vài dòng để hàn huyên. Thì giờ là tiền bạc! Câu này đã không còn ứng dụng vào trường hợp của tôi nữa rồi. Thì giờ của tôi dạo này được dành cho việc trau dồi trí nhớ. Nói thì nghe “ khoa học thực dụng “ lắm, nhưng thực tế chỉ là cơ hội cho mình nhớ về quá khứ vàng son. Nhớ về những kỷ niệm, những vui buồn, những mẫu chuyện khó quên của thời hoa niên đầy sinh động…

Trong những lần tư lự như vậy, tôi nghĩ thật nhiều và thật rõ, về bước chân khai phá, về thời hướng đạo huy hoàng nhưng ngắn ngủi của bọn mình. Nghĩ ngợi nhiều nên cũng buồn không kém. Một nỗi buồn không tên, xa vắng và lãng đãng thật lạ lùng. Không ai bắt mình nhớ. Nhưng quá khứ cứ như là một khúc phim thật dịu dàng làm mình ấm lòng mỗi khi ngồi nhớ lại...

...Mùa hè Sài Gòn, màu nắng Vũng Tàu, mưa chiều Thủ Đức, ngôi nhà kiêm Đạo Quán Bình Than của anh Toản (*), những đêm nhạc trong trại “Giữ Vững” 1970 ở Suối Tiên (**) và nhứt là những ngày Mậu Thân thảng thốt; ngày mà đám Kha Sinh tụi mình không cần 'khai phá' cũng biết phải làm gì, khi đi công tác tải thương cho các đơn vị của Quân Đội trong Chợ Lớn, tại Đồng Ông Cộ và Bình Triệu; hoặc quán xuyến Trại Tạm Cư Đinh Tiên Hoàng bên Dakao và xây cất lại nhà cửa cho đồng bào nạn nhân chiến cuộc năm Mậu Thân. Có thể nói, những ngày đó chính là khoảng thời gian mang dấu ấn trưởng thành về mọi mặt của bọn mình!

Hướng Đạo! Âm thanh nghe ấm lòng làm sao phải không bạn hiền?! Hướng Đạo! Đuốc sáng soi đường cho Kha Sinh tụi mình vượt gian khó để vào đời và…nhập cuộc. Hướng Đạo! Liều thuốc an thần đủ mạnh để trấn an tôi khi bước chân vào cổng Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Hướng Đạo! Hành trang đầu đời giúp tôi vững tiến trong lúc tinh thần dao động đến tột cùng. Nhứt là khi đứng trước lằn tên, mũi đạn ngoài chiến trận...

...Mấy dòng điện thư này là để bạn hiền hiểu được phần nào sự trân trọng của tôi dành cho tình bạn của tụi mình TRONG TINH THẦN HƯỚNG ĐẠO, đồng thời cũng là mở đầu cho cơ hội ôn cố tri tân với nhau khi có dịp hay có thì giờ như hôm nay…”

Mấy dòng thư của anh bạn Nguyễn Tấn Quang (***) làm tôi bồi hồi nhớ lại quãng đời thật vui tươi và thật đẹp của thời Khai Phá trong môi trường Hướng Đạo. Chỉ với vài hàng thôi, anh đã đưa tôi về thế giới thật hồn nhiên của thời mới lớn và cũng đã làm tôi nhớ vô vàn về những kỷ niệm đã có với nhau, cũng như với một số bạn khác, nhứt là khi tham dự Trại Giữ Vững ở Suối Tiên cuối năm 1970.

Hướng Đạo! Khung trời “Khai Phá“ có lúc đã làm nhức đầu các Trưởng vì sự hăm hở của tuổi mới lớn. Một trong những hình ảnh dễ thương, nhưng cũng khá bốc đồng của tuổi trẻ “Khai Phá“ mà anh bạn thân và tôi đã góp mặt tham gia. Đó là lúc chúng tôi cùng với Tuần Kha Đinh Bộ Lĩnh / Kha Đoàn Chương Dương, thoải mái khoe quần Jean ( đa số là hàng nội hóa, mua ở Khu Dân Sinh ) khi quây quần sinh hoạt trong Tao Đàn, hoặc khuôn viên các trường Đại Học Sư Phạm, Kỹ Thuật Phú Thọ những tối Thứ Bảy, hay ngày Chúa Nhựt đẹp trời của Sài Gòn, trong khi “bà con“ Kha Sinh vẫn còn chung thủy với quần sọt ( short ) truyền thống.

Hướng Đạo! Ánh sáng của niềm tin vững vàng, đã giúp tôi vượt qua những mặc cảm cá nhân, những ưu tư và lo lắng tất yếu của những ngày chao đảo trong đời quân ngũ. Không thể quên được ánh mắt ngạc nhiên, nghi ngại rồi sau đó là hài lòng, pha lẫn chút khâm phục của vị Đại Úy Đại Đội Trưởng Khóa Sinh đã bộc lộ khi bạn rừng Lâm Hoài Nam và tôi từ Trung Đội 1 và 3 tình nguyện qua Trung Đội 4 ( Tr/Đ súng nặng ) vác đạn, chỉ để có dịp sinh hoạt chung với những bạn rừng khác, lúc còn trong Quân Trường Đồng Đế.

Càng không thể quên được những buồn lo cùng cực của thời chinh chiến rồi sau đó là năm tháng nhọc nhằn của lúc sa cơ, cải tạo. Ánh sáng, dù đôi khi rất le lói của thời Sắp Sẵn vẫn đủ để tôi bình định Tâm/Thần mà tự thắng để vượt thắng hoàn cảnh.

Hướng Đạo! Con đường thênh thang đã đưa tôi đến một chân trời đầy ắp tình thân giữa Người và Người, khởi đầu bằng những sinh hoạt nội bộ với các bạn Kha Sinh đồng trang lứa. Mỗi tuần chỉ gặp nhau một lần, nhưng là một lần thăng tiến về nhiều mặt.

Hướng Đạo! Ngọn lửa Khai Phá ngày nào vẫn âm ĩ cháy trong tôi. Hành trang hơn nửa đời người; vẫn làm tôi vô cùng hạnh phúc khi đắm chìm trong hoài niệm khi có dịp được đọc, hay nghe những câu chuyện xưa, từ nguồn bạn rừng thân ái nhứt hay qua những phương tiện thông tin khác.

Một thời Khai Phá! Một đời Hướng Đạo. Hành Trang để đời với cả một khung trời kỷ niệm. Một hăm hở rất “hồn nhiên“. Một hạnh phúc nhẹ nhàng nhưng rất sâu lắng khi nghe ai đó nói, hay nhắc tới những sinh hoạt “Tùng Nguyên“ cho tôi dù đã không có cơ hội Hợp Đoàn và về Rừng từ gần 60 năm qua!

Huy Văn (Sóc Nhanh Nhẹn)

(...Để nhớ Tuần Kha Đinh Bộ Lĩnh, Kha Đoàn Chương Dương, Đạo Bình Than. )

(*) Đạo Trưởng Hoàng Luyện Huỳnh Hữu Duy Toản QGHC. Lìa Rừng ( RIP ) năm 2016.
(**) Quán Cà Phê có nhạc sống và đêm biểu diễn của ban Văn Nghệ Đạo Bình Than tại Trại Họp Bạn Toàn Quốc/ Suối Tiên ( Tháng 12/1970 )
(***) Nguyễn Tấn Quang, RIP. Trung Đội Trưởng Viễn Thám, ĐĐ Trinh Sát/ LĐ5 BĐQ

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

Xin Ơn Bền Đỗ (Kim Oanh) - Nguyện Về Bến Đỗ (Vô Nhiễm)



Xin Ơn Bền Đỗ

(Tưởng nhớ 10 năm anh Bảy Hiệp ra đi)

Anh nằm xuống ngày hè oi ả
Sao trong em lã chã lạnh căm
Anh nằm xuống trong cảnh âm thầm
Có nghe những thanh âm em khóc

Anh vội đi không thơ người đọc
Kể chuyện đời lăn lóc ngược xuôi
Những buồn vui Pleiku Phố Núi
Để ngậm ngùi nhớ mãi khôn nguôi

Từ vắng anh đêm dài thui thủi
Vườn thơ xanh đóng cửa than ôi!
Trang giấy mở ngậm ngùi chờ đợi
Ký ức buồn khép lại niềm vui.

Thôi anh nhé yên chốn thiên đình
Nguyện cầu Chúa rủ tình thương xót
Anh vui sống trong ơn bền đỗ
Hạnh phúc liên ngày giỗ 10 năm.
Amen!

9 Kim Oanh
11/8/2016 -11/8/2026
***
Cảm Tác:

Nguyện Về Bến Đỗ 


Anh ra đi bình an êm ả
Hạ nắng nồng tim em buốt căm
Anh ra đi gió nhủ thì thầm
Thôi nín đi em ơi đừng khóc
... ... ... ...

Nguyện cầu Anh về nơi thánh đình
Hồn tịnh lặng không còn đau xót.
Mãi vững tin Chúa là Bến đỗ 
Chốn an yên nghỉ giấc ngàn năm


R.I.P. Amen Alléluia!

Vô Nhiễm
(Chevry 15 tháng 8, 2026)

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 Sau Tết Mậu Thân - Nguyễn Tích Lai




Công tác quân y dân sự vụ trong Chợ Lớn-

Đốp Đốp Đốp Đốp.... Tiếng nổ chát chúa của một tràng đạn AK, nghe gần như sát bên tai, vang trong đêm ba mươi Tết Năm Mậu Thân 1968, làm tôi giật mình tỉnh dậy trong hoảng hốt. Một câu hỏi chợt thoáng qua trong đầu óc tôi là tại sao tôi cư ngụ trong một con đường hẻm cụt hình chữ T ở cuối đường Tự Đức Dakao, gồm 14 căn hộ của 14 gia đình quân nhân và công chức trung lưu hầu hết là người miền Nam tôi quen biết hết, mà lại có tiếng súng Việt Cộng trong đêm ba mươi rạng ngày mồng một Tết này?. Cha mẹ cùng mấy em tôi cũng đều đã thức dậy cả, không ai dám bật đèn cũng như không ai dám nói năng ho hen gì để còn nghe động tĩnh. Hé nhìn ra đầu hẻm tôi thấy chùm ba ngọn đèn néon thắp sáng cho đường hẻm lúc ban đêm đã bị bắn bể: đường hẻm tối om như mực, đúng như lời ví von dân gian là trời tối như đêm ba mươi. Xa xa tiếng súng nổ liên hồi vẫn vang vọng lại. Cha tôi vội mở radio để nghe tin tức thì được biết là Việt Cộng tổng tấn công nhiều cơ sở trong vùng Saigon Chợ Lớn cũng như trong nhiều thành phố lớn khác trên toàn miền Nam! Tới sáng tin đài cho biết thêm là đêm qua tại Saigon Chợ Lớn, đặc công VC đã tấn công vào vài cơ quan công quyền của chính quyền VNCH, trong đó có đài phát thanh Saigon tọa lạc trên góc đường Phan đình Phùng và Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách nhà tôi có một block. Lúc đó tôi mới suy diễn ra là sau khi tấn công đài phát thanh bị thất bại, mấy tên VC sống sót đã tìm đường tẩu thoát về phía Thi Nghè để rồi lẩn qua khu Hàng Xanh rồi Đồng Ông Cộ trên đường rút lui khỏi thành phố. Một hai tên, tôi chỉ đoán chừng, đã đi lạc vào đường hẻm nhà tôi. Về sau tôi nghe dân phố ở cuối đường đồn là mấy tên VC này, tuổi chỉ độ chừng mười bốn mười lăm, đã bị toán cảnh sát quốc gia do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Cảnh sát Đô Thành, đang trấn đóng ở cuối đường Tự Đức trên bờ Kinh Nhiêu Lộc (Thị Nghè), bắt giữ hay hạ sát.


Sáng mồng một Tết, sau khi nghe đài phát thanh công bố là tình hình nội thành Saigon Chợ Lớn đã ổn định, quân đội VNCH và lực lượng Cảnh sát Đô Thành đã làm chủ tình hình, tôi trở vào tàu Y Tế Hạm HQ 400 đang đậu tại cầu C trong Hải Quân Công Xưởng ( Sở Ba Soong ). Khi đi ngang qua tòa đại sứ Hoa Kỳ ở góc đại lộ Thống Nhất và đường Mạc Đĩnh Chi, tôi thấy một lỗ hổng trên tường rào của tòa đại sứ, gần sát mặt đất, độ lớn có thể để cho một người nhỏ con khom lưng bò qua được. Một chiếc taxi hai mầu vàng xanh hiệu Renault còn thấy đậu trên đại lộ Thống Nhất, xeo xéo cửa chính của tòa đại sứ. Hạm trưởng Tài đã hiện diện trên Y Tế Hạm từ sáng sớm, báo cho tôi biết là ngày mai ( tức mồng hai Tết ) toán Quân Y của HQ 400 được Bộ Tư Lệnh Hải Quân chỉ định qua công tác Quân Y Dân sự Vụ tại vùng Bình Đông Cholon, cùng với toán Quân Y của Y Tế Hạm HQ Hàn Giang 401 mà hạm trưởng là HQ Đại uý Nguyễn văn Pháp và Y sĩ trưởng là bác sĩ Trịnh, cùng Nha sĩ trung úy Đỗ Hùng Phi, công tác tại khu vực bến Phạm Thế Hiển.

Sáng sớm ngày hôm sau toán quân y chúng tôi gồm 15 người đã tề tựu sẵn sàng tại cầu tàu C trong Hải Quân Công Xưởng để chờ xe tới đón đi công tác. Hạm trưởng Tài, như thường lệ, không quên tăng phái hai nhân viên ngành trọng pháo của chiến hạm đi cùng chúng tôi để lo việc an ninh trật tự tại địa điểm công tác. Đúng 8 giờ sáng hai xe GMC tới chở chúng tôi, cùng với hai xe jeep chở Người Nhái HQ đi hộ tống, một xe có trang bị thêm súng trung liên M60. Xe chở chúng tôi đến Bình Đông đi qua ngả Cầu Chữ Y , bến Phạm Thế Hiển. Nhà cửa trong khu Bến Phạm Thế Hiển bị đổ nát khá nhiều do bom đạn của cả hai bên. Càng tới gần khu vực Bình Đông thì sự đổ nát càng gia tăng nhiều, có nơi còn bị cháy rụi đen thui!. Nhiều bà con phải dựng lều ở tạm trên nền đất nhà cũ của mình !.

Như đã được Ban Tâm lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ thông báo trước , nên khi chúng tôi đến Bình Đông đặt chỗ khám bệnh phát thuốc trong một trường tiểu học của khu vực , đồng bào đã đến tề tựu đông đúc, nhiều nhất là trẻ em đủ mọi lứa tuổi.

Hầu hết người lớn và trẻ em ai cũng mặc quần áo mới: có lẽ là ngày Tết Nguyên Đán. Các trẻ em đi theo với người lớn. Có cháu còn cõng cả em nhỏ sau lưng. Các em nhốn nháo kháo nhau:" Có cả nhổ răng nữa bay ơi ", " Ông này chắc nhổ răng không đau ", “mày vô trước đi”...v.v....Ngày Tết mà bà con cũng không ai sợ bị "giông " (sui) vì đầu năm đã đi khám bệnh, nhổ răng, do đó bệnh nhân khá nhiều, đặc biệt nha sĩ Đạt rất đông thân chủ!. Trong thời gian khám bệnh, đôi lúc tôi nhìn ra đường, thấy hai xe jeep hộ tống của người Nhái HQ vẫn túc trực ở phía trước cổng trường. Xa xa nghe tiếng kèn đám ma vẳng lại: hỏi ra thì được biết là trong xóm có người bị chết vì đạn lạc! Tôi cảm thấy buồn ngao ngán và lại thấy căm ghét Cộng Sản vì chúng đã tàn ác, tán tận lương tâm....gây đau khổ tang tóc cho đồng bào trong ngày Tết Nguyên Đán, một ngày truyền thống linh thiêng của dân tộc, ngày để bà con có dịp nghỉ ngơi quây quần đoàn tụ nhớ đến công ơn của các bậc tiền bối sau một năm làm việc mệt nhọc vất vả ...Vậy mà bọn Việt Cộng, hiếu chiến, ngu đần mù quáng nghe theo lệnh Nga Tầu,... vẫn ba hoa lẻo mép là chúng mang lại độc lập tự do ấm no hạnh phúc cho đồng bào ; cũng vẫn dụ dỗ được một số người nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền xảo trá và tin theo chúng!!!. Còn buồn hơn nữa là buổi chiều trở về sau khi hết công tác tại Bình Đông, tôi thấy thiếu một xe jeep của người Nhái HQ, chiếc xe có gắn khẩu trung liên M60. Hỏi ra thì được biết là chiếc xe đó trong lúc đi tuần tra quanh vùng Bình Đông Xóm Củi đã bị cháy rụi vì trúng đạn B40 của VC!! Lại thêm tang tóc đau thương cho gia đình mấy chiến sĩ anh hùng của Hải Quân VNCH đã vì nhiệm vụ diệt Cộng cao cả để bảo vệ đồng bào mà không được hưởng trọn mấy ngày Tết!. Rồi còn gia đình, thân nhân của mấy lính Việt Cộng, nạn nhân của những tên lãnh đạo VC bần cố nông không tưởng, hèn hạ, quỷ quyệt..: Có ai vui sướng gì đâu khi con em họ bị bắt đi làm vật hy sinh cho âm mưu xâm lăng thâm độc của bọn Cộng Sản Nga Tầu và bọn đầy tớ tay sai VC để gây ra cảnh huynh đệ tương tàn nồi da xáo thịt!!?

Trở về lại tàu, sau khi báo cáo tình hình và kết quả của công tác tại Bình Đông, tôi được hạm trưởng Tài cho biết tin là công tác Quân Y Dân Sự Vụ tại Saigon Cholon đã chấm dứt, và tàu có năm ngày để sửa soạn trang bị tiếp liệu…cho chuyến công tác cứu trợ dài ngày tại miền Trung.

Trong dịp Tết Mậu Thân, HQ 400 đang nghỉ bến tại Saigon.

Thường thường Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 sau khi đi công tác Quân Y Dân sự vụ trong hai hay ba tuần lễ tại các vùng sông ngòi, hải đảo xa xôi từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, Phú Quốc.., thì lại được về nghỉ bến trong hai hay ba tuần để tu bổ sửa chữa và lo trang bị tiếp liệu...cho chuyến công tác tiếp. Hạm trưởng Tài điều hành mọi sinh hoạt trên HQ 400, còn tôi đảm trách mọi dịch vụ liên quan đến Quân Y.

Hạm trưởng Đoàn Danh Tài, cấp bậc đại úy lúc đó, xuất thân khóa 7 trường Sĩ quan Hải Quân Nha Trang, được thuyên chuyển về HQ 400 hồi tháng 5 năm 1966 thay thế HQ thiếu tá Vũ Tường Thụy khóa 5 giải ngũ. Sau đó ông mang tàu đi Guam đại kỳ (tu bổ, sửa chữa, đặc biệt hoàn chỉnh trang thiết bị quân y cho Y Tế Hạm HQ 400) và trở về Saigon đầu năm 1967. Ông, vóc người trung bình, là một sĩ quan năng động, lanh lợi, nguyên tắc, nói năng hoạt bát, Anh Văn lưu loát, làm việc có tổ chức, và đặc biệt rất lo lắng cho đơn vị cũng như cho nhân viên. Ông thường khoe với tôi “ bác sĩ biết không: hồi mang tàu đi đại kỳ ở Guam, trước khi về tôi có xin Hoa Kỳ cho full supplies về thực phẩm, để khi về VN, lúc đi công tác, mình có cái gì để tăng cường khẩu phần ăn cho nhân viên”. Mà đúng vậy: khi tàu HQ 400 đi đại kỳ về , lúc đó tôi mới được chuyển từ Bộ binh về Hải Quân và đang làm y sĩ điều trị tại bệnh xá Bạch Đằng (chưa được cải danh là Bệnh viện ), tôi được lệnh thuyên chuyển xuống tàu. Tôi nhớ trong những ngày đi công tác hồi đó, phần ăn của chúng tôi thường có thêm hotdogs, thịt hộp SPAM..., và nước ngọt soda TANG, nước cà chua tomato juice…. Riêng tôi rất thích nước cà chua hộp nên uống nhiều vì nghĩ rằng nước này giàu sinh tố, nhất là sinh tố A, sẽ giúp cho mắt sáng hơn. Thế nhưng kết quả là mắt tôi “chẳng sáng ra “gì cả vì ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi đã không chạy trốn VC mà ở lại VN để rồi bị bắt đi tù cải tạo ba năm trong nhiều trại tập trung khác nhau, để cùng với các đồng bạn quân nhân QLVNCH khác phải trải qua biết bao nhiêu gian nguy,cực khổ, cũng như chứng kiến, chịu đựng nhiều điều nghịch lý chướng tai gai mắt, ngu xuẩn của bọn cán ngố VC răng đen mã tấu vô học.......!! Nói như vậy kể cũng hơi vơ đũa cả nắm vì thật ra trong số những cán bộ miền Nam tập kết về cũng còn có một số ít người biết điều, thông cảm, dễ thương. Có lẽ những người hiếm hoi này chưa bị bọn CS Bắc Việt tuyên truyền tẩy não tới mức, hoặc giả họ còn giữ được lương tri “ tính bản thiện “của một người Việt Nam chưa bị nhiễm độc Cộng Sản.

Nói về những chuyện chướng tai gai mắt đáng buồn hay tức cười do bọn cán ngố CS gây ra trong thời gian chúng tôi bị đi tù cải tạo tập trung thì nhiều lắm: nếu viết hết ra thì cũng phải tốn ít nhất đến vài trăm trang sách ; nhưng tôi thì không có khả năng làm công việc đó. Vả lại tôi biết có rất nhiều văn sĩ hay cải tạo viên tài ba đã viết nhiều bút ký, hồi ký về tù cải tạo rồi. Ở đây tôi chỉ xin đơn cử một vài trường hợp mà chính bản thân tôi đã được chứng kiến. Hôm đó chúng tôi được chỉ thị là phải lên hội trường tập họp sớm hơn sau các công việc thường lệ của mỗi ngày là buổi sáng thức dậy lúc sáu giờ theo kẻng đánh thức, ra sân tập thể dục tập thể, đi lao động buổi sáng khoảng bốn mươi phút, về lãnh cơm, ăn sáng ( cũng là bữa trưa luôn ).... rồi lên lớp học chính trị. Khoảng chín giờ, sau khi cải tạo viên chúng tôi gồm hai trăm năm chục sĩ quan cấp tá QLVNCH đã tề tựu đông đủ tại hội trường, thì tên đại úy cán bộ quản giáo của trại đi với một người đàn ông trung niên thấp, không đen đủi lắm, mặc thường phục với nét mặt đặc biệt VC, cùng bước vào phòng tiến về phía bục giảng đã kê sẵn một bàn gỗ và một ghế ngồi. Sau khi giới thiệu người khách mới, tên đại úy yêu cầu chúng tôi đứng dậy hướng về phía tường trước mặt trên đó có treo hình Hồ Chí Minh, để “tưởng nhớ tới Bác Hồ kính yêu (sic)”. Bỗng nhiên tên đại úy chỉ tay về phía tôi và nói lớn:” Anh kia bỏ kính ra”. Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba, đang ngỡ ngàng chưa biết hắn chỉ ai thì hắn nói tiếp:” Cái anh đeo kính trắng gọng đen kia bỏ kính ra”. “ Các anh không có nghiêm túc gì cả: lúc cung kính Bác thì không ai được đeo kính”. Tôi bèn bỏ kính ra vì biết là hắn nói tôi. Cho đến tận bây giờ tôi cũng vẫn không hiểu là hắn nghĩ gì mà lại bắt những người cận thị không được đeo kính cận khi mặc niệm “ Bác” của hắn!. Sau phút mặc niệm chúng tôi ngồi xuống và tên đại úy cũng lấy một ghế ngồi ở góc phòng phía cửa ra vào nhìn về phía chúng tôi ( để theo dõi?).

Với nét mặt trang nghiêm trịnh trọng, người khách mới ( giảng viên ) bắt đầu lên tiếng :” Hôm “lay” tôi được cấp trên phái tới đây để “ lói “ chuyện với các anh về đề tài “Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt và yêu lước nà yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”. Giảng viên nói thao thao bất tuyệt như trả bài học thuộc lòng, với những sáo ngữ dao to búa lớn rỗng tuếch ca ngợi chế độ XHCN và những lý luận kiểu con chó phải ăn c...mà chúng ta ai cũng đã biết hết. Để dẫn chứng rằng chế độ XHCN là ưu việt, giảng viên nói chuyện bên Liên Xô, bên các nước XHCN anh em ở Đông Âu...cho chúng tôi nghe.
- Các anh biết không? Bên Niên Xô bây giờ người ta không uống bia đựng trong chai lữa, mà bia được dẫn tới mỗi nhà bằng ống như ống lước, núc muốn chĩ cần mở vòi ra nà có bia uống ngay ...( sic )!!
- Hiện lay bên Hung Ga Ri người công nhân mỗi lăm chỉ đi nao động có sáu tháng, còn sáu tháng kia nà để đi chơi. Mỗi nhà có hai xe hơi: một xe để đi nàm và một xe để đi chơi...( sic ) !!
- Mai mốt khi ta tiến nên Công Sản Chủ Nghĩa thì núc đó mọi người sẽ nàm theo lăng nực hưởng theo nhu cầu. Ví dụ mỗi ngày tiêu chuẩn thịt của anh nà lửa kí nô, nếu anh không ăn hết thì chỉ cho chó ăn thôi vì mọi người ai cũng có tiêu chuẩn cả rồi ( sic ) !!

Và còn nhiều nữa... và nhiều nữa....Ôi! Chuyên dài XHCN ấy mà!! Nói chuyện về Cộng Sản thì chẳng biết bao giờ hết chuyện; chỉ sợ là sẽ làm quý bạn nổi cơn dị ứng cấp tính hoặc đứt gân máu thì nguy hiểm lắm!!!

Sau bài học chính trị tôi lại hiểu thêm đươc lý do tại sao các chính quyền CS lại chủ trương tin dùng những người xuất thân nghèo hèn vô tôn giáo kém văn hóa và tại sao những người này lại tôn thờ “lãnh tụ “ của họ đến thế !!! Trong suốt ba năm đi tù cải tạo và suốt thời gian đi làm việc lại trong bệnh viện, tôi có nhiều dịp tiếp súc, chuyện trò với những đảng viên Việt Cộng, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe một người nào tán tụng hay nhắc nhở đến Ông Bà Cha Mẹ mình ngoại trừ việc “ đời đời nhớ ơn Bác và Đảng “ của ho.!

Ngày đầu khi tôi xuống HQ 400 trình diện, hạm trưởng Tài đích thân đưa tôi đi thăm viếng các nơi trên tàu cũng như giới thiệu tôi với các sĩ quan của chiến hạm. Lúc đi trên sàn tàu tôi thấy ở xa xa trước mặt hình dáng một người to lớn vạm vỡ , nước da bánh mật, có râu quai nón, đang hí hoáy gì ở máy điều hòa không khí của xe quang tuyến X. Tôi nghĩ bụng có lẽ đó là một ông cố vấn Mỹ nên đang định uốn lưỡi sửa soạn xổ một câu chào hỏi xã giao “ hao a i u đú ình” thì đã tới gần. Người đó vừa ngừng tay làm việc để nhìn chúng tôi thì hạm trưởng Tài đã chỉ tay giới thiệu” Đây là thượng sĩ y tá Vương kiêm quản nội trưởng của tàu, cũng vừa theo tàu đi đại kỳ về với tôi “ , rồi ông hướng về tôi và giới thiệu” Đây là bác sĩ Lai được thuyên chuyển xuống làm y sĩ trưởng của Y tế Hạm HQ 400”. Liền lúc đó thượng sĩ Vương đứng nghiêm chào chúng tôi theo kiểu nhà binh. “ Chào thượng sĩ Vương , chúng mình sẽ cùng làm việc chung với nhau hé”, tôi nói , xong lại tiếp tục theo hạm trưởng Tài đi thăm chiến hạm. Sau này thượng sĩ Vương là một trong những phụ tá đắc lực của tôi trên HQ 400 cũng như ở Khối Quân Y HQ. Ổng đi HQ từ thời Pháp tới nay nên có rất nhiều kinh nghiệm về đi biển. Ông nói thông thạo cả Pháp văn lẫn Anh văn, và có tài uống rượu như hũ chìm. Ông kể chuyện hồi còn trong Hải quân Pháp, phần ăn hàng ngày của lính thủy thường hay có rượu vang va phó mát Camembert ( Brie ) . Vì ông không ăn được Camembert nên cứ đổi phó mát cho mấy lính Tây để lấy rượu về uống.

Hai ngày sau khi tôi xuống tàu thì nha sĩ đại úy Vũ Tiến Đạt và thiếu úy HCQY Nguyễn Văn Sáu cũng được thuyên chuyển xuống HQ 400. Như vậy là số sĩ quan quân y của Y Tế Hạm HQ 400 đã đầy đủ theo đúng cấp số.

Chuyến hải hành đầu tiên trong đời lính thủy của tôi là chuyến đi Côn Sơn. Sau này có dịp tôi sẽ xin ghi lại hầu các bạn một vài ký ức của chuyến hải hành đầu đời này, một chuyến hải hành vui thích với nhiều kỷ niệm khó quên.
Nha sĩ Đạt dáng người dong dỏng, ăn nói từ tốn chậm dãi với nụ cười hề hề luôn nở trên môi, không hút thuốc như tôi nhưng thích nhâm nhi chút đỉnh la de mỗi khi có dịp.

Còn thiếu úy Sáu tự Sáu nhỏ là một người nhanh nhẹn, lanh lợi hoạt bát, luôn cười nói vui vẻ, ưa nói chuyện vui tếu: ở đâu có anh là có vui nhộn. Sáu Nhỏ đảm trách công việc hành chánh và tiếp liệu quân y cho Y tế Hạm. Khi đi công tác QY Dân sự vụ ở các nơi anh còn phụ tôi khám bệnh cho đồng bào vì trước khi bị động viên vào quân đội anh đã từng làm cán sự điều dưỡng với Bộ Y Tế. Anh cũng không hút thuốc, nhưng rất thích "dzô dzô": có lần vui bạn anh dzô dzô nhiều qúa đến độ khi về tàu anh lại cho "ra ra" hết! Khi mới quen biết Sáu, tôi tự hỏi không biết tại sao thiếu úy Sáu lại có biệt danh Sáu Nhỏ, vì ảnh vóc người thì cũng trung bình như tôi và đứng cạnh nhau thì chỉ thua tôi có nửa cái đầu thôi (tôi cao 1m70) .Tôi tò mò hỏi thăm má anh thì được biết là " hồi mới sanh ra nó ốm o còm cỏi lắm so với các anh chị nó nên ở nhà mới đặt tên nó là Sáu Nhỏ". Sau này tôi suy ra là khi lớn lên Sáu Nhỏ không còn nhỏ con nữa vì nhờ được ăn nhiều tôm cá tươi từ vựa cá của cha mẹ ở Nhà Bè.

Công tác quân y dân sự vụ tại Huế


Năm ngày để sửa soạn cho chuyến công tác tại Huế qua đi rất mau. Vì đã quen với các thủ tục hành chánh, cộng thêm với sự làm việc sốt sắng nhiệt tình của các nhân viên y tế đắc lực nên việc xin tiếp liệu y dược cho Y tế Hạm HQ 400 không có gì khó khăn chậm trễ.
Kho Y dược HQ, và chính yếu là Kho Y dược Trung Ương 731 tại Phú Thọ, là hai nguồn cung cấp tiếp liệu y dược dồi dào cho hai Y tế hạm. Ngoài ra mỗi khi có trường hợp đột xuất tại một địa diểm công tác, Y tế hạm có thể nhờ tới cố vấn Hoa Kỳ xin tiếp liệu y dược đặc biệt từ nhũng đơn vị y tế của Hoa kỳ hay các đồng minh khác. Thí dụ có lần tàu đang công tác QY dân sự vụ trong vùng Phan Rang Phan Thiết thì hết thuốc nhỏ mắt vì ở đây đang có dịch đau mắt đỏ. Tôi báo với hạm trưởng Tài : sau đó thấy ông đi với cố vấn Hoa Ký và đến chiều cùng ngày ông mang về cho tàu mấy thùng thuốc nhỏ mắt.

Ngày khởi hành đi Huế đã đến. Ngoại trừ một vài người quê ở Huế hay Đà nẵng, còn phần lớn những người trên tàu ít ai đã có dịp đặt chân đến đất Thần Kinh với những địa danh nổi tiếng như núi Ngự, sông Hương , cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ..v..v...Ai nấy đều thấy thích thú vì sẽ được biết Cố Đô. Song cũng có một số ít người thoáng chút ưu tư vì tình hình ở Huế lúc đó cũng chưa hoàn toàn yên tĩnh. Riêng tôi thì có nhiều cảm tình với Huế vì trước đây tôi đã có dịp ra thăm Huế hai lần trong thời gian đi lính đóng ở Đà Nẵng. Ở Huế có nhiều món ngon như cơm hến, bánh khoái, bánh nậm, bánh ram, tré, mắm tôm chua, mè xửng..v...v... Tôi thích hai món tré và mắm tôm chua . Nhưng điều tôi thích nhất không phải là món ăn ngon mà là giọng nói dễ thương của người Huế: Giọng Huế thánh thót, líu lo ríu rít như chim hót, như âm nhạc..., nghe êm tai “ dề ..ệ sờ ợ...” chi đâu!.

Đặc biệt trong chuyến công tác lần này là hai tàu Y Tế hạm Hát Giang HQ 400 và Hàn Giang

HQ 401 đều cùng khởi hành đi Huế một lần. Tàu chạy từ Saigon tới cửa Thuận An mất khoảng hai ngày hai đêm. Vì tàu lớn không vào sông Hương được nên hai Y Tế Hạm phải neo ở cửa Thuận An . Toán y tế chúng tôi, cùng với toán Tâm Lý Chiến của Bộ Tư Lệnh HQ, đi ghe của duyên đoàn hải quân để đến Huế.



Sau khoảng hai giờ giang hành trên sông Hương, chúng tôi đã tới trung tâm kinh thành và đổ bộ xuống bãi đất trống ngay sát bên chân cầu Tràng Tiền. Rồi người đại diện của chính quyền Huế hướng dẫn chúng tôi băng qua đại lộ Lê Lợi để vào trú ngụ trong trường Đại học Sư Phạm Huế. Khác với các sông ngòi ở miền Nam, khúc sông Hương từ cầu Tràng Tiền ra biển không quanh co uốn khúc nhiều, nước sông trong xanh, lững lờ chảy hiền hòa chậm rãi cho tới cửa Thuận An. Từ trường đại học Sư Phạm Huế chúng tôi nhìn thấy cầu Tràng Tiền, bên kia sông là đường Trần Hưng Đạo dẫn tới cửa Thượng Tứ và Chợ Đông Ba... Nếu đi trên đại lộ Lê Lợi dọc theo hữu ngạn sông Hương hướng về phía thượng nguồn, chúng ta thấy Bệnh viện Trung Ương Huế, khách sạn Morin, trường Quốc Học...tọa lạc ở phía tay trái. Xa xa là cầu Bạch Hổ. Xa xa nữa là chùa Thiên Mụ ....

Vách tường trường Đại học Sư Phạm lỗ chỗ với nhiều vết đạn, và rất nhiều cửa kính của các phòng học bị bể vỡ mảnh kính rơi rớt tung tóe trên sàn nhà chưa có người dọn dẹp. Chúng tôi trải poncho để nằm ngủ trên sàn nhà của các phòng lớp ít bị hư hại. Rất may là điện nước của trường cũng còn xử dụng được nên vấn đề nấu nướng, vệ sinh không bị trở ngại lắm. Thật sự mà nói , nếu so sánh với các đồng đội bên Bộ Binh lúc đi hành quân, thì chúng tôi sung sướng hơn nhiều.

Hàng ngày toán Quân Y của HQ 400 làm việc (khám bệnh, nhổ răng, phát thuốc) cho bà con tại trường Quốc Học (bên hữu ngạn sông Hương ), và toán QY của HQ 401 thì làm việc tại Cửa Sập (bên tả ngạn ). Hai ngày đầu Thiếu úy Tiến , trưởng toán Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ, có mang theo dầu ăn và mền ấm để tặng bà con.

Trong thời gian đoàn công tác trú ngụ tại trường Sư Phạm, HQ Thiếu tá Phan Phi Phụng, trưởng phòng Tâm Lý Chiến BTL HQ , có ra thăm và ngủ lại vài đêm với anh em. Thiếu tá Phụng là một người nho nhã hiền lành nói năng chậm rãi, hay phì phèo ống điếu. Ông thường hay thức khuya để cùng tán chuyện gẫu với anh em trước khi đi ngủ. Một lần có lẽ ông cũng bị một phen sợ như chúng tôi. Số là đêm đó trong lúc đang chuyện trò trước khi đi ngủ thì chúng tôi chợt thấy một tia sáng lóe ở phía sông , tiếp theo sau là một tiếng nổ lớn vang trời. Qua ngày hôm sau chúng tôi được biết đó là VC pháo kích, đạn rớt nhằm bãi đất trống trên bờ sông gần cầu Tràng Tiền và may mắn không có thiệt hại nhân mạng hay vật chất gì cả.

Số bà con cô bác đến xin khám bệnh nhổ răng rất đông: phần lớn là các phụ nữ và các ông bà già có tuổi. Rất ít bệnh nhân thanh niên hay đàn ông : không biết có phải vì nhiều người đã bị VC bắt đi theo chúng để làm lao công chiến trường.v..v.. để rồi cuối cùng họ bị VC giết hại trong lúc chúng rút lui và chôn xác họ trong những mồ tập thể!!.

Qua nét mặt ngơ ngác, bơ phờ của những bệnh nhân, chúng ta có thể đoán biết được là họ đã sống căng thẳng sợ hãi đến chừng nào trong những ngày VC đánh chiếm thành phố !. Một ông cụ than thở với tôi:
- “Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới chừ, chưa bao giờ tôi sợ như lần ni. Bọn VC dã man tàn bạo quá . Ngày xưa Tây nó ác, nhưng đâu có bằng tụi ni “. Ngưng một lát như để nguôi cơn giận và để lấy thêm hơi , ông cụ nói tiếp : “ chúng chia nhau đi lục soát khắp mọi nhà để tìm kiếm đàn ông thanh niên và bắt đi theo chúng. “. Tôi tò mò hỏi cụ:
-” Thế chúng có lục xét nhà bác không , thưa bác?”. “
-“ Có chứ ,sao lại không “, ông cụ trả lời. “Khi chúng thấy trong nhà chỉ có vợ chồng tôi thôi thì một đứa hỏi: đàn ông thanh niên trốn đâu hết rồi? Bộ chúng đi theo Mỹ Ngụy để đánh phá cách mạng phải không?. Chúng tôi sợ quá. Nhưng vợ tôi nhanh trí trả lời ngay: “thưa các anh chúng tôi không có con cái, chỉ có hai ông bà già sống với nhau thôi”. Sau đó chúng không xét hỏi gì thêm nữa và vội vã đi qua nhà khác. Có lẽ vì chúng thấy nhà tôi quá đơn sơ nghèo nàn nên bỏ đi ...”

Sau khi khám bệnh tôi viết toa tặng hai ông bà một chai thuốc đa sinh tố cùng một ít viên thuốc an thần và dặn ông bà uống một viên nâu ( multivitamins) vào ban ngày và viên trắng (thuốc an thần meprobamate ) vào buổi tối.

Có một điều vui là sáng ngày hôm sau ông cụ đó trở lại tìm tôi, đi cùng hai bạn già khác.
_”Bữa qua ông cho tôi thuốc chi hay quá: đêm ngủ ngon một giấc và không còn mớ thấy VC nữa. Xin ông khám và cho bạn tôi thuốc như rứa đi” , ông cụ nói với nụ cười biết ơn trên môi.
Với lòng tin vững mạnh vào sự chiến đấu anh dũng của quân đội VNCH, tôi nói để trấn an các cụ: ” Bác uống hết thuốc là hết sợ VC thôi. Bữa trước tụi nó đột nhập đánh lén, chứ bây chừ quân đội VNCH đã trở lại làm chủ tình hình rồi thì còn chi mô nữa mà các bác phải lo sợ”.
-“ Đúng rứa , cũng nhờ mấy ông cả; nếu không thì cũng chẳng biết răng. Tụi nó dễ sợ quá ông ơi “, một cụ trả lời.
Một bữa khác, nhân nói chuyện với một ông tuổi trạc tứ tuần, tôi hỏi:
-Ông hay quá vậy? Ông trốn đâu mà không bị tụi nó bắt đi?
- “Mèng đéc ơi, sợ quá xá đi chứ! Tưởng đã chết rồi kìa! Ông biết hôn: tôi gốc Mỹ Tho, làm cảnh sát ở Saigon, lấy vợ người Huế và về quê vợ ăn Tết. Cái đêm lộn xộn biết là VC về, tôi trốn vào Bệnh Viện Huế mặc quần áo nhà thương giả làm bệnh nhân. Bọn VC có đi rảo qua các phòng bệnh nằm, nhưng có lẽ vội vàng nên chúng không lục lọi kỹ. Nếu không thì chắc tôi cũng tiêu với bọn quỷ đó rồi. Thật cám ơn Trời Phật: Nam Mô A Di Đà Phật”, ông tứ tuần kể lại.

Có một Chủ Nhật không làm việc, anh em đòi đi chơi đó đây thăm thú Cố Đô; nhưng vì lý do an toàn tôi chỉ dám để anh em qua bên kia sông, tới ăn uống ở chợ Đông Ba và vào thăm Nội Điện. Cảnh tượng trong Nội Điện thật là hoang tàn đổ nát!. Nhiều mái nhà trong cung điện bị sập, tượng đá tạc các quán quần thần đổ ngã ngổn ngang ngoài sân, có ông bị đạn khắp người, cụt tay, cụt chân, thậm chí có ông mất cả đầu....Nhiều cột nhà bằng gỗ lim bị bể tróc toác hoác, ngai vàng của vua bị đạn lủng lỗ trỗ...

Ai là người đã gây ra cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn để mang đến biết bao nhiêu hậu quả tang thương đổ vỡ...cho quê hương Việt Nam giàu đẹp hiền hòa này!.
Sau nửa tháng anh em QYHQ làm việc hết sức mình để giúp đỡ bà con Cố Đô , chúng tôi đã hoàn thành công tác và được ghe hải quân chuyên trở lại tàu đang neo đợi ở cửa Thuận An. Hai Y tế Hạm lại “ thuận buồm xuôi gió” về miền Nam.

Một buổi sáng trong lúc hải hành ngang vùng Qui Nhơn, sau khi dùng điểm tâm xong, hạm trưởng Tài mời riêng thiếu úy Sáu và tôi ra nói chuyện ở sân sau của Tàu. Hôm nay thấy ông vui vẻ tươi cười hơn mọi ngày. Ông lấy ra ba hôp nhỏ hình chữ nhật, được gói ghém cẩn thận, từ trong túi quần và nói với hai chúng tôi:
- Xin báo cho quý vị một tin vui là đêm qua tôi nhận được công điện cho biết là qúy vị và tôi được thăng cấp kể từ hôm nay. Xin mừng quý vị. Nhân tiện tôi xin tặng mỗi vị môt cập lon mới. Sáu và tôi rất cảm động trước sự quan tâm dễ thương của hạm trưởng Tài.

Tôi hỏi:
- Làm sao hạm trưởng hay quá vậy? Đang đi tàu trên biển mà lại có được lon mới.
- “Ồ chuyện thăng cấp thường niên ấy mà. Tôi đã được phòng Tổng Quản Trị cho biết trước, nhưng còn giữ kín để gây ngạc nhiên, chờ tới khi có công lệnh chính thức thì mới thông báo”, hạm trưởng Tài nói.

Rồi ông nói tiếp: “ Hôm này về nghỉ bến, mình sẽ tổ chức lễ rửa lon để ăn mừng và đãi anh em trên tàu.”. Tôi mừng thầm và nghĩ bụng là tôi lại có dịp để thực tập cách pha coctail học được từ thượng sĩ y tá Vương. Tiện đây tôi cũng xin nói nhỏ với quý bạn cho vui là sau này khi được qua Mỹ định cư ông Google có chỉ dẫn cho tôi nhiều kiểu pha rượu ngon và xuất sắc lắm.

Giờ đây, ở tuổi gần đất xa trời, nhờ ơn Trời Phật tôi và gia đình đã may mắn được sống trên đất Mỹ, một xứ sở của độc lập tự do, nhân phẩm con người được tôn trọng...,tôi ngồi ôn lại những chuyện buồn vui lẫn lộn trong những chặng đường đời đã qua, lòng tôi cảm thấy nao nao, tim tôi sắt lại vì càng ngày càng thiếu đi những người thân, những người tôi mang ơn, những bạn bè, những đồng nghiệp.....Đời tôi nhiều bạn, không có kẻ thù, ngay cả những người Cộng Sản mà tôi có dịp tiếp xúc. Tôi không thù ai, nhưng có thể có người thù tôi thì làm sao biết được!.

Còn một điều vẫn luôn vương vấn trong tâm tư tôi là ước muốn làm sao cho quê hương xứ sở Việt Nam sớm được thực sự độc lập tự do, thoát khỏi ách Cộng Sản tam vô độc tài gian ác, để đồng bào tôi được sống ấm no hạnh phúc, để con cháu tôi có thể về thăm hay sinh sống ở một quê hương an lành, văn minh và tiến bộ. Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết có nên ghi lại sau đây bài thơ tôi đã nghe được trong một giấc mơ, bài thơ mà tôi cho là những lời trăn trối của Hồ Chí Minh nhắn nhủ những người lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

Các Cô các Chú hãy nghe tôi:
Chán Mác Mao, tôi giác ngộ rồi.
Thoát Trung, cải tổ, thân Âu Mỹ,
Chơi với ba Tầu mất nước thôi.

Thật mong lắm thay.

Gaithersburg Maryland . Mùa Xuân năm 2016

Nguyễn Tích Lai