Hiển thị các bài đăng có nhãn Bát Sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bát Sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)

  

Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn)

Con Cò
***
Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương.
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***
Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?

Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.

Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?

Thanh Vân
***
Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***

Nguyên tác: Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia


Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn:

Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?

Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:

This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)

 


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh

Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Phế Trạch của Ngô Dung.

Ngôi nhà sang trọng bỏ hoang
Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha m

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

 Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Quy Tín Ngâm 歸信吟 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)


Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Thơ ông chứa đựng nhiều nước mắt khi nói về tử mẫu và hiền phụ

Nguyên tác Dịch âm

歸信吟 Quy Tín Ngâm


淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân.

Dịch nghĩa

Khúc ngâm gửi thư về

Mực hoà nước mắt viết thành thư*
Gửi đến người thân xa vạn dặm
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại thân này.

Dịch thơ

Khúc Ngâm Gửi Thư Về


Mài mực bằng nước mắt
Ngàn dặm gởi người thương.
Thư gởi hồn cũng gởi,
Còn lại xác vô thường.


Quản Mỹ Lan & Con Cò
--------
Lời bàn thêm của Con Cò

*Người Tàu mài cục mực đen với nước trong cái nghiên. Vai chính trong bài thơ này là người nữ, đã dùng lệ thế nước để mài mực viết thư (lệ của người nam ít lắm, không đủ để mài mực). Yếu tố này không thực mấy cho nên không hợp với thơ Đường; có lẽ vì vậy mà có vài thi sĩ đương thời cho rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo).

Gửi Thư Về Ngâm Khúc.

Mục hòa lệ viết thơ,
Gửi tới người xa mờ.
Hồn cũng theo đi mất,
Còn thân ta thẫn thờ.

Lục Bát.

Lệ hòa mực viết thành thơ,
Gởi người yêu dấu xa mờ dậm muôn.
Hồn theo cánh gió đi luôn,
Thân ta bỗng chốc u buồn ngẩn ngơ.

Mỹ Ngọc.
May 28/2026.
***
Gởi Thơ Cho Người

Viết thư nước mắt mực hòa
Gửi người yêu dấu cách xa vạn đèo
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng nhiên cảm thấy đìu hiu phận mình!

Thanh Vân
***
Khúc Ngâm Gửi Thư Về

Mực hòa nước mắt, viết tờ thư,
Gửi người muôn dặm, chốn xa mờ,
Thư đi, hồn cũng đi theo mất,
Còn lại một mình, dạ ngẩn ngơ.

Bát Sách.
(Ngày 03/06/2026)
***
Khúc Ngâm Thư Về

Lệ tưới mực thành thư
Vạn dặm gởi người thân
Thư gởi hồn cũng gởi
Ngẩn ngơ trống rỗng thân.

Song thất lục bát

Cánh thư viết, lệ rơi hòa mực
Gởi người thân xa ngút dặm ngàn
Thư đi hồn cũng đi hoang
Ngẩn ngơ cảm thấy thân tàn rỗng không!

Lộc Bắc
***
Khúc Ngâm Thư Về

Mực hoà mắt đẵm viết lời thư
Gởi đến người xa chốn mịt mờ
Thư đi hồn phách thẫn thờ
Xác thân trống rỗng ngẩn ngơ một mình

Kim Oanh
***
Mực Hoà Nước Mắt 

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

歸信吟-孟郊 Quy Tín Ngâm – Mạnh Giao

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư                  Nước mắt đẫm mực nhoà,
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân           Gởi người vạn dặm xa.
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ          Thơ đi hồn nối gót,
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân Trơ trọi một thân ta.

Nguyên tác chép từ sách của thi nhân: 诗词 孟郊 归信吟
Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao 孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Thi Phẩm Hối - Minh - Cao Bính 唐诗品汇-明-高柄
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các từ khó:

Quy tín: thư gửi về nhà, thư báo tin quay về.
Ngâm: một thể thơ cổ, thường dùng để ngâm nga, bộc lộ tình cảm, nỗi lòng.
Lệ mặc: nước mắt làm ướt thỏi mực, hòa lẫn với mực.
Sái: vẩy, rảy, nhỏ xuống, thấm đẫm.
Tương ký: đem gửi, chuẩn bị gửi đi.
Vạn lý thân: người thân ở nơi xa cách vạn dặm.
Ngột nhiên: ngơ ngác, thẫn thờ, bất động như khúc gỗ.
Không nhất thân: thân xác trống rỗng, trơ trọi một mình.

Dịch nghĩa:

Quy Tín Ngâm Khúc Ngâm Khi Gởi Thơ Về Nhà

Lệ mặc sái vi thư Hòa nước mắt vào mực viết thành bức thư,
Tương ký vạn lý thân Để gửi cho người thân đang ở xa vạn dặm.
Thư khứ hồn diệc khứ Thư gởi đi rồi thì hồn cũng đi theo luôn,
Ngột nhiên không nhất thân Chỉ còn lại thân trơ trọi, thẫn thờ một mình.

Dịch thơ:

Gởi Thơ Về Nhà

Thể ngũ ngôn:

Mực lệ viết thành thơ,
Gởi người muôn dặm chờ.
Thơ đi hồn cũng mất,
Thờ thẩn thân bơ vơ.

Thể lục bát:

Lệ hòa vào mực viết thơ,
Gởi người muôn dặm mong chờ tin ta.
Thư đi hồn cũng bay xa,
Thẫn thờ trơ trọi thân già cô đơn.


詩囚:孟郊、賈島 。Thi tù: Mạnh Giao, Giả Đảo.
元好问《放言》称 “长沙一湘累,郊岛两诗囚”. 诗作多写世态炎凉, 民间苦难, 反映了唐朝从鼎盛时期走向衰落的士人心态.

Nguyên Hảo Vấn "phóng ngôn" xưng “ Trường Sa nhất Tương lũy, Giao Đảo lưỡng thi tù ”. Thi tác đa tả thế thái viêm lương, dân gian khổ nan, phản ánh liễu đường triêu tòng đỉnh thịnh thì kì tẩu hướng suy lạc đích sĩ nhân tâm thái.

Trong bài thơ Phóng Ngôn (Nói thẳng), Nguyên Hạo Vấn đã nhận định: "Trường Sa chỉ có một Tương lũy; còn Giao và Đảo là hai kẻ tù thi ca." Thơ ca acủa hai ông thường khắc họa những thăng trầm của thế sự cùng nỗi thống khổ của tầng lớp dân thường, qua đó phản ánh tâm thế của giới sĩ phu thời Đường trong giai đoạn chuyển giao từ đỉnh cao thịnh trị sang thời kỳ suy thoái.

Bình luận:

Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 4 câu 20 chữ nhưng dồn nén cảm xúc nhớ thương quê hương và gia đình, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật biểu cảm nhờ những điểm đặc sắc sau đây:

Câu đầu tiên mở ra một hình ảnh đầy ám ảnh. Tác giả không chỉ khóc, mà nước mắt rơi lã chã hòa cùng dòng mực trên giấy. Bức thư không viết bằng mực thường, nó được viết bằng nỗi đau và sự nhớ thương đọng lại thành giọt lệ. Thực tế không ai lấy nước mắt mài mực viết thơ, mà ta cần xem như một ẩn dụ của sự đau khổ chia ly trong nhiều tháng năm và cả cuộc đời.

Hai câu cuối là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Thông thường, thư đi là đã xong. Nhưng với Mạnh Giao, toàn bộ tâm can, linh hồn, tình yêu thương của ông đã đặt hết vào phong thư đó để gởi về người thân. Khi bức thư rời tay, ông cảm thấy phần "hồn" của mình như đã đi theo thư, vượt vạn dặm đường dài.

Thư khứ hồn diệc khứ đối xứng và tương phản mạnh mẽ với Ngột nhiên không nhất thân. Sự trống rỗng của thân xác (như một khúc gỗ vô hồn) nhấn mạnh cái giá của nỗi nhớ. Người viết thư đã rút cạn kiệt năng lượng sống và tinh thần của mình để gửi vào trang giấy.

Bài thơ không dùng từ ngữ hoa mỹ nhưng có sức nặng ngàn cân. Nó lột tả một cách trần trụi và đau đớn tình cảm gia đình, nỗi cô đơn của những người con ly hương trong xã hội ngày xưa.

Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ ra đời trong thời gian xa gia đình, ông dồn toàn bộ tâm trí và tình cảm để viết một lá thư gửi về. Hàn Dũ từng nhận xét về Mạnh Giao: Trời đất dường như cố tình làm cho ông ấy nghèo khổ, bế tắc để ông ấy dồn hết tinh huyết vào thơ ca.

Tô Thức trong bài "Đọc thơ Mạnh Giao" từng nhận xét về thơ Mạnh Giao như sau: Thơ từ phế phủ ra, ra liền sầu phế phủ. (Thơ từ ruột gan viết ra, viết ra lại làm sầu muộn ruột gan).

A Song of the Home-Bound Letter by Meng Jiao

Tears and ink blend, splashing onto the page to make a letter,
To be sent to my loved ones ten thousand miles away.
As the letter departs, my soul departs with it too,
Leaving behind only a dazed, hollow frame of a man.

Phi Minh Tâm
***
@ Ý kiến của Huỳnh Kim Giám:

...rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo.

Chỉ một bài từ tuyệt 20 chữ thôi mà mỗi người có một ý kiến!

書去魂亦去 thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 ngột nhiên không nhất thân.

Hồn đi theo lá thư rồi thì chỉ còn lại xác không hồn, nghĩa là người viết chết theo thơ. Đây không phải là khái niệm vô thường trong Phật học mà phản ảnh tâm tình của người kể chuyện.

Tô Thức viết thế này về thơ Mạnh Giao trong 《讀孟郊詩》"Độc Mạnh Giao thi"; “詩從肺腑出,出輒 愁肺腑” “ thi tòng phế phủ xuất, xuất triếp sầu phế phủ", có thể hiểu là lời thơ xuất phát từ cõi lòng, nỗi buồn cũng đi theo ngay lúc đó.

肺腑=phế phủ (phổi, bộ đồ lòng) là một khái niệm người Tàu dùng để nói đến tình cảm sâu đậm, chân thật từ đáy lòng. Nếu Tô Đông Pha hiểu thơ họ Mạnh như thế thì làm sao mà nghĩ nhạt nhẽo? Nhưng thôi, người đọc không phải là Tô Thức thì hiểu bài thơ như thế nào?

歸信吟=Quy tín ngâm nghĩa là gì? Tín là thư, quy là trở về và quy tín có nghĩa là thư viết về nhà. Viết cho ai? Từ 親=thân cuối câu nhì cho người đọc hiểu rằng đây không phải là thư tình mà là thư cho thân nhân, gia dình. Nếu người đọc tò mò hỏi AI " 歸信" là gì thì sẽ bị đưa đến một khái niệm tôn giáo có lẽ chưa có thời Đường! Thi nhân đi đâu, làm gì mà phải buồn đến độ mực hòa với nước mắt? Mạnh Giao chưa hề bị đi đày nên người ni chỉ có thể đoán là nhà nho lại thi rớt lần nữa! Nếu bối cảnh của bài thơ là như thế thì có nên nói rằng tâm lý của một nhà nho thất chí nhạt nhẽo ?!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ nhạt nhẽo với ngay hai chữ đầu tiên của câu 1. lệ mặc nghĩa đen là lấy nước mắt mài mực hoặc nước mắt hòa vào mực. Do đó cần nhiều nước mắt mà phải người nữ mới có đủ. Thực tế thì có ai mà làm thế bao giờ! Lấy nước mắt hòa mực phải có đồ hứng. Đây là một bài thơ nặng ký dù chỉ có 20 chữ, nên ta phải có cách hiểu khác cho hợp lý hơn.

Lệ mặc là một ẩn dụ có thể hiểu theo hai cách khác nhau. hoặc là những giọt nước mắt làm ướt thỏi mực, hoặc chính những giọt nước mắt ấy đóng vai trò như mực viết. Động từ vãi diễn tả dòng lệ tuôn trào vô tận. Ở đây thi nhân đã dùng phép cường điệu lấy nước mắt thay thế cho tình cảm của mình. Tình cảm dâng trào khi bắt đầu viết và không sao kìm hãm được trong lúc viết nên như hóa thành nước mắt hoà vào mực trôi vài chữ.

Trong hai câu kết thi nhân, cho biết đã để hết tâm tình vào thơ. Thơ đi rồi chỉ còn lại thân xác không hồn. Để hiểu vì sao tình cảm của thi nhân với gia đình lại nhiều đau khổ như thế. Ta nên biết qua về cuộc đời lận đận của ông. Thi đậu lúc đã già, chức vụ nhỏ việc nhàm chán, nghèo không phụng dưỡng được mẹ già, 3 con chết yểu vì thiếu thốn, chết trên đường đi nhậm chức mới vợ không có tiền làm đám ma, phải nhờ bạn bè (trong đó có Hàn Dũ người quý mến và giúp đỡ ông) cho tiền chôn cất…pmt

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch 春夜洛城聞笛 - Lý Bạch 李白 (Thịnh Đường)


(Bát Sách biên soạn,
Tôi viết bài này vì sắp tới ngày Quốc hận )

Đêm Buồn

Tháng tư, năm 1975, tôi đang phục vụ tại Trung Tâm IV Hồi Lực, Cần Thơ, với chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Trưởng khối chuyên môn. Ngày 30/04/1975, vì BS Tô Văn Nghiễn về Sài Gòn, tôi xử lý thường vụ Chỉ huy trưởng, vẫn đi làm việc như thường lệ, cùng anh bạn sau tôi một khoá là BS Trần Cao Thăng. Lúc 10 giờ, Dương Văn Minh đọc thông điệp đầu hàng trên đài phát thanh, tôi tập họp thương binh, tuyên bố rã ngũ, ai lo phận nấy. Nhìn bệnh nhân của mình, kẻ què, người cụt, vết thương chưa lành, đi chân hoặc nạng, thất thểu ra cổng trại, tôi không sao cầm được nước mắt, khóc cho đồng đội, cho gia đình và cho chính mình.... Tương lai nào biết ra sao. Sau đó, Thăng và tôi đi tìm đường chạy. Vì có bạn là Nha Sĩ Trần Văn Bé ở căn cứ hải quân Bình Thuỷ, Cần Thơ, tụi tôi được gửi lên mấy chiếc tầu há mồm, theo giòng Hậu Giang ra biển. Tầu chìm, được tầu Song Long của Đại Hàn vớt, ghé Thái Lan, rồi chở về trại tị nạn ở Phú San, ngày 21/05/1975.

Trong thời gian ở trại, tôi cũng có nhiều việc, khám tại bệnh xá, phân chia đồ cứu trợ, làm thông dịch viên, một mối tình Hàn Việt thơ mộng và lãng mạn. Những chi tiết vui buồn, gian lao khổ sở, nhục nhằn đã được kể trong bài Phú San, đăng trên Tập SanY Sĩ. Trại gần 2000 người, tôi đã biết trước một số nhỏ như BS Trịnh Cao Hải, và phu nhân là chị Mộng Ngọc, giáo sư, hỏi vấn đáp khi tôi thi tú tài, các đồng nghiệp khác như các BS Lê Dư Khương, Phó Đức Mùi, Nguyễn Văn Thạnh, Dương Hồng Huy, Trần Cao Thăng, Lê Lữ, Lê Thiện Nhân... Bạn mới, tôi cũng có thêm, như Hoàng Văn Thuận, Nguyễn Văn Điềm, Lê Khuê Hào, Trịnh Thiếu Sinh...Trong số bạn mới, tôi nhớ nhất là một anh lính hải quân, tên thật là gì, tôi không biết, anh xưng là Kim Chi. Số là khi đó, Tổng Thống Phác Chính Hy nuôi dân tỵ nạn bằng mì luộc và kim chi, món ăn bình dân nhưng độc đáo của Hàn Quốc, và bạn tôi lấy nó làm tên của mình.

Kim Chi hiền lành, nói chuyện vui vẻ, đặc biệt là rất nghệ sĩ, anh biết hát và thổi sáo. Chẳng hiểu sao, anh ngoại giao, anh xin được một ống nhựa bao giây điện, rồi mầy mò làm thành ống sáo. Từ đó, tối nào, tụi tôi cũng theo Kim Chi, nghe anh trổ tài, mang theo chút kẹo hoặc thuốc lá để trợ hứng. Khi ngồi cả đám thì không sao, nhưng lâu lâu, có những đêm khuya mất ngủ, nằm trằn trọc, mà nghe văng vẳng tiếng sáo của Kim Chi, thổi những bài như Lòng mẹ, Con thuyền không bến, thì kẻ vong quốc, tha hương, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, ai mà không rơi nước mắt.

Lúc đó, trên người chỉ có một bộ quần áo, làm gì ra sách vở, nhưng còn nhớ được mấy bài thơ Đường, bèn tìm một bài hợp tình, hợp cảnh, đem ra dịch cho qua thì giờ. Đó là bài:

春夜洛城聞笛    Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch
李白                      Lý Bạch

誰家玉笛暗飛聲 Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
此夜曲中聞折柳, Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình.

Nghĩa:

Đêm xuân, ở Lạc Dương, nghe tiếng sáo.

Tiếng sáo ngọc nhà ai thoảng bay,
Tan vào gió xuân, đầy thành Lạc Dương.
Đêm nay, nghe điệu bẻ liễu trong khúc sáo, (Điệu bẻ liễu là điệu biệt ly)
Ai là người không dậy lên mối tình nhớ vườn xưa.

Dịch thơ:

Đêm Xuân, Ở Lạc Dương, Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai tiếng địch thoảng bay,
Quyện vào trong gió, tan đầy Lạc Dương,
Nghe câu ly biệt đêm trường,
Ai người chẳng thấy nhớ thương quê nhà.

Đây là một bài trung trung của Lý Bạch, tôi thích chỉ vì nó nói đúng tâm trạng của mình, Nhưng xét cho cùng, thì thấy câu thứ 2 sao hay lạ lùng, tiếng sáo mà tan vào gió xuân, bay đầy thành phố, thì chỉ có Lý mới viết nổi.
Hồi ở Phú San, câu chót tôi dịch là: Ai người chẳng nhớ cố hương xa vời. Nhưng tôi có lây bệnh Thôi, Xao của Giả Đảo, nên đã sửa lại như trên, mong các bạn cho ý kiến.

Nguyễn Thanh Bình( Bát Sách)
***

Nhà ai sáo ngọc thoảng bay nhanh
Nương gió xuân loang khắp Lạc thành.
Khúc sáo lắng nghe như "Chiết Liễu”
Hỏi ai chẳng nhớ đến quê mình

Con Cò
***
Đêm Xuân Ở Lạc Thành Nghe Sáo.

Nhà ai sáo vọng suốt canh trường,
Quyện gió xuân bay khắp Lạc Dương.
Khúc nhạc đêm nay nghe " Bẻ Liễu,"
Người nào chẳng nhớ tới quê hương.

Mỹ Ngọc.
Apr. 14/2026
***
Đêm xuân nghe sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ngọc nhà ai thoảng tiếng bay
Gió xuân mang rải Lạc Dương đầy
Đêm nay Chiết Liễu chìm trong nhạc
Ai chẳng chạnh lòng chốn cũ đây?


Lục bát


Nhà ai sáo ngọc thoảng bay
Gió xuân chuyên chở rắc đầy Lạc Dương
Điệu nghe Chiết Liễu đêm trường
Ai người mà chẳng nhớ thương quê nhà?


Lộc Bắc
Mars2019
***
Tiếng sáo đêm xuân ở Thành Lạc Dương

Vi vu tiếng sáo vọng nhà ai
Theo gió mùa xuân dìu dặt bay
“Chiết liễu” Lạc Dương vang điệu nhạc
Quê hương nỗi nhớ thiết tha đầy

Thanh Vân
***
Đêm Xuân Nghe Sáo Ở Thành Lạc Dương

Canh trường tiếng sáo nhà ai
Quyện nương theo gió xuân bay Lạc thành
Nghe câu ly biệt đêm thanh
Mấy ai sao nỡ quên đành quê hương.

Kim Oanh
***
Nguyên tác: Phiên âm:

春夜洛城聞笛-李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch


誰家玉笛暗飛聲 Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
此夜曲中聞折柳 Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình

Bài thất ngôn tứ tuyệt này được viết vào năm Đường Huyền Tông Khai Nguyên thứ 23 (năm 735) khi Lý Bạch viếng thành Lạc Dương. Có mộc bản trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Giải nghĩa chữ khó:

Lạc Thành: thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, một thành phố rất thịnh vượng trong thời nhà Đường, kinh đô cổ kính của Trung Hoa ngày xưa, còn được gọi là Đông Đô.
Văn địch: Vào thời Ngụy Tấn, Hướng Tú làm bạn với Kê Khương và Lữ An, Khương và An bị Tư Mã Chiêu giết chết. Tú về nơi ở cũ của Kê Khương tại Sơn Dương, nghe tiếng sáo của hàng xóm, cảm thấy nhớ người bạn đã khuất của mình. Sau đó, văn địch được sử dụng như một từ để thương tiếc người quá cố.
Thùy gia: nhà ai, ở đâu
Ngọc địch: sáo ngọc, tên đẹp của sáo
Ám phi thanh: âm thanh không biết từ đâu đến; tiếng sáo bay bổng, vẳng lại một cách kín đáo, mơ hồ trong đêm tối; tiếng sáo vang lên trong đêm và truyền đi xa
Xuân phong: gió mùa xuân, ẩn dụ ân trạch, bầu không khí hòa hợp
Chiết Liễu: tên bản nhạc xưa; ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi, sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt.
Cố viên: vườn uyển cổ xưa, từ dùng để chỉ quê hương

Dịch nghĩa:

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch


Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Nhà ai có tiếng sáo ngọc vẳng trong đêm,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Theo gió xuân bay khắp thành Lạc Dương.
Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
Đêm nay trong khúc nhạc ta nghe lại có điệu "Chiết Liễu",
Hà nhân bất khởi cố viên tình
Thử hỏi có ai mà không cảm thấy nhớ quê hương.

Bình luận:

Bài thơ được Lý Bạch sáng tác vào khoảng năm 734-735 (niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông), khi ông đang lưu lạc và tạm trú tại thành Lạc Dương. Sống nơi đất khách trong một đêm xuân tĩnh lặng, âm thanh của tiếng sáo vẳng lại đã chạm vào nỗi lòng xa xứ của nhà thơ.

Dù viết về nỗi nhớ quê, Lý Bạch không dùng những từ ngữ bi lụy. Ông dùng câu hỏi tu từ Hà nhân bất khởi (Ai mà không chạnh lòng) để nâng cảm xúc cá nhân lên thành một tình cảm phổ quát, khẳng định rằng tình yêu quê hương là bản năng sâu thẳm của mỗi con người khi đứng trước những rung động tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Bài thơ ngắn nhưng giàu nhạc tính, hình ảnh trong trẻo mà thấm buồn. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Đường về tâm trạng tha hương, sánh cùng Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch hay Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ.
Bài thơ này hơi khó so sánh với bài Văn Địch của Triệu Hỗ vì khác thể thơ, nhưng có thể so sánh với bài tứ tuyệt Tái Thượng Văn Địch của Trương Hỗ. Cả hai bài đều nghe sáo ban đêm. Bài của Lý Bạch, như chúng ta đã biết, được làm vào mùa xuân ấm áp ở nơi phồn hoa đô thị khi ông đến Lạc Dương tìm danh vọng. Bài thơ của Trương Hỗ, bên dưới, được làm vào mùa đông lạnh lẽo ở biên thùy Tây Bắc, hình ảnh một chiến binh cô đơn nhớ nhà.

Dịch thơ:

Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương


Thể thất ngôn:

Tiếng sáo nhà ai gợi vấn vương,
Gió xuân đưa khắp nẻo Lạc Dương.
Khúc nhạc chia tay ôi tha thiết,
Sao khỏi chạnh lòng nhớ cố hương.


Thể lục bát:


Nhà ai tiếng sáo nhẹ nhàng,
Gió xuân đưa khắp nẻo đàng Lạc Dương.
Khúc Chiết Liễu gợi vấn vương,
Hỏi ai viễn xứ chẳng thương quê mình.


Thể song thất lục bát:


Tiếng sáo ngọc, nhà ai trầm bổng
Khắp Lạc Thành, theo ngọn gió xuân
Đêm nay Chiết Liễu ru ngân
Hỏi ai chẳng khởi bâng khâng nhớ nhà?


Flute On A Spring Night in Luoyang by Li Bai

From whose house arises the melodious flute
Spring wind carries it all over the city of Luoyang
Tonight the song is the Willow Breaking melody
Who does not have feeling for his old country?

From whose house comes the sound of a jade flute, discretly flying?
The spring wind scatters them across the whole city of Luoyang.
Tonight, within that drifting melody, I hear the tune "Breaking the Willow."
Who could listen without being moved by memories of their father land?

The above translations focuse on conveying the sense and emotion of the original poem rather than reproducing its rhyme.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

李白. Tên của thi nhân họ Lý đã được chuyển sang chữ Latin thành Li Bai, Li Po hay Li Bo tùy hệ thống chuyển ngữ nhưng Lý Bạch trong tiếng Việt có thể gần gũi nhất với lối phát âm /baek/ hay /bhæk/ của thời Trung Cổ. Ngoài tên cúng cơm Bạch, ông còn được biết dưới các tên Thanh Liên Cư Sĩ, Thi Tiên, Tửu Tiên, Trích Tiên Nhân và Thi Hiệp.

折柳. Liễu trong tục chiết liễu là cây thùy liễu (Salix babylonica) có gốc ở bắc Hoa Lục rồi lan tràn qua miền ôn đới Tây phương nên cho dù người (nhiệt đới) Việt có tên cây liễu, ít ai ở quốc nội thấy cây đó, vì dĩ nhiên ít ai (kể cả người Viết) biết tục bẻ liễu có ý nghĩa gì. Và trừ khi người đọc hiểu rằng liễu (柳) và lưu (留) là hai từ đồng âm [cùng bính âm liǔ] thì họ cũng không hiểu rằng từ liễu là biểu tượng của sự chia ly, để diễn tả ước muốn níu kéo người đi ở lại hay trở về. Thời xưa người đi xa thường dùng thuyền – đường bộ rất hiểm nghèo - nên việc chia tay thường xẩy ra bên bờ sông nơi cây liễu thích sống, hay thường được trồng. Mặc dù đa số thổ âm Hoa Lục phát âm 留 với phụ âm /l/, người Thành Đô, Tứ Xuyên phát âm nó giống hệt như níu của tiếng Việt nhưng có lẽ đây không phải là ngữ nguyên của ‘níu’ trong các nghĩa níu lại, níu kéo.

玉笛. Từ thời Đường, từ địch được dùng riêng để chỉ loại sáo thổi ngang nên dùng các hình vẽ với sáo thổi dọc (có tên là tiêu, 簫) không hợp với bài thơ. Nguyên liệu cho sáo thường là trúc hay gỗ vì khả năng cộng hưởng của chúng làm tăng phẩm chất của tiếng sáo. Ngọc (bích) và kim loại ít khi được dùng (trừ trường hợp các flute gốc Âu Châu) vì âm thanh từ chúng không ấm bằng tiếng sáo gỗ hay trúc. Và cụm từ ngọc địch có thể hàm ý rằng người thổi sáo đang ở trong một lầu đài, cung điện nào chứ không phải là một nghệ sĩ chuyên dùng sáo, vì ít ai đủ giàu mua sáo ngọc và người chuyên nghề thổi sáo thì lại thích sáo gỗ hay sáo trúc. Họ Lý sáng tác bài thơ này năm 734 khi đang lang thang qua đông đô Lạc Dương và ngữ cảnh của bài thơ gợi ý – ít nhất cho người viết ni – rằng ‘cố viên tình’ (故園情) nói đến một người quen mà Lý đã nhờ tiến cử vào triều đình. Một điều ít người biết về cuộc đời họ Lý là ông đã nhiều lần viết thư tự tiến cử đến triều thần ở Trường An.

Nếu người ni đoán đúng thì sáo của người bạn Kim Chi của Bát Sách chế tạo là địch, không phải tiêu, và phân vân âm thanh từ cái địch này như thế nào vì nhựa làm vỏ dây điện không cứng lắm (cứng quá thì không uốn quanh được).

Huỳnh Kim Giám




Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu 五月水邊柳 (崔 護) Thôi Hộ


Thôi Hộ là một thi nhân đời Đường, chưa rõ ngày sinh ngày mất, sống vào khoảng niên đại Đường Đức tông (742 – 805). Ông tự là Ân công, người quận Bác Lăng, nay là Định huyện, tỉnh Trực Lệ, Trung Hoa. Tương truyền ông vốn là người phong nhã nhưng sống khép kín, ít giao du. Về đường khoa cử lại rất lận đận, Mãi đến năm 796, niên hiệu Trinh Nguyên, Thôi Hộ mới đậu tiến sĩ, làm tiết độ sứ Lĩnh Nam. Ông nổi tiếng nhờ bài thơ 題 昔 所 見 處. Đề Tích Sở Kiến Xứ, còn có tên là Đề Đô Thành Nam Trang (Thơ đề ở ấp phía nam đô thành) với câu chót của một bài thất ngôn tứ tuyệt bất hủ muôn năm: 桃 花 依 舊 笑 東 風 Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Hoa đào như cũ còn cười với gió đông).

Khác với Bạch Cư Dị và mấy thi hào thời Đường, Thôi Hộ không dùng thơ thể hứng và thể tỷ để tả liễu mà dùng thể phú để tả chân như bài thơ bất hủ dưới đây:

Nguyên tác   Dịch âm

五月水邊柳 Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu

結根挺涯涘 Kết căn đĩnh nhai sĩ,
垂影覆清淺 Thùy ảnh phúc thanh tiên.
睡臉寒未開 Thụy kiểm hàn vị khai,
懶腰晴更軟 Lãn yêu tình cánh nhuyễn.
搖空條已重 Dao không điều dĩ trọng,
拂水帶方展 Phất thủy đới phương triển.
似醉煙景凝 Tự túy yên cảnh ngưng,
如愁月露泫 Như sầu nguyệt lộ huyễn.
絲長魚誤恐 Ty trường ngư ngộ khủng,
枝弱禽驚踐 Chi nhược cầm kinh tiễn.
長別幾多情 Trường biệt kỷ đa tình,
含春任攀搴 Hàm xuân nhậm phàn khiên.

Dịch nghĩa

Rễ cây bện với nhau mọc xỉa ra đất ven bờ.
Bóng cây rũ xuống soi mình trên dòng nước xanh.
(Khuôn mặt) ngái ngủ chưa chịu thức mở.
Cành lười biếng càng thêm vẻ ẻo lả,
Dao động trong khoảng trời, nhánh cây như quá mệt nhọc,
Quét nhẹ mặt nước (lăn tăn) trôi dạt.
Như say khói sóng, ánh dương ngừng lại
Cùng với nỗi sầu vầng trăng nhỏ lệ (sương đêm).
Tơ dài khiến cá lầm sợ hãi.
Nhành cây yếu lũ chim bay loạn cả lên.
Chia tay biền biệt biết bao là tình (tục bẻ cành liễu tặng nhau lúc chia ly)
Ôm giữ mùa xuân mặc kệ (ai) muốn nhổ đi.

Dịch thơ

Tháng Năm Liễu Rủ Ven Bờ

Rễ xoắn xuyên bờ đất.
Bóng rủ soi nước xanh.
Như thiu thiu giấc lành,
Cành biếng lười nghiêng ngả.
Vươn vai như mệt lả,
Quét nước lăn tăn trôi.
Say khói nắng ngừng lại.
Trăng u buồn lệ rơi.
Tơ dài hù cá chạy.
Cành mềm chim loạn bay.
Đa tình khi ly biệt,
Giữ mãi xuân mặc ai…

Lời bàn 

Rất nhiều thi hào đời Đường đã tả liễu bằng thơ tứ tuyệt hoặc bát cú. Ít ai dùng một bài dài 12 câu để tả liễu như Thôi Hộ. Ông tả tỉ mỉ từ gốc rễ tới cành lá, từ nét yểu điệu của thục nữ (quét mặt nước gây sóng lăn tăn) tới lối hù dọa như phù thủy (sợi dài khiến cá tưởng dây câu bỏ chạy). Ưu điểm đặc biệt nhất của liễu (giữ mãi xuân xanh cho những kẻ biệt ly) thì được ông dành cho hai câu kết; đó là tục lệ bẻ cành liễu tặng nhau khi chia tay, chúc nhau xanh tươi mãi để hy vọng sau này còn gặp lại nhau.
Tóm lại họ Thôi đã dùng thơ tả chân để tả liễu, tức là thể phú, không có nghĩa bóng như Bạch Cư Dị (dùng thể hứng hoặc thể tỷ để gán cho liễu một sắc thái đặc biệt nào đó (như một giai nhân, một gái giang hồ….).

Con Cò
***
Đang từ bài Đề Đô Thành Nam Trang, nhẹ nhàng, lãng mạn, dễ thương, thì nhẩy qua bài này, chữ cuối câu là vần trắc,nghe không êm dịu, lại khó hiểu…BS tra cứu lung tung, đọc nhiều lần, coi bài của ÔC, góp ý của các anh Giám và Tâm mới hiểu một chút… Tóm lại là rất vất vả.
Anh Giám cho rằng Thôi muốn tả một người, vì 2 câu có chữ kiểm và yêu, BS không đồng ý: đó là Thôi nhân cách hóa cây liễu, chứ cả bài không thấy câu nào làm cho mình nghĩ tới một người, chỉ thấy cành, tơ, rễ…
Những chữ khó khá nhiều:
-Sĩ : bờ nước.
-Thuỳ: buông rủ xuống.
-Phúc : trái ngược lại, xét lại, báo lại, đổ ụp xuống.
-Tiên : tiếng nước chảy mau, ào ào
-Thuỵ : ngủ.
-Kiểm : mặt.
-Lãn : lười.
-Yêu : eo lưng.
-Tình, với bộ nhật : trời trong, nắng.
-Dao : lấy động, quấy nhiễu.
-Điều : cành nhỏ.
-Triển : mở ra ( khai triển ) , họ người.
-Tư : giống như, so sánh, hình như.
-Ngưng : đọng lại, xong.
-Huyễn, bộ thủy : nước nhỏ xuống.
-Tiễn : đạp lên ( đậu ), đánh, cắt lấy.
-Phàn, như Phan : vịn, nắm lấy, leo trèo, kéo lại, bẻ.
-Khiên : nhổ ( cây, cỏ..)

Liễu Bên Bờ Nước Tháng Năm

Rễ ôm bên bờ nước,
Rủ bóng xuống sông xanh,
Ngái ngủ, mặt chưa tỉnh,
Eo lười, cây mong manh,
Đong đưa, cành nghe nặng,
Chạm nước, sóng vờn quanh,
Tuý luý, ngưng cảnh khói,
Trăng buồn, sương long lanh,
Tơ dài, cá sợ hãi,
Cành yếu, chim loanh quanh,
Chia tay, tình lai láng,
Xuân bị nhổ cũng đành.

Bát Sách.
(Ngày 31/01/2026)
***
Liễu Bên Bờ Nước Tháng Năm

Rễ bén ven bờ nước
Liễu rủ soi dòng xanh
Ngái ngủ chưa thức tỉnh
Eo lười lả thân cành
Đong đưa hoài trĩu nặng
Phơ phất sóng nước quanh
Khói say vầng dương đọng
Sương sầu lệ trăng thanh
Cành yếu chim khiếp sợ
Tơ dài cá lặn nhanh
Biệt ly tình bịn rịn
Dẫu xuân mặc bẻ cành!

Kim Oanh
***
Tháng Năm Cây Liễu Ven Bờ

1-
Bén rễ vươn bờ bến
Che nước trong bóng rủ
Ngái ngủ mặt chưa khoe
Eo lười thân nắng rũ
Trời lay cành đã nặng
Quét nước giải lụa mở
Như say cảnh đọng sương
Như sầu móc trăng rỏ
Tơ dài cá hoảng sợ
Cành yếu chim kinh nỏ
Chia xa biết bao tình
Hơi xuân mặc vin nhổ

2-
Nơi bờ bãi cành vươn rễ phủ
Nước cạn trong bóng rủ an lành
Lá ngái ngủ, chưa nở xanh
Thân mềm yếu gặp nắng hanh ngại ngùng

Cành trĩu nặng không trung lay động
Giải lụa giăng trải rộng quét sông
Như say mờ khói sương ngưng
Như sầu hạt móc rưng rưng trăng thề

Liễu tơ căng cá về khiếp sợ
Cành liễu mềm chim ngỡ cung tên
Biệt xa biết mấy đa tình
Hàm xuân cũng mặc vin cành bẻ cây!


Lộc Bắc
Fev26
***
Tháng Năm Liễu Rủ Bờ Hồ

Liễu xanh bám rễ ven bờ
Uyển chuyển nghiêng dáng soi hồ nước trong
E ấp mê ngủ lá non
Dưới nắng tha thướt cành thon diễm kiều
Tháng Năm nhành lá ra nhiều
Xòe trên mặt nước mỹ miều lụa tơ
Trong sương dáng liễu mộng mơ
Trăng vàng nước đọng vẩn vơ lệ sầu
Rủ bóng cá sợ cần câu
Mềm mại chim chóc bay mau tránh cành
Biểu tượng ly biệt liễu xanh
Chia tay bên gốc tặng anh vài nhành

Thanh Vân
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

五月水邊柳 Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu Liễu Tháng Năm
崔護 Thôi Hộ

結根挺涯涘 Kết căn đĩnh nhai sĩ          Tháng Năm liễu bên bờ,
垂影覆清淺 Thùy ảnh phúc thanh tiên  Bóng rủ như đang mơ.
睡臉寒未開 Thụy kiểm hàn vị khai      Mặt ngủ còn chưa tỉnh,
懶腰晴更軟 Lãn yêu tình cánh nhuyễn  Nắng ấm eo nhởn nhơ.
搖空條已重 Dao không điều dĩ trọng    Đung đưa cành lá nặng,
拂水帶方展 Phất thủy đới phương triển Lướt nước dải lụa tơ
似醉煙景凝 Tự túy yên cảnh ngưng      Say khướt trong sương khói,
如愁月露泫 Như sầu nguyệt lộ huyễn   Dưới trăng sương lệ mờ.
絲長魚誤恐 Ty trường ngư ngộ khủng   Nhánh dài cá sợ hãi,
枝弱禽驚踐 Chi nhược cầm kinh tiễn    Cánh mềm chim ngẩn ngơ.
悵別幾多情 Trướng biệt kỷ đa tình        Biệt ly tình khốn cảm,
含春任攀搴 Hàm xuân nhậm phàn khiên. Mặc khách bẻ cành trơ.

Sách cổ nhất có đăng bài thơ là Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功 và cho bài thơ là của Trương Hựu Tân 张又新.
Sách Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨 cho tác giả có thể là Thôi Hộ.

Ghi chú:

nhai sĩ: ven sông.
thụy kiểm: miêu tả những chiếc lá liễu xòe ra.
thụy kiểm hàn vị khai: lá liễu khép nép chưa xòe hết vào buổi sớm như gương mặt lạnh mặt thiếu nữ chưa tỉnh giấc nồng
lãn yêu: lắc lư nhẹ nhàng, miêu tả sự mềm mại của cành liễu
lãn yêu... nhuyễn: hình ảnh cành liễu uốn lượn như vòng eo của thiếu nữ đang vươn vai
yên cảnh: cảnh mờ sương, một khung cảnh mờ ảo, như trong mơ.
nguyệt lô huyễn: ánh trăng và sương long lanh, những giọt sương long lanh dưới ánh trăng
ngư ngộ khủng: cá sợ hải, chi tiết tinh tế do tơ liễu rủ xuống nước làm cá ngỡ là lưới, dây hay lưởi câu nên sợ hãi

phàn khiên: bẻ hoặc giật cành cây

nhậm phàn khiên: theo phong tục xưa, người ta thường bẻ cành liễu để tiễn biệt người đi xa. Dù liễu không tình nhưng vẫn chấp nhận để người ta bẻ cành, làm tròn nhiệm vụ của một sứ giả biệt ly đầy tình cảm.

Dịch nghĩa:

Liễu Bên Bờ Sông Vào Tháng Năm


Rễ cây bám chặt và vươn mình nơi bờ bãi.
Bóng liễu rủ xuống che phủ làn nước trong xanh và nông.
Lá liễu như mặt người đang ngủ còn vương chút khí lạnh nên chưa mở mắt (chưa xòe ra)
Dưới ánh nắng, cành liễu uốn lượn như người đẹp vươn vai ẻo lả, trông càng mềm mại dịu dàng.
Đung đưa giữa không trung, những cành lá đã trở nên rậm rạp, nặng nề.
Cành liễu lướt trên mặt nước như dải lụa bắt đầu xòe rộng.
Trong khói sương mờ ảo, dáng liễu như đang say khướt, ngưng đọng giữa cảnh vật.
Dưới ánh trăng, sương đọng trên lá như giọt lệ sầu cảm.
Nhành liễu dài rủ xuống nước khiến lũ cá sợ hãi vì lầm tưởng là dây câu.
Cành liễu quá yếu mềm khiến chim chóc kinh hãi không dám đậu lên.
Liễu vốn là biểu tượng của sự ly biệt, chứa đựng biết bao tình cảm.
Dẫu đã sang hè nhưng vẫn còn vương nét xuân, mặc cho người ta vịn cành bẻ lá.

Bài thơ Ngũ Nguyệt Thủy Biên Liễu miêu tả vẻ đẹp của rặng liễu vào cúi xuân, đầu mùa hè (tháng 5 âm lịch). Dưới ngòi bút tinh tế và giàu tính hình tượng của thi nhân, cây liễu không chỉ là thực vật mà hiện lên như một trang tuyệt thế giai nhân với vẻ đẹp ẻo lả, mềm mại và đa tình.

Ba ý nghĩa chính:

Nghệ thuật nhân hóa: thi nhân đã sử dụng những từ ngữ vốn để nói về người như: thụy kiểm=mặt ngủ, lãn yêu=lưng ẻo lả, tự túy=như say, như sầu=như buồn, để thổi hồn vào cây liễu.

Vẻ đẹp u nhã: Bài thơ mang phong cách đặc trưng của một bài tiễn biệt - diễm lệ, mong manh và có chút buồn man mác.

Điển tích "chiết liễu": Câu cuối nhắc đến phong tục bẻ liễu tiễn người đi xa của người Trung Hoa xưa. Cây liễu tháng Năm dù đã xanh tốt nhưng vẫn mang thân phận của kẻ phải chia ly, âm thầm chịu đựng việc bị người đời hái bẻ cành để gửi gắm tình cảm.

Dịch thơ:

Liễu Tháng Năm


Thể thất ngôn: Tháng Năm bên nước liễu đơm xanh,

Bờ bãi vươn thân rễ bám quanh.
Bóng rủ che mờ làn nước biếc,
Mặt ngái chưa khai lạnh phủ nhành.

Lưng eo dưới nắng thêm mềm mại,
Cành dẻo đung đưa giữa thiên thanh.
Phơ phất mặt hồ tơ lụa dải,
Khói sương như rượu đời mông manh.

Dưới trăng sương đọng sầu lóng lánh,
Cá sợ lầm câu liễu buông mành.
Nhành yếu chim kinh không dám đậu,
Ly biệt đau buồn nhớ ngày xanh.


Thể song thất lục bát: Bờ tháng năm xanh um rặng liễu,

Rễ bám sâu tha thước bên ghềnh.
Bóng rủ nước biếc mông mênh,
Mặt như ngái ngủ lòng bền chưa mở.
Nắng vừa lên vươn vai hớn hở,
Cành trĩu mây nhún nhảy tầng không.
Lướt hồ dải lụa thong dong,
Sương khói mơ màng say trong cảnh đọng.
Dưới ánh trăng lệ sầu vương bóng,
Tơ liễu dài làm cá sợ câu.
Cành mềm chim ngó trước sau,
Mặc người bẻ nhánh tiễn nhau chí tình.

Phụ đính: Cây liễu

Trong thơ ca và văn hóa Trung Hoa, cây liễu (柳, liǔ) là một biểu tượng đa diện, thường gắn liền với sự chia ly, tượng trưng vẻ đẹp phụ nữ và sự xuất hiện của mùa xuân. Ý nghĩa của nó bắt nguồn từ đặc điểm tự nhiên, cách chơi chữ và truyền thống văn học kéo dài nhiều thế kỷ.

Dưới đây là 4 ý nghĩa văn hóa quan trọng nhất của cây liễu:

1. Biểu tượng của sự chia ly và luyến lưu
Sự liên kết văn hóa nổi bật nhất là với những lời tạm biệt.

• Chơi chữ đồng âm: Từ liễu (柳 liǔ) có âm gần giống với từ lưu=ở lại (留 liú). Tặng một cành liễu là lời cầu xin thầm lặng cho người bạn hoặc người thân yêu sắp ra đi hãy ở lại.

• Phong tục lịch sử: Từ thời nhà Hán, người ta thường tiễn bạn bè ở những cây cầu và tặng họ một cành liễu chiết liễu làm quà chia tay. Đặc biệt là cầu Ba ở Trường An thời Đường là nơi nổi tiếng với phong tục tiễn biệt này, đến mức người ta nói rằng những rặng liễu quanh cầu gần như bị bẻ trụi mỗi mùa chia tay.

• Di sản văn học: Chủ đề này xuất hiện từ rất sớm trong Kinh Thi (Shijing), nơi một người lính ra trận quan sát, "Khi chúng ta lên đường, những cành liễu đung đưa nhẹ nhàng trong gió".

2. Biểu tượng cho vẻ đẹp của phụ nữ
Cành liễu mềm mại, thướt tha thường được dùng để ca ngợi người phụ nữ:

• Đặc điểm hình thể:

-Liễu yêu (vòng eo liễu): Để chỉ những người phụ nữ có vòng eo thon nhỏ, mềm mại như cành liễu trước gió.

-Liễu diệp mi (mày lá liễu): Miêu tả đôi lông mày dài, thanh mảnh và cong vút như lá liễu, một tiêu chuẩn vẻ đẹp của phụ nữ Á Đông xưa.

• Đặc điểm tính cách: Khả năng uốn cong mà không gãy của cây là một phép ẩn dụ cho sự kiên cường nhẫn nại của phụ nữ - người trông có vẻ yếu đuối mềm mại, nhưng lại sở hữu sức mạnh nội tâm to lớn.

3. Sứ giả của mùa xuân và sự hồi sinh

• Sức sống: Liễu là một trong những loài cây đâm chồi nảy lộc sớm nhất khi mùa đông vừa dứt, là sức sống của thiên nhiên sau mùa đông, là sứ giả chính của mùa xuân.

• Sự đổi mới: Những chồi non xanh tươi tượng trưng cho sự đổi mới của cuộc sống và .

• Nguồn cảm hứng: Các nhà thơ như Hạ Tri Chương nổi tiếng đã so sánh những chiếc lá liễu non với "những dải ngọc bích" được cắt bởi "lưỡi kéo" của gió xuân đầu mùa.

4. Ý nghĩa tâm linh

• Nỗi nhớ quê hương và sự hoài niệm: Vì cây liễu thường mọc trong vườn và ven sông ở quê nhà, hình ảnh của chúng thường khơi gợi những cảm xúc sâu sắc về nỗi nhớ quê hương đối với những người đi xa nhà.

• Biểu tượng tôn giáo: Trong Phật giáo, Bồ Tát Quán Thế Âm thường cầm cành dương liễu để rảy nước cam lộ cứu độ chúng sinh. Cành liễu ở đây tượng trưng cho đức tính nhẫn nhục, dẻo dai.

• Xua đuổi tà ma: Trong tín ngưỡng dân gian cổ đại, cành liễu được cho là có thể xua đuổi tà ma và thường được đặt ở cửa ra vào để bảo vệ gia đình và cầu bình an.

Fifth-Month Willows by the Water by Cui Hu

Their roots take hold and rise up along the river’s edge.
Hanging shadows drape over the clear, shallow water.
Their "sleeping faces" (buds/leaves) remain closed against the chill.
Their "lazy waists" (supple branches) grow even softer in the clearing sun.
Swaying in the void, the long twigs are already heavy with foliage.
Brushing the water, their green ribbons are just beginning to unfurl.
They seem intoxicated as the misty scenery settles.
They seem sorrowful as the moonlight glistens like falling tears.
Their long silk-like strands frighten the fish, who mistake them for lines.
Their weak branches startle the birds, who fear to tread on them.
Filled with the melancholy of a many-themed parting.
Brimming with the spirit of spring, they allow themselves to be plucked.

Key Themes and Analysis

Anthropomorphism: Cui Hu gives the willow human-like qualities. He describes them as having "faces" and "waists" and experiencing emotions like "laziness," "drunkenness," and "sorrow."
Sensory Imagery: The poem captures the transition of the seasons. The "cold" of earlier spring (Line 3) meets the "sun" of the fifth month (Line 4), showing the willow at its most lush and heavy.
Interaction with Nature: The willow is so lifelike and delicate that it affects the surrounding wildlife. The "fear" of the fish and birds highlights the willow's ethereal, thread-like presence.
Symbolism of Parting: In Chinese culture, "plucking the willow" (zhe liu) is a traditional gesture of farewell. The final lines refer to this tradition, where the tree "submits" to being plucked as a symbol of the lingering "spring" (affection) between friends or lovers saying goodbye.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

Toàn vài thơ ngũ ngôn được xem như là một ví dụ của tài nhân cách hóa tĩnh vật nhưng hai câu cuối cho người đọc thấy rằng có thể Thôi Hộ mượn cảnh để tả người. Cảnh đây là cảnh chia tay giữa một người con gái và ai đó.

Từ 柳=liễu ký âm pinyin /liǔ/ là từ đồng âm của 留=lưu cũng ký âm pinyin /liǔ/ nên liễu thường được dùng làm hình tượng cho sự mong muốn được lưu giữ người đi ở lại. Từ đó có tục bẻ liễu - làm rúng động chim trên cây và cá dưới nước trong hai câu 9 và 10 - nhưng người đọc cần nhớ rằng người con gái bẻ liễu để tước vỏ của cành liễu, uốn tròn thành một cái vòng đeo vào tay người đi. Vòng là 鐶=hoàn trong chữ Hán nhưng 鐶 có một từ đồng âm 還=hoàn với nghĩa trở về - và hai từ đều ký âm pinyin là /huán/ nên điển cố bẻ liễu là bằng chứng của lòng mê tín của người Hoa Lục phản ảnh qua lối dùng chữ của họ.

Bài thơ không tả người nhưng những từ 臉=kiểm (mặt) và 腰=yêu (lưng) là hai từ dùng bộ 肉=nhục để nói về các phần cơ thể con người nên người đọc có thể hiểu rằng thi nhân họ Thôi đang tả một người con gái lưng eo và khuôn mặt buồn ngủ - nghĩa nguyên thủy của 睡=thụy là ngủ gục, có thể vì đã thức trắng đêm hôm qua - Nếu từ 淺 cuối câu 4 phát âm là tiên thay vì thiển (淺 có 5 cách phát âm trong pinyin qiǎn, jiān, jiàn, cán, zàn) với nghĩa (nước) chảy xiết thì người đọc cỏ thể hình dung rằng người con gái đang tiễn người yêu xuống thuyền bên bờ sông.

Người con gái này không thể là người với "nhân diện đào hoa tương ánh hồng" của bài Đề Đô Thành Nam Trang nên thi sĩ họ Thôi phải là một giống đa tình.

Huỳnh Kim Giám
***
@ Ý kiến của Phí Minh Tâm:

Có thể nào Thôi Hộ bị nghĩ là đa tình vì bị nhầm lẫn với một người khác chăng?

Sách cổ nhất đăng bài thơ là Đường Thi Kỷ Sự - Tống - Kế Hữu Công 唐诗纪事-宋-计有功 cho bài thơ là của Trương Hựu Tân 张又新.

Sách Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨 mới cho tác giả có thể là Thôi Hộ.

Có lẽ trước đây vì không đọc được thêm sách đời Tống, mà chỉ dựa vào sách nhà Thanh, nên người ta đề quyết là thơ Thôi Hộ mà không ghi chú gì thêm. pmt

@mirordor trả lời:

Có thể như anh nói nhưng tôi khoán việc tìm và đối chiếu sử liệu cho anh lâu rồi. Ta chỉ có 6 bài thơ gán cho Thôi Hộ nên khó mà có thể suy ra lối dùng chữ, hành văn và diễn tả của ông ta như thế nào. Đến các năm sinh tử hay tuổi đổ tiến sĩ ta cũng không biết!

Huỳnh Kim Giám