Tiêu Đề Nhãn
- Câu Đối
- Cổ Thi
- Hình Ảnh Nay
- Hình Ảnh Xưa
- Hướng Đạo Việt Nam
- Lưu Niệm Gia Đình
- Lưu Niệm Hoc Trò
- Nhạc Ngoại Quốc
- Nhạc Thánh
- Nhạc Việt
- Sưu Tầm
- Thơ Ba Má
- Thơ Cảm Tác
- Thơ Diễn Ngâm
- Thơ Dịch
- Thơ Lính
- Thơ Mùa Hạ
- Thơ Mùa Lễ
- Thơ Mùa Thu
- Thơ Mùa Xuân
- Thơ Mùa Đông
- Thơ Nhạc
- Thơ Phổ Nhạc
- Thơ Tranh
- Thơ Tranh Nghệ Sĩ
- Thơ Tình
- Thơ Xướng Họa
- Thơ Ảnh
- Trang Bạn Hữu
- Văn
- Vũ Hối Thư Họa
- Yoga
- Youtube
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Bạn Hữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Bạn Hữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026
Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 Sau Tết Mậu Thân - Nguyễn Tích Lai
Công tác quân y dân sự vụ trong Chợ Lớn-
Đốp Đốp Đốp Đốp.... Tiếng nổ chát chúa của một tràng đạn AK, nghe gần như sát bên tai, vang trong đêm ba mươi Tết Năm Mậu Thân 1968, làm tôi giật mình tỉnh dậy trong hoảng hốt. Một câu hỏi chợt thoáng qua trong đầu óc tôi là tại sao tôi cư ngụ trong một con đường hẻm cụt hình chữ T ở cuối đường Tự Đức Dakao, gồm 14 căn hộ của 14 gia đình quân nhân và công chức trung lưu hầu hết là người miền Nam tôi quen biết hết, mà lại có tiếng súng Việt Cộng trong đêm ba mươi rạng ngày mồng một Tết này?. Cha mẹ cùng mấy em tôi cũng đều đã thức dậy cả, không ai dám bật đèn cũng như không ai dám nói năng ho hen gì để còn nghe động tĩnh. Hé nhìn ra đầu hẻm tôi thấy chùm ba ngọn đèn néon thắp sáng cho đường hẻm lúc ban đêm đã bị bắn bể: đường hẻm tối om như mực, đúng như lời ví von dân gian là trời tối như đêm ba mươi. Xa xa tiếng súng nổ liên hồi vẫn vang vọng lại. Cha tôi vội mở radio để nghe tin tức thì được biết là Việt Cộng tổng tấn công nhiều cơ sở trong vùng Saigon Chợ Lớn cũng như trong nhiều thành phố lớn khác trên toàn miền Nam! Tới sáng tin đài cho biết thêm là đêm qua tại Saigon Chợ Lớn, đặc công VC đã tấn công vào vài cơ quan công quyền của chính quyền VNCH, trong đó có đài phát thanh Saigon tọa lạc trên góc đường Phan đình Phùng và Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách nhà tôi có một block. Lúc đó tôi mới suy diễn ra là sau khi tấn công đài phát thanh bị thất bại, mấy tên VC sống sót đã tìm đường tẩu thoát về phía Thi Nghè để rồi lẩn qua khu Hàng Xanh rồi Đồng Ông Cộ trên đường rút lui khỏi thành phố. Một hai tên, tôi chỉ đoán chừng, đã đi lạc vào đường hẻm nhà tôi. Về sau tôi nghe dân phố ở cuối đường đồn là mấy tên VC này, tuổi chỉ độ chừng mười bốn mười lăm, đã bị toán cảnh sát quốc gia do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Cảnh sát Đô Thành, đang trấn đóng ở cuối đường Tự Đức trên bờ Kinh Nhiêu Lộc (Thị Nghè), bắt giữ hay hạ sát.
Sáng mồng một Tết, sau khi nghe đài phát thanh công bố là tình hình nội thành Saigon Chợ Lớn đã ổn định, quân đội VNCH và lực lượng Cảnh sát Đô Thành đã làm chủ tình hình, tôi trở vào tàu Y Tế Hạm HQ 400 đang đậu tại cầu C trong Hải Quân Công Xưởng ( Sở Ba Soong ). Khi đi ngang qua tòa đại sứ Hoa Kỳ ở góc đại lộ Thống Nhất và đường Mạc Đĩnh Chi, tôi thấy một lỗ hổng trên tường rào của tòa đại sứ, gần sát mặt đất, độ lớn có thể để cho một người nhỏ con khom lưng bò qua được. Một chiếc taxi hai mầu vàng xanh hiệu Renault còn thấy đậu trên đại lộ Thống Nhất, xeo xéo cửa chính của tòa đại sứ. Hạm trưởng Tài đã hiện diện trên Y Tế Hạm từ sáng sớm, báo cho tôi biết là ngày mai ( tức mồng hai Tết ) toán Quân Y của HQ 400 được Bộ Tư Lệnh Hải Quân chỉ định qua công tác Quân Y Dân sự Vụ tại vùng Bình Đông Cholon, cùng với toán Quân Y của Y Tế Hạm HQ Hàn Giang 401 mà hạm trưởng là HQ Đại uý Nguyễn văn Pháp và Y sĩ trưởng là bác sĩ Trịnh, cùng Nha sĩ trung úy Đỗ Hùng Phi, công tác tại khu vực bến Phạm Thế Hiển.
Sáng sớm ngày hôm sau toán quân y chúng tôi gồm 15 người đã tề tựu sẵn sàng tại cầu tàu C trong Hải Quân Công Xưởng để chờ xe tới đón đi công tác. Hạm trưởng Tài, như thường lệ, không quên tăng phái hai nhân viên ngành trọng pháo của chiến hạm đi cùng chúng tôi để lo việc an ninh trật tự tại địa điểm công tác. Đúng 8 giờ sáng hai xe GMC tới chở chúng tôi, cùng với hai xe jeep chở Người Nhái HQ đi hộ tống, một xe có trang bị thêm súng trung liên M60. Xe chở chúng tôi đến Bình Đông đi qua ngả Cầu Chữ Y , bến Phạm Thế Hiển. Nhà cửa trong khu Bến Phạm Thế Hiển bị đổ nát khá nhiều do bom đạn của cả hai bên. Càng tới gần khu vực Bình Đông thì sự đổ nát càng gia tăng nhiều, có nơi còn bị cháy rụi đen thui!. Nhiều bà con phải dựng lều ở tạm trên nền đất nhà cũ của mình !.
Như đã được Ban Tâm lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ thông báo trước , nên khi chúng tôi đến Bình Đông đặt chỗ khám bệnh phát thuốc trong một trường tiểu học của khu vực , đồng bào đã đến tề tựu đông đúc, nhiều nhất là trẻ em đủ mọi lứa tuổi.
Hầu hết người lớn và trẻ em ai cũng mặc quần áo mới: có lẽ là ngày Tết Nguyên Đán. Các trẻ em đi theo với người lớn. Có cháu còn cõng cả em nhỏ sau lưng. Các em nhốn nháo kháo nhau:" Có cả nhổ răng nữa bay ơi ", " Ông này chắc nhổ răng không đau ", “mày vô trước đi”...v.v....Ngày Tết mà bà con cũng không ai sợ bị "giông " (sui) vì đầu năm đã đi khám bệnh, nhổ răng, do đó bệnh nhân khá nhiều, đặc biệt nha sĩ Đạt rất đông thân chủ!. Trong thời gian khám bệnh, đôi lúc tôi nhìn ra đường, thấy hai xe jeep hộ tống của người Nhái HQ vẫn túc trực ở phía trước cổng trường. Xa xa nghe tiếng kèn đám ma vẳng lại: hỏi ra thì được biết là trong xóm có người bị chết vì đạn lạc! Tôi cảm thấy buồn ngao ngán và lại thấy căm ghét Cộng Sản vì chúng đã tàn ác, tán tận lương tâm....gây đau khổ tang tóc cho đồng bào trong ngày Tết Nguyên Đán, một ngày truyền thống linh thiêng của dân tộc, ngày để bà con có dịp nghỉ ngơi quây quần đoàn tụ nhớ đến công ơn của các bậc tiền bối sau một năm làm việc mệt nhọc vất vả ...Vậy mà bọn Việt Cộng, hiếu chiến, ngu đần mù quáng nghe theo lệnh Nga Tầu,... vẫn ba hoa lẻo mép là chúng mang lại độc lập tự do ấm no hạnh phúc cho đồng bào ; cũng vẫn dụ dỗ được một số người nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền xảo trá và tin theo chúng!!!. Còn buồn hơn nữa là buổi chiều trở về sau khi hết công tác tại Bình Đông, tôi thấy thiếu một xe jeep của người Nhái HQ, chiếc xe có gắn khẩu trung liên M60. Hỏi ra thì được biết là chiếc xe đó trong lúc đi tuần tra quanh vùng Bình Đông Xóm Củi đã bị cháy rụi vì trúng đạn B40 của VC!! Lại thêm tang tóc đau thương cho gia đình mấy chiến sĩ anh hùng của Hải Quân VNCH đã vì nhiệm vụ diệt Cộng cao cả để bảo vệ đồng bào mà không được hưởng trọn mấy ngày Tết!. Rồi còn gia đình, thân nhân của mấy lính Việt Cộng, nạn nhân của những tên lãnh đạo VC bần cố nông không tưởng, hèn hạ, quỷ quyệt..: Có ai vui sướng gì đâu khi con em họ bị bắt đi làm vật hy sinh cho âm mưu xâm lăng thâm độc của bọn Cộng Sản Nga Tầu và bọn đầy tớ tay sai VC để gây ra cảnh huynh đệ tương tàn nồi da xáo thịt!!?
Trở về lại tàu, sau khi báo cáo tình hình và kết quả của công tác tại Bình Đông, tôi được hạm trưởng Tài cho biết tin là công tác Quân Y Dân Sự Vụ tại Saigon Cholon đã chấm dứt, và tàu có năm ngày để sửa soạn trang bị tiếp liệu…cho chuyến công tác cứu trợ dài ngày tại miền Trung.
Trong dịp Tết Mậu Thân, HQ 400 đang nghỉ bến tại Saigon.
Thường thường Y Tế Hạm Hát Giang HQ 400 sau khi đi công tác Quân Y Dân sự vụ trong hai hay ba tuần lễ tại các vùng sông ngòi, hải đảo xa xôi từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, Phú Quốc.., thì lại được về nghỉ bến trong hai hay ba tuần để tu bổ sửa chữa và lo trang bị tiếp liệu...cho chuyến công tác tiếp. Hạm trưởng Tài điều hành mọi sinh hoạt trên HQ 400, còn tôi đảm trách mọi dịch vụ liên quan đến Quân Y.
Hạm trưởng Đoàn Danh Tài, cấp bậc đại úy lúc đó, xuất thân khóa 7 trường Sĩ quan Hải Quân Nha Trang, được thuyên chuyển về HQ 400 hồi tháng 5 năm 1966 thay thế HQ thiếu tá Vũ Tường Thụy khóa 5 giải ngũ. Sau đó ông mang tàu đi Guam đại kỳ (tu bổ, sửa chữa, đặc biệt hoàn chỉnh trang thiết bị quân y cho Y Tế Hạm HQ 400) và trở về Saigon đầu năm 1967. Ông, vóc người trung bình, là một sĩ quan năng động, lanh lợi, nguyên tắc, nói năng hoạt bát, Anh Văn lưu loát, làm việc có tổ chức, và đặc biệt rất lo lắng cho đơn vị cũng như cho nhân viên. Ông thường khoe với tôi “ bác sĩ biết không: hồi mang tàu đi đại kỳ ở Guam, trước khi về tôi có xin Hoa Kỳ cho full supplies về thực phẩm, để khi về VN, lúc đi công tác, mình có cái gì để tăng cường khẩu phần ăn cho nhân viên”. Mà đúng vậy: khi tàu HQ 400 đi đại kỳ về , lúc đó tôi mới được chuyển từ Bộ binh về Hải Quân và đang làm y sĩ điều trị tại bệnh xá Bạch Đằng (chưa được cải danh là Bệnh viện ), tôi được lệnh thuyên chuyển xuống tàu. Tôi nhớ trong những ngày đi công tác hồi đó, phần ăn của chúng tôi thường có thêm hotdogs, thịt hộp SPAM..., và nước ngọt soda TANG, nước cà chua tomato juice…. Riêng tôi rất thích nước cà chua hộp nên uống nhiều vì nghĩ rằng nước này giàu sinh tố, nhất là sinh tố A, sẽ giúp cho mắt sáng hơn. Thế nhưng kết quả là mắt tôi “chẳng sáng ra “gì cả vì ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi đã không chạy trốn VC mà ở lại VN để rồi bị bắt đi tù cải tạo ba năm trong nhiều trại tập trung khác nhau, để cùng với các đồng bạn quân nhân QLVNCH khác phải trải qua biết bao nhiêu gian nguy,cực khổ, cũng như chứng kiến, chịu đựng nhiều điều nghịch lý chướng tai gai mắt, ngu xuẩn của bọn cán ngố VC răng đen mã tấu vô học.......!! Nói như vậy kể cũng hơi vơ đũa cả nắm vì thật ra trong số những cán bộ miền Nam tập kết về cũng còn có một số ít người biết điều, thông cảm, dễ thương. Có lẽ những người hiếm hoi này chưa bị bọn CS Bắc Việt tuyên truyền tẩy não tới mức, hoặc giả họ còn giữ được lương tri “ tính bản thiện “của một người Việt Nam chưa bị nhiễm độc Cộng Sản.
Nói về những chuyện chướng tai gai mắt đáng buồn hay tức cười do bọn cán ngố CS gây ra trong thời gian chúng tôi bị đi tù cải tạo tập trung thì nhiều lắm: nếu viết hết ra thì cũng phải tốn ít nhất đến vài trăm trang sách ; nhưng tôi thì không có khả năng làm công việc đó. Vả lại tôi biết có rất nhiều văn sĩ hay cải tạo viên tài ba đã viết nhiều bút ký, hồi ký về tù cải tạo rồi. Ở đây tôi chỉ xin đơn cử một vài trường hợp mà chính bản thân tôi đã được chứng kiến. Hôm đó chúng tôi được chỉ thị là phải lên hội trường tập họp sớm hơn sau các công việc thường lệ của mỗi ngày là buổi sáng thức dậy lúc sáu giờ theo kẻng đánh thức, ra sân tập thể dục tập thể, đi lao động buổi sáng khoảng bốn mươi phút, về lãnh cơm, ăn sáng ( cũng là bữa trưa luôn ).... rồi lên lớp học chính trị. Khoảng chín giờ, sau khi cải tạo viên chúng tôi gồm hai trăm năm chục sĩ quan cấp tá QLVNCH đã tề tựu đông đủ tại hội trường, thì tên đại úy cán bộ quản giáo của trại đi với một người đàn ông trung niên thấp, không đen đủi lắm, mặc thường phục với nét mặt đặc biệt VC, cùng bước vào phòng tiến về phía bục giảng đã kê sẵn một bàn gỗ và một ghế ngồi. Sau khi giới thiệu người khách mới, tên đại úy yêu cầu chúng tôi đứng dậy hướng về phía tường trước mặt trên đó có treo hình Hồ Chí Minh, để “tưởng nhớ tới Bác Hồ kính yêu (sic)”. Bỗng nhiên tên đại úy chỉ tay về phía tôi và nói lớn:” Anh kia bỏ kính ra”. Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba, đang ngỡ ngàng chưa biết hắn chỉ ai thì hắn nói tiếp:” Cái anh đeo kính trắng gọng đen kia bỏ kính ra”. “ Các anh không có nghiêm túc gì cả: lúc cung kính Bác thì không ai được đeo kính”. Tôi bèn bỏ kính ra vì biết là hắn nói tôi. Cho đến tận bây giờ tôi cũng vẫn không hiểu là hắn nghĩ gì mà lại bắt những người cận thị không được đeo kính cận khi mặc niệm “ Bác” của hắn!. Sau phút mặc niệm chúng tôi ngồi xuống và tên đại úy cũng lấy một ghế ngồi ở góc phòng phía cửa ra vào nhìn về phía chúng tôi ( để theo dõi?).
Với nét mặt trang nghiêm trịnh trọng, người khách mới ( giảng viên ) bắt đầu lên tiếng :” Hôm “lay” tôi được cấp trên phái tới đây để “ lói “ chuyện với các anh về đề tài “Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt và yêu lước nà yêu Xã Hội Chủ Nghĩa”. Giảng viên nói thao thao bất tuyệt như trả bài học thuộc lòng, với những sáo ngữ dao to búa lớn rỗng tuếch ca ngợi chế độ XHCN và những lý luận kiểu con chó phải ăn c...mà chúng ta ai cũng đã biết hết. Để dẫn chứng rằng chế độ XHCN là ưu việt, giảng viên nói chuyện bên Liên Xô, bên các nước XHCN anh em ở Đông Âu...cho chúng tôi nghe.
- Các anh biết không? Bên Niên Xô bây giờ người ta không uống bia đựng trong chai lữa, mà bia được dẫn tới mỗi nhà bằng ống như ống lước, núc muốn chĩ cần mở vòi ra nà có bia uống ngay ...( sic )!!
- Hiện lay bên Hung Ga Ri người công nhân mỗi lăm chỉ đi nao động có sáu tháng, còn sáu tháng kia nà để đi chơi. Mỗi nhà có hai xe hơi: một xe để đi nàm và một xe để đi chơi...( sic ) !!
- Mai mốt khi ta tiến nên Công Sản Chủ Nghĩa thì núc đó mọi người sẽ nàm theo lăng nực hưởng theo nhu cầu. Ví dụ mỗi ngày tiêu chuẩn thịt của anh nà lửa kí nô, nếu anh không ăn hết thì chỉ cho chó ăn thôi vì mọi người ai cũng có tiêu chuẩn cả rồi ( sic ) !!
Và còn nhiều nữa... và nhiều nữa....Ôi! Chuyên dài XHCN ấy mà!! Nói chuyện về Cộng Sản thì chẳng biết bao giờ hết chuyện; chỉ sợ là sẽ làm quý bạn nổi cơn dị ứng cấp tính hoặc đứt gân máu thì nguy hiểm lắm!!!
Sau bài học chính trị tôi lại hiểu thêm đươc lý do tại sao các chính quyền CS lại chủ trương tin dùng những người xuất thân nghèo hèn vô tôn giáo kém văn hóa và tại sao những người này lại tôn thờ “lãnh tụ “ của họ đến thế !!! Trong suốt ba năm đi tù cải tạo và suốt thời gian đi làm việc lại trong bệnh viện, tôi có nhiều dịp tiếp súc, chuyện trò với những đảng viên Việt Cộng, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe một người nào tán tụng hay nhắc nhở đến Ông Bà Cha Mẹ mình ngoại trừ việc “ đời đời nhớ ơn Bác và Đảng “ của ho.!
Ngày đầu khi tôi xuống HQ 400 trình diện, hạm trưởng Tài đích thân đưa tôi đi thăm viếng các nơi trên tàu cũng như giới thiệu tôi với các sĩ quan của chiến hạm. Lúc đi trên sàn tàu tôi thấy ở xa xa trước mặt hình dáng một người to lớn vạm vỡ , nước da bánh mật, có râu quai nón, đang hí hoáy gì ở máy điều hòa không khí của xe quang tuyến X. Tôi nghĩ bụng có lẽ đó là một ông cố vấn Mỹ nên đang định uốn lưỡi sửa soạn xổ một câu chào hỏi xã giao “ hao a i u đú ình” thì đã tới gần. Người đó vừa ngừng tay làm việc để nhìn chúng tôi thì hạm trưởng Tài đã chỉ tay giới thiệu” Đây là thượng sĩ y tá Vương kiêm quản nội trưởng của tàu, cũng vừa theo tàu đi đại kỳ về với tôi “ , rồi ông hướng về tôi và giới thiệu” Đây là bác sĩ Lai được thuyên chuyển xuống làm y sĩ trưởng của Y tế Hạm HQ 400”. Liền lúc đó thượng sĩ Vương đứng nghiêm chào chúng tôi theo kiểu nhà binh. “ Chào thượng sĩ Vương , chúng mình sẽ cùng làm việc chung với nhau hé”, tôi nói , xong lại tiếp tục theo hạm trưởng Tài đi thăm chiến hạm. Sau này thượng sĩ Vương là một trong những phụ tá đắc lực của tôi trên HQ 400 cũng như ở Khối Quân Y HQ. Ổng đi HQ từ thời Pháp tới nay nên có rất nhiều kinh nghiệm về đi biển. Ông nói thông thạo cả Pháp văn lẫn Anh văn, và có tài uống rượu như hũ chìm. Ông kể chuyện hồi còn trong Hải quân Pháp, phần ăn hàng ngày của lính thủy thường hay có rượu vang va phó mát Camembert ( Brie ) . Vì ông không ăn được Camembert nên cứ đổi phó mát cho mấy lính Tây để lấy rượu về uống.
Hai ngày sau khi tôi xuống tàu thì nha sĩ đại úy Vũ Tiến Đạt và thiếu úy HCQY Nguyễn Văn Sáu cũng được thuyên chuyển xuống HQ 400. Như vậy là số sĩ quan quân y của Y Tế Hạm HQ 400 đã đầy đủ theo đúng cấp số.
Chuyến hải hành đầu tiên trong đời lính thủy của tôi là chuyến đi Côn Sơn. Sau này có dịp tôi sẽ xin ghi lại hầu các bạn một vài ký ức của chuyến hải hành đầu đời này, một chuyến hải hành vui thích với nhiều kỷ niệm khó quên.
Nha sĩ Đạt dáng người dong dỏng, ăn nói từ tốn chậm dãi với nụ cười hề hề luôn nở trên môi, không hút thuốc như tôi nhưng thích nhâm nhi chút đỉnh la de mỗi khi có dịp.
Còn thiếu úy Sáu tự Sáu nhỏ là một người nhanh nhẹn, lanh lợi hoạt bát, luôn cười nói vui vẻ, ưa nói chuyện vui tếu: ở đâu có anh là có vui nhộn. Sáu Nhỏ đảm trách công việc hành chánh và tiếp liệu quân y cho Y tế Hạm. Khi đi công tác QY Dân sự vụ ở các nơi anh còn phụ tôi khám bệnh cho đồng bào vì trước khi bị động viên vào quân đội anh đã từng làm cán sự điều dưỡng với Bộ Y Tế. Anh cũng không hút thuốc, nhưng rất thích "dzô dzô": có lần vui bạn anh dzô dzô nhiều qúa đến độ khi về tàu anh lại cho "ra ra" hết! Khi mới quen biết Sáu, tôi tự hỏi không biết tại sao thiếu úy Sáu lại có biệt danh Sáu Nhỏ, vì ảnh vóc người thì cũng trung bình như tôi và đứng cạnh nhau thì chỉ thua tôi có nửa cái đầu thôi (tôi cao 1m70) .Tôi tò mò hỏi thăm má anh thì được biết là " hồi mới sanh ra nó ốm o còm cỏi lắm so với các anh chị nó nên ở nhà mới đặt tên nó là Sáu Nhỏ". Sau này tôi suy ra là khi lớn lên Sáu Nhỏ không còn nhỏ con nữa vì nhờ được ăn nhiều tôm cá tươi từ vựa cá của cha mẹ ở Nhà Bè.
Công tác quân y dân sự vụ tại Huế
Năm ngày để sửa soạn cho chuyến công tác tại Huế qua đi rất mau. Vì đã quen với các thủ tục hành chánh, cộng thêm với sự làm việc sốt sắng nhiệt tình của các nhân viên y tế đắc lực nên việc xin tiếp liệu y dược cho Y tế Hạm HQ 400 không có gì khó khăn chậm trễ.
Kho Y dược HQ, và chính yếu là Kho Y dược Trung Ương 731 tại Phú Thọ, là hai nguồn cung cấp tiếp liệu y dược dồi dào cho hai Y tế hạm. Ngoài ra mỗi khi có trường hợp đột xuất tại một địa diểm công tác, Y tế hạm có thể nhờ tới cố vấn Hoa Kỳ xin tiếp liệu y dược đặc biệt từ nhũng đơn vị y tế của Hoa kỳ hay các đồng minh khác. Thí dụ có lần tàu đang công tác QY dân sự vụ trong vùng Phan Rang Phan Thiết thì hết thuốc nhỏ mắt vì ở đây đang có dịch đau mắt đỏ. Tôi báo với hạm trưởng Tài : sau đó thấy ông đi với cố vấn Hoa Ký và đến chiều cùng ngày ông mang về cho tàu mấy thùng thuốc nhỏ mắt.
Ngày khởi hành đi Huế đã đến. Ngoại trừ một vài người quê ở Huế hay Đà nẵng, còn phần lớn những người trên tàu ít ai đã có dịp đặt chân đến đất Thần Kinh với những địa danh nổi tiếng như núi Ngự, sông Hương , cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ..v..v...Ai nấy đều thấy thích thú vì sẽ được biết Cố Đô. Song cũng có một số ít người thoáng chút ưu tư vì tình hình ở Huế lúc đó cũng chưa hoàn toàn yên tĩnh. Riêng tôi thì có nhiều cảm tình với Huế vì trước đây tôi đã có dịp ra thăm Huế hai lần trong thời gian đi lính đóng ở Đà Nẵng. Ở Huế có nhiều món ngon như cơm hến, bánh khoái, bánh nậm, bánh ram, tré, mắm tôm chua, mè xửng..v...v... Tôi thích hai món tré và mắm tôm chua . Nhưng điều tôi thích nhất không phải là món ăn ngon mà là giọng nói dễ thương của người Huế: Giọng Huế thánh thót, líu lo ríu rít như chim hót, như âm nhạc..., nghe êm tai “ dề ..ệ sờ ợ...” chi đâu!.
Đặc biệt trong chuyến công tác lần này là hai tàu Y Tế hạm Hát Giang HQ 400 và Hàn Giang
HQ 401 đều cùng khởi hành đi Huế một lần. Tàu chạy từ Saigon tới cửa Thuận An mất khoảng hai ngày hai đêm. Vì tàu lớn không vào sông Hương được nên hai Y Tế Hạm phải neo ở cửa Thuận An . Toán y tế chúng tôi, cùng với toán Tâm Lý Chiến của Bộ Tư Lệnh HQ, đi ghe của duyên đoàn hải quân để đến Huế.
Sau khoảng hai giờ giang hành trên sông Hương, chúng tôi đã tới trung tâm kinh thành và đổ bộ xuống bãi đất trống ngay sát bên chân cầu Tràng Tiền. Rồi người đại diện của chính quyền Huế hướng dẫn chúng tôi băng qua đại lộ Lê Lợi để vào trú ngụ trong trường Đại học Sư Phạm Huế. Khác với các sông ngòi ở miền Nam, khúc sông Hương từ cầu Tràng Tiền ra biển không quanh co uốn khúc nhiều, nước sông trong xanh, lững lờ chảy hiền hòa chậm rãi cho tới cửa Thuận An. Từ trường đại học Sư Phạm Huế chúng tôi nhìn thấy cầu Tràng Tiền, bên kia sông là đường Trần Hưng Đạo dẫn tới cửa Thượng Tứ và Chợ Đông Ba... Nếu đi trên đại lộ Lê Lợi dọc theo hữu ngạn sông Hương hướng về phía thượng nguồn, chúng ta thấy Bệnh viện Trung Ương Huế, khách sạn Morin, trường Quốc Học...tọa lạc ở phía tay trái. Xa xa là cầu Bạch Hổ. Xa xa nữa là chùa Thiên Mụ ....
Vách tường trường Đại học Sư Phạm lỗ chỗ với nhiều vết đạn, và rất nhiều cửa kính của các phòng học bị bể vỡ mảnh kính rơi rớt tung tóe trên sàn nhà chưa có người dọn dẹp. Chúng tôi trải poncho để nằm ngủ trên sàn nhà của các phòng lớp ít bị hư hại. Rất may là điện nước của trường cũng còn xử dụng được nên vấn đề nấu nướng, vệ sinh không bị trở ngại lắm. Thật sự mà nói , nếu so sánh với các đồng đội bên Bộ Binh lúc đi hành quân, thì chúng tôi sung sướng hơn nhiều.
Hàng ngày toán Quân Y của HQ 400 làm việc (khám bệnh, nhổ răng, phát thuốc) cho bà con tại trường Quốc Học (bên hữu ngạn sông Hương ), và toán QY của HQ 401 thì làm việc tại Cửa Sập (bên tả ngạn ). Hai ngày đầu Thiếu úy Tiến , trưởng toán Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh HQ, có mang theo dầu ăn và mền ấm để tặng bà con.
Trong thời gian đoàn công tác trú ngụ tại trường Sư Phạm, HQ Thiếu tá Phan Phi Phụng, trưởng phòng Tâm Lý Chiến BTL HQ , có ra thăm và ngủ lại vài đêm với anh em. Thiếu tá Phụng là một người nho nhã hiền lành nói năng chậm rãi, hay phì phèo ống điếu. Ông thường hay thức khuya để cùng tán chuyện gẫu với anh em trước khi đi ngủ. Một lần có lẽ ông cũng bị một phen sợ như chúng tôi. Số là đêm đó trong lúc đang chuyện trò trước khi đi ngủ thì chúng tôi chợt thấy một tia sáng lóe ở phía sông , tiếp theo sau là một tiếng nổ lớn vang trời. Qua ngày hôm sau chúng tôi được biết đó là VC pháo kích, đạn rớt nhằm bãi đất trống trên bờ sông gần cầu Tràng Tiền và may mắn không có thiệt hại nhân mạng hay vật chất gì cả.
Số bà con cô bác đến xin khám bệnh nhổ răng rất đông: phần lớn là các phụ nữ và các ông bà già có tuổi. Rất ít bệnh nhân thanh niên hay đàn ông : không biết có phải vì nhiều người đã bị VC bắt đi theo chúng để làm lao công chiến trường.v..v.. để rồi cuối cùng họ bị VC giết hại trong lúc chúng rút lui và chôn xác họ trong những mồ tập thể!!.
Qua nét mặt ngơ ngác, bơ phờ của những bệnh nhân, chúng ta có thể đoán biết được là họ đã sống căng thẳng sợ hãi đến chừng nào trong những ngày VC đánh chiếm thành phố !. Một ông cụ than thở với tôi:
- “Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tới chừ, chưa bao giờ tôi sợ như lần ni. Bọn VC dã man tàn bạo quá . Ngày xưa Tây nó ác, nhưng đâu có bằng tụi ni “. Ngưng một lát như để nguôi cơn giận và để lấy thêm hơi , ông cụ nói tiếp : “ chúng chia nhau đi lục soát khắp mọi nhà để tìm kiếm đàn ông thanh niên và bắt đi theo chúng. “. Tôi tò mò hỏi cụ:
-” Thế chúng có lục xét nhà bác không , thưa bác?”. “
-“ Có chứ ,sao lại không “, ông cụ trả lời. “Khi chúng thấy trong nhà chỉ có vợ chồng tôi thôi thì một đứa hỏi: đàn ông thanh niên trốn đâu hết rồi? Bộ chúng đi theo Mỹ Ngụy để đánh phá cách mạng phải không?. Chúng tôi sợ quá. Nhưng vợ tôi nhanh trí trả lời ngay: “thưa các anh chúng tôi không có con cái, chỉ có hai ông bà già sống với nhau thôi”. Sau đó chúng không xét hỏi gì thêm nữa và vội vã đi qua nhà khác. Có lẽ vì chúng thấy nhà tôi quá đơn sơ nghèo nàn nên bỏ đi ...”
Sau khi khám bệnh tôi viết toa tặng hai ông bà một chai thuốc đa sinh tố cùng một ít viên thuốc an thần và dặn ông bà uống một viên nâu ( multivitamins) vào ban ngày và viên trắng (thuốc an thần meprobamate ) vào buổi tối.
Có một điều vui là sáng ngày hôm sau ông cụ đó trở lại tìm tôi, đi cùng hai bạn già khác.
_”Bữa qua ông cho tôi thuốc chi hay quá: đêm ngủ ngon một giấc và không còn mớ thấy VC nữa. Xin ông khám và cho bạn tôi thuốc như rứa đi” , ông cụ nói với nụ cười biết ơn trên môi.
Với lòng tin vững mạnh vào sự chiến đấu anh dũng của quân đội VNCH, tôi nói để trấn an các cụ: ” Bác uống hết thuốc là hết sợ VC thôi. Bữa trước tụi nó đột nhập đánh lén, chứ bây chừ quân đội VNCH đã trở lại làm chủ tình hình rồi thì còn chi mô nữa mà các bác phải lo sợ”.
-“ Đúng rứa , cũng nhờ mấy ông cả; nếu không thì cũng chẳng biết răng. Tụi nó dễ sợ quá ông ơi “, một cụ trả lời.
Một bữa khác, nhân nói chuyện với một ông tuổi trạc tứ tuần, tôi hỏi:
-Ông hay quá vậy? Ông trốn đâu mà không bị tụi nó bắt đi?
- “Mèng đéc ơi, sợ quá xá đi chứ! Tưởng đã chết rồi kìa! Ông biết hôn: tôi gốc Mỹ Tho, làm cảnh sát ở Saigon, lấy vợ người Huế và về quê vợ ăn Tết. Cái đêm lộn xộn biết là VC về, tôi trốn vào Bệnh Viện Huế mặc quần áo nhà thương giả làm bệnh nhân. Bọn VC có đi rảo qua các phòng bệnh nằm, nhưng có lẽ vội vàng nên chúng không lục lọi kỹ. Nếu không thì chắc tôi cũng tiêu với bọn quỷ đó rồi. Thật cám ơn Trời Phật: Nam Mô A Di Đà Phật”, ông tứ tuần kể lại.
Có một Chủ Nhật không làm việc, anh em đòi đi chơi đó đây thăm thú Cố Đô; nhưng vì lý do an toàn tôi chỉ dám để anh em qua bên kia sông, tới ăn uống ở chợ Đông Ba và vào thăm Nội Điện. Cảnh tượng trong Nội Điện thật là hoang tàn đổ nát!. Nhiều mái nhà trong cung điện bị sập, tượng đá tạc các quán quần thần đổ ngã ngổn ngang ngoài sân, có ông bị đạn khắp người, cụt tay, cụt chân, thậm chí có ông mất cả đầu....Nhiều cột nhà bằng gỗ lim bị bể tróc toác hoác, ngai vàng của vua bị đạn lủng lỗ trỗ...
Ai là người đã gây ra cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn để mang đến biết bao nhiêu hậu quả tang thương đổ vỡ...cho quê hương Việt Nam giàu đẹp hiền hòa này!.
Sau nửa tháng anh em QYHQ làm việc hết sức mình để giúp đỡ bà con Cố Đô , chúng tôi đã hoàn thành công tác và được ghe hải quân chuyên trở lại tàu đang neo đợi ở cửa Thuận An. Hai Y tế Hạm lại “ thuận buồm xuôi gió” về miền Nam.
Một buổi sáng trong lúc hải hành ngang vùng Qui Nhơn, sau khi dùng điểm tâm xong, hạm trưởng Tài mời riêng thiếu úy Sáu và tôi ra nói chuyện ở sân sau của Tàu. Hôm nay thấy ông vui vẻ tươi cười hơn mọi ngày. Ông lấy ra ba hôp nhỏ hình chữ nhật, được gói ghém cẩn thận, từ trong túi quần và nói với hai chúng tôi:
- Xin báo cho quý vị một tin vui là đêm qua tôi nhận được công điện cho biết là qúy vị và tôi được thăng cấp kể từ hôm nay. Xin mừng quý vị. Nhân tiện tôi xin tặng mỗi vị môt cập lon mới. Sáu và tôi rất cảm động trước sự quan tâm dễ thương của hạm trưởng Tài.
Tôi hỏi:
- Làm sao hạm trưởng hay quá vậy? Đang đi tàu trên biển mà lại có được lon mới.
- “Ồ chuyện thăng cấp thường niên ấy mà. Tôi đã được phòng Tổng Quản Trị cho biết trước, nhưng còn giữ kín để gây ngạc nhiên, chờ tới khi có công lệnh chính thức thì mới thông báo”, hạm trưởng Tài nói.
Rồi ông nói tiếp: “ Hôm này về nghỉ bến, mình sẽ tổ chức lễ rửa lon để ăn mừng và đãi anh em trên tàu.”. Tôi mừng thầm và nghĩ bụng là tôi lại có dịp để thực tập cách pha coctail học được từ thượng sĩ y tá Vương. Tiện đây tôi cũng xin nói nhỏ với quý bạn cho vui là sau này khi được qua Mỹ định cư ông Google có chỉ dẫn cho tôi nhiều kiểu pha rượu ngon và xuất sắc lắm.
Giờ đây, ở tuổi gần đất xa trời, nhờ ơn Trời Phật tôi và gia đình đã may mắn được sống trên đất Mỹ, một xứ sở của độc lập tự do, nhân phẩm con người được tôn trọng...,tôi ngồi ôn lại những chuyện buồn vui lẫn lộn trong những chặng đường đời đã qua, lòng tôi cảm thấy nao nao, tim tôi sắt lại vì càng ngày càng thiếu đi những người thân, những người tôi mang ơn, những bạn bè, những đồng nghiệp.....Đời tôi nhiều bạn, không có kẻ thù, ngay cả những người Cộng Sản mà tôi có dịp tiếp xúc. Tôi không thù ai, nhưng có thể có người thù tôi thì làm sao biết được!.
Còn một điều vẫn luôn vương vấn trong tâm tư tôi là ước muốn làm sao cho quê hương xứ sở Việt Nam sớm được thực sự độc lập tự do, thoát khỏi ách Cộng Sản tam vô độc tài gian ác, để đồng bào tôi được sống ấm no hạnh phúc, để con cháu tôi có thể về thăm hay sinh sống ở một quê hương an lành, văn minh và tiến bộ. Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết có nên ghi lại sau đây bài thơ tôi đã nghe được trong một giấc mơ, bài thơ mà tôi cho là những lời trăn trối của Hồ Chí Minh nhắn nhủ những người lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.
Các Cô các Chú hãy nghe tôi:
Chán Mác Mao, tôi giác ngộ rồi.
Thoát Trung, cải tổ, thân Âu Mỹ,
Chơi với ba Tầu mất nước thôi.
Thật mong lắm thay.
Gaithersburg Maryland . Mùa Xuân năm 2016
Nguyễn Tích Lai
Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026
Thơ Ngây Trăng Mộng Mơ Hoa

Một mùa trăng mộng mơ hoa
Vai kề má tựa chung nhà thơ ngây
Trăm thương ngàn nhớ tóc mây
Bể dâu ly cách còn đầy hương mê...
MD.07/16/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Một Mùa Trăng & Bến Mê Ký Ức"
của TVS đa tài hoa thật quý Kim Oanh
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026
Trời Vào Đông
Nỗi cô đơn, khi gió chuyển cuối mùa
Ngoài hiên nhà, lá vàng đỏ sang Thu.
Không gian lạnh, hòa thêm bao nỗi nhớ
Quên sao được, một mối tình dang dở
Kỷ niệm xưa quanh quẩn mãi bên lòng
Nhớ vô cùng, khi trời chuyển sang Đông
Ta muốn gửi, một tâm tư theo gió.
Mùa Đông ơi ! Mùa Đông đừng đến nữa!
Đến rồi đi, ta sầu vướng trong lòng
Mối tình đẹp, sao cứ mãi trong Tâm
Ta cố quên, nhưng vẫn còn lưu luyến!
Trời vào Đông, Tâm ta còn xao xuyến!
Cảnh thiên nhiên, trời mây nước tuyệt vời
Lá rụng rơi, cây trơ trụi trên đồi
Tâm tĩnh lặng, mong vơi đi sầu nhớ.
Hoàng Thục Uyên
Cảm xúc từ Tùy Bút của Kim Oanh: Mùa Đông Chạm Cửa
Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026
Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế New York 2026

Nữu Ước cờ ta rợp phố phường
Vinh Danh phái đẹp Việt Nam* thương.
Một nền vàng sáng đầy nhân bản
Ba sọc dỏ tươi thắm quốc hương.
Nửa thế kỷ kiều bào vững mạnh
Năm mốt năm Phụ Nữ kiên cường
Diễn Hành Văn Hóa cùng nhiều nước
Màu sắc Cộng-Hòa mãi biểu dương!
Duy Anh
*New York. June 13th 2026
The International Culture Parade
Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026
Hạo Khí Trường Tồn - Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Minh Thanh

(Đại Tá Trần Cẩm Hương)
Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!
Nguyễn Minh Thanh
Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:
Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.
Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.
Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.
Sau năm 1975
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bà Trần Cẩm Hương bị kẹt lại Sài Gòn và phải đi tù cải tạo kéo dài suốt 10 năm dù đã giải ngũ trước đó.
Sau khi ra trại năm 1985, bà bị chỉ định lao động ở Hậu Nghĩa, ở một căn Chòi Lá giữa đồng khô, chịu sự kiểm soát của một góa phụ VC. Do phải lao động nặng nhọc với điều kiện sống khắc nghiệt, Bà đã bị cảm nặng dẫn tới viêm màng não. Gia đình có xin chuyển về Sài Gòn chữa trị .Song không được. Vì vậy Bà đã qua đời vào tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 61 tuổi.
Đám tang của Bà được thân quyến tổ chức tại ngôi nhà cũ ở đường Hồ Biểu Chánh, quận Phú Nhuận, SaiGon. Di hài Bà được hỏa thiêu tại lò thiêu vãng sanh Miền Cực Lạc Thủ Đức.
Tâm Cảm:
Người xưa có câu: Gia bần tri hiếu tử, Quốc nạn thức trung thần!! Hậu sinh xót thương Bà hồng nhan bạc phận, song dạ sắt lòng son. Xin nghiêm mình kính cẩn cảm nổi nhọc nhằn khốn khổ của Bà:
Cải tạo lao tù đăng đẳng cùng cực... sông dài khốn khổ... thảm thương tấm thân ra tiều tụy...!!!
Chỉ định cư trú thẳm thăm vất vả... biển rộng đọa đày... thống thiết bản mệnh đến cáo chung...!!!
Ngoài ra, hậu sinh kính nguyện cầu Bà được vãng sanh Miền Cực Lạc:
Cầu tinh anh tài đức vẹn toàn phơi phới vãng sanh thảnh thơi miền Cực Lạc
Nguyện thể phách đảm lược cao thâm châm chú phù trợ phấn phát giống Hồng Bàng
Dưới đây là bài thơ:
Giai Nữ Giữa Đời Phong Sương (của Trí Tuệ Nhân Tạo = AI)
Giai nữ một tấm lòng trong,
Giữa cơn binh lửa vẫn không đổi dời.
Nét nghiêm mà thắm nụ cười,
Đem nhân nghĩa trải khắp nơi quân trường.
Đời sau nhắc chuyện phong sương,
Càng thương dáng ngọc giữa đường gian lao.
Tên bà như ánh trăng cao,
Soi vào hậu thế ngọt ngào khí tâm.
TTNT
***Ngày 26 Tháng 2-2026, là ngày Giỗ lần thứ 39, của Giai Nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương.
Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)
* Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp
Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026
Anh Không Chết Đâu Em - Sáng Tác:Trần Thiện Thanh ( Bùi Đức Lạc)

(Đại Úy Nguyễn Văn Đương)
Sự Ra Đi Của Đại Uý Đương, Hạ Lào năm 1971.
Xin phép được giới thiệu hoàn cảnh hy sinh của Đại Uý Nguyễn văn Đương (Người hùng Mũ Đỏ trong bài hát nổi tiếng "Anh Không Chết Đâu Em" Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh), qua lời kể lại của Trung Tá Bùi Đức Lạc Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Dù, hiện định cư Mỹ. Duy chỉ có điểm cuối cùng, ai cũng biết đó là Đại Tá Thọ bị địch quân bắt giữ, được thả, xuất ngoại và về sau qua đời tại Úc, nhưng trong bài viết nói rằng Đại Tá Thọ cùng hy sinh với Đại Uý Đương.(có lẽ do người viết lại chưa chuẩn xác qua lời kể của Trung Tá Bùi Đức Lạc).
Trung Tá Bùi Đức Lạc Kể Về Cái Chết Của “Người Anh Hùng Mũ Đỏ Tên Đương”
Trung Tá Bùi Đức Lạc kể: “Lúc Nguyễn Văn Đương chết, tôi đang bay trên trời ngay trên đầu Nguyễn Văn Đương, nên tôi biết rất rõ, tại sao Nguyễn Văn Đương chết và chết như thế nào! Nguyễn Văn Đương là pháo đội trưởng Pháo Đội B3 Nhẩy Dù.
Trong căn cứ của anh, hiện có một pháo thủ là anh Đào Văn Thương, có thể đang có mặt tại đây, sau này là Mục Sư Đào Văn Thương. Những người trong Căn Cứ 31 hiện giờ không còn ai ở đây, nhưng các pháo thủ có mặt trong trận Hạ Lào, thì có Thiếu Tá Đào Kim Trọng (pháo đội trưởng Pháo Đội A.3 Dù), Thiếu Tá Lý Kim Điền (pháo đội trưởng Pháo Đội C1 Dù), Nguyễn Kim Việt (pháo đội phó Nhảy Dù) và pháo đội trưởng Pháo Đội C3 là Đại Úy Bành Kim Trí. Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh có một pháo đội 155 ly của Đại Úy Trương Như Hy, đóng tại Căn Cứ 30.
Ngày mà chúng tôi nhận được tin Trung Tướng Đỗ Cao Trí chết tức là ngày 21-2, ngày mà căn cứ chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đạn. Đạn dược trong trận Hạ Lào, tụi Việt Cộng rất là dư thừa, nhưng mình rất là khan hiếm nó ngược lại như vậy, và các súng tối tân của nó cũng trên mình hết, tức là các súng 130 ly và hỏa tiễn.
Ở miền Nam chúng ta chỉ bị pháo hỏa tiễn 122 ly, cùng lắm là 2 nòng mà thôi. Nhưng sang Hạ Lào, chúng dùng 6 nòng, bắn một lúc 6 trái và nó bắn không bao giờ dưới 6 tràng, tức là không bao giờ dưới 60 trái; đạn dược của nó dư dả như vậy, nên Căn Cứ 31 của chúng tôi bị pháo khoảng 2.000 trái đủ các loại đạn. Nhưng thật sự, chúng ta ở trong Pháo Binh biết, nếu mà 2.000 trái mà trúng căn cứ, thì chắc chúng tôi thành bụi hết rồi.
Nó pháo 2.000 trái chỉ trúng căn cứ tối đa là 10 trái; cũng may như thế mà giờ đây tôi có dịp trình bày với quý vị. Không có ngày nào nó pháo dưới 1.000 trái, nhưng đa số ra ngoài căn cứ hết. Hôm 21, khi nó tấn công Căn Cứ 31, thì chúng tôi bị pháo như thế và Căn Cứ 30 cũng bị pháo tương tự. Ngày 24, là ngày Căn Cứ 31 bị thất thủ, tôi và Đại Tá Lưỡng, không biết ai xin, nhưng khi máy bay trực thăng đáp xuống thì hai chúng tôi phải lên máy bay đi.
Chúng tôi đang bay quan sát cho Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, lúc đó Tiểu Đoàn 8 và một thiết đoàn đang đụng độ với Sư Đoàn 320 Việt Cộng. Ở bên các cánh quân khác như Lữ Đoàn 3, chỉ bị một sư đoàn tấn công, còn riêng Lữ Đoàn 1, ba tiểu đoàn Dù bị ba sư đoàn tấn công ngày đêm, không có lúc nào mà không có đơn xin tác xạ trên hệ thống tác xạ hết, thành ra trong trận Hạ Lào, anh em chúng tôi không bao giờ có một giấc ngủ trọn vẹn 10 phút, kể cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi đang bay quan sát trên không phận của Tiểu Đoàn 8, thì Căn Cứ 31 bị tấn công rất mạnh, tấn công giữa ban ngày.
Tất cả những trận đánh tại Căn Cứ 31 đều diễn ra ban ngày hết. Ban đêm chỉ là đặc công đánh nhỏ mà thôi. Khi nó tấn công thì từ chỗ tôi đang bay, nhìn qua Căn Cứ 31, chỗ Đương đang đụng trận, thì thấy những chiến xa của Việt Cộng lờ mờ không thấy rõ, tôi ước lượng khoảng 10 chiến xa. Lúc đó Nguyễn Văn Đương gọi cho tôi nói ‘Nó đông lắm anh ơi!’. Tôi hỏi: ‘Tình trạng bây giờ như thế nào?’.
Đương cho biết: ‘Lủng tuyến rồi anh ơi!’. Tôi nhìn đồng hồ khoảng 2 giờ 50 chiều. Vào khoảng 3 giờ thiếu 10, Nguyễn Văn Đương gọi nói: ‘Em chỉ còn hai cây súng bắn được thôi’, và sau đó Đương nói, ‘Em chỉ còn một cây súng bắn được thôi. Tức là 5 cây hư, chỉ còn độc nhất một cây’. Khoảng 4 giờ, Đương cho tôi biết là, ‘Chiến xa địch đang nằm trên đầu em’.
Lúc đó Đương đang ở dưới hầm và qua máy liên hợp, tôi nghe Đương nói với một nhân viên của anh: ‘Băng cho tao, máu ra nhiều quá rồi’. Lúc bấy giờ tôi mới biết tay phải của Nguyễn Văn Đương đã bị rớt rồi và chân Đương cũng bị trúng đạn, nhưng Đương vẫn bình tĩnh nói với tôi: ‘Em lên đạn bằng cái kiểu ngày xưa đó, tức là súng Col của Đương, Đương phải dùng tay phải tỳ vô cái dây nịt bụng mà lên đạn, không thể lên đạn bằng hai tay được nữa.
Khoảng 4 giờ hay 4 giờ 05 thì Đương nói: ‘11 ơi, em không liên lạc với 11 nữa, vĩnh biệt 11!’ và rồi tôi không nghe gì nữa.
Tôi nghĩ lúc đó Đương đã vĩnh biệt tất cả đồng đội. Trước khi chết, Đương cho tôi biết, anh chỉ còn có hai viên đạn cuối cùng trên nòng súng mà thôi! Và đó là cái chết của Nguyễn văn Đương trên mặt trận Hạ Lào. Sau đó khoảng 5 phút, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 gọi cho tôi nói: ‘11 làm ơn bắn ngay trên đầu tao đi’. Trên máy bay tôi cho lệnh tất cả các pháo đội sử dụng đạn nổ CVT, dù sao tôi cũng sợ bắn đạn thường rơi vào hầm hố của quân mình, nên tôi dùng đạn CVT.
Khai hỏa vào khoảng 4 giờ 15, thì tất cả 4 pháo đội đồng khai hỏa bắn vào Căn Cứ 31 và bắn giết cả bạn lẫn thù, lần đầu tiên trong đời pháo thủ của tôi! Khi tôi vừa ra lệnh bắn, thì Đại Tá Lưỡng và tôi cùng cả phi hành đoàn đều bật khóc. Đó là cái chết của Đại Úy Nguyễn Văn Đương và đại tá lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào”.
Mời thưởng thức ca khúc:
Bùi Đức Lạc
(Trích từ Nguồn tvvn.org)
Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026
Vũ Đức Giang - Phạm Anh Dũng

(Vũ Đức Giang, trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)
Đây là bài viết về chính là về Vũ Đức Giang, một người bạn thân cùng lớp tại trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21, khóa Quân Y Hiện Dịch (QYHD) cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Cũng thêm vào bài là các chi tiết, tạm gọi là bối cảnh sơ lược, đáng nhắc lại, còn ghi nhận được của từng năm học, liên quan đến cả học trình Y Khoa bảy năm 1967-1974.
Tôi thi được vào năm Dự Bị Y Khoa (APM), niên khóa 1967-1968. Lúc đó có biến cố Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, ảnh hưởng mạnh đến mọi người và chúng tôi, tất cả sinh viên, phải học quân sự tức là tham dự chương trình Quân Sự Học Đường (QSHĐ) để có kiến thức phải dùng khi hữu sự. Chính quyền VNCH lúc đó chủ trương QSHĐ để hy vọng khi cần đến, sinh viên dân sự cũng có thể cầm súng chiến đấu như các quân lính chuyên nghiệp.
(Hình chụp 1968 khi Lớp Dự Bị Y Khoa (APM) tham dự chương trình Quân Sự Học Đường.
Hàng đứng còn nhận được từ bên trái có Võ Văn Thành, Bùi Trọng Cường, khoảng giữa có Phan Xuân Tuấn, Dương Thanh Trắc, Nguyễn Kỳ Chân; từ phải có Vũ Dũng, Nguyễn Văn Quốc, Đỗ Danh Toàn, Phạm Anh Dũng.
Hàng ngồi đeo kính đen là Nguyễn Đăng Cung, khoảng giữa có Nguyễn Hữu Nhiệm, cạnh người áp chót bên phải là Trần Trung Hòa.)
Về học hành chính thức, chúng tôi là sinh viên của trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn và tuy học lớp tại Cơ Thể Học Viện cũ của trường Y Khoa ở đường Trần Hoàng Quân, nhưng thực tập lại ở Khoa Học Đại Học Đường Sài Gòn.
Chúng tôi học cả năm như vậy và cuối năm thi lên vào lớp Y Khoa năm thứ Nhất. Kỳ thi cuối năm của lớp APM thật khó khăn. Lớp Dự Bị Y Khoa tổng số có khoảng 380 người, mà chỉ có khoảng 250 người đỗ kỳ thi, được lên lớp. Trong số các bạn thi rớt cuối năm, có khoảng 50 người được “ở lại lớp” vì chỉ có thi trượt thực tập, còn số còn lại bị loại hẳn ra khỏi chương trình APM, vì trượt thi viết. Những bạn không may mắn bị "rớt" lại APM, tôi nhớ có một số rồi cũng tốt nghiệp được Y Khoa, nhưng trễ lại 1 năm như Nguyễn Như Thành, Lê Thành Đấu, Trần Hoàng Long, Nguyễn Võ Khanh...
Riêng cá nhân tôi, cả năm chỉ đi học thực tập là những giờ bắt buộc và chả mấy khi đi học ghi bài. Thường tôi chỉ đợi “cua” (bài học ghi lại) của ban Đại Diện lớp in, phát ra là đi lãnh về học. Cuối năm cứ thế mà đi thi và cũng thi đỗ được hết, và được vào năm Y Khoa thứ Nhất. Tôi phải thú nhận thật may mắn, đậu hạng 9 hay 10 gì đó, và nên còn được học bổng của Bộ Y Tế khoảng 10 ngàn đồng Việt Nam, tiền lúc đó.
Lên năm thứ 1 Y Khoa, vào chính thức học ở trường Y Khoa, thay vì Dự Bị Y Khoa APM do các giáo sư trường Đại Học Khoa Học giảng dạy, cách thi cử đổi khác. Cứ một vài tháng lại có kỳ thi, không Cơ Thể Học, cũng Sinh Hóa Học, rồi Mô Học... Quen tật xấu, tôi cũng chẳng đến trường ghi bài. Vì các kỳ thi gần nhau quá, ban Đại Diện lớp đôi khi không đủ thì giờ in bài kịp cho sinh viên học. Kỳ thi đầu tiên của Cơ Thể Học sắp đến, chỉ còn có vài ngày, tôi vẫn chưa có một số tài liệu do Bác Sĩ Y Khoa Trần Anh, Thạc Sĩ Nhân Chủng Học, giáo sư chính phụ trách môn Cơ Thể Học, giảng dạy. Không đủ bài vở, tôi đến trường hỏi mượn để chép lại học. Đang vớ vẩn trước cái Đại Giảng Đường to lớn, thì vừa đúng lúc nghỉ giải lao, sinh viên cùng lớp kéo nhau ra khỏi cửa. Là năm đầu tiên học ở trường Y Khoa, ít khi đến trường và lớp, tôi cảm thấy lạc lõng, nhìn ai cũng xa lạ cả. Tần ngần một lúc khá lâu, gặp một sinh viên khác vừa bước ra sau cùng. Tôi trông anh bạn đeo kính cận thị, có vẻ hiền lành, thành đánh bạo lại làm quen. Rất niềm nở và thông cảm, người bạn chưa quen trước và tốt bụng đó cho tôi địa chỉ nhà, hẹn buổi tối lại cho mượn bài. Đó là lần đầu tiên tôi gặp và quen Vũ Đức Giang.
Nhà của hai đứa cũng gần nhau, đều ở Đa Kao. Tôi ở đường Tự Đức. Nhà của Giang ở trong một ngõ của đường Phạm Đăng Hưng. Đó là một trong những nhà nhỏ, ngay dưới chân cầu Sắt, chiếc cầu nằm trên đường Nguyễn Văn Giai lối qua Gia Định, vẫn được gọi là "cầu Sắt", vì cầu làm bằng sắt và tôi không biết tên thật của cầu là gì. Đi vào ngõ phía trong sâu chút nữa là nhà của Lê Huy Hòe, cũng là bạn cùng lớp. Nhà của Giang đơn sơ, nhưng sạch sẽ. Giang là con trưởng ở với bố mẹ, một em trai và một em gái. Tôi không nhớ nhiều về bố của Giang vì ông mất sớm, nhưng bà mẹ thì thật hiền dịu, chiều và thương con, một bà mẹ Việt Nam lý tưởng. Cậu em trai, kém Giang và tôi chỉ một vài tuổi nhưng rất kính trọng, lễ phép với anh và bạn của anh. Cô em gái Giang ngọt ngào, giản dị và dễ mến.
Ngay buổi tối đầu tiên, Giang đã hơi làm lạ khi thấy tôi rủ đi uống cà phê nghe nhạc và tôi cũng hơi ngạc nhiên khi thấy bạn nhận lời ngay. Sau đó hai đứa mới khám phá ra là người bạn mới tuy có nhiều điểm khác mình, nhưng cũng có cùng một sở thích là âm nhạc. Giang học rất chăm và khá đều, còn tôi, thú thật, hơi... làm biếng, chỉ bắt đầu học lúc sắp thi. Là cầu thủ bóng tròn loại khá, lúc nào Giang cũng có mặt trong những lúc tranh giải túc cầu của lớp Y Khoa, trong khi tôi chỉ biết xem đá bóng và biết cổ vũ, hò hét, hoan hô. Tính của Giang trầm lặng, ít nói và tôi, ngày đó, sôi nổi hơn. Giang thích và hay ôm đàn guitar dạo, nhưng cũng như tôi, vì chính yếu chỉ tự học, nên không khá lắm. Giang đập trống thì khá hơn một chút. Về trình diễn âm nhạc, Giang đủ sức tham dự những buổi văn nghệ tất niên tài tử trong lớp. Giang rất thích nghe nhạc, loại nhạc như nhạc Tiền Chiến, Tình Ca Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên (học cùng thời với Giang, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng, Võ Tá Hân... ở trường Trung Học Nguyễn Trãi)... Vũ Đức Giang kể chuyện "hồi APM" lúc học Quân Sự Học Đường, hay đi hát đàn với hai bạn cùng lớp là Vương Đức Hậu và Nguyễn Minh Huấn. Có khi họ còn "chở ba" trên xe gắn máy và người nào ngồi giữa thì cầm cái đàn guitar. Nghe kể như vậy, tôi thấy người bạn mới của mình tính tình thật là "văn nghệ" rồi! Còn cá nhân tôi, mê đàn hát từ những ngày còn bé. Cả hai đứa vì không có "điều kiện" nên đều chưa bao giờ được học nhạc chính thức, từ thầy hay từ trường lớp, càng làm cho hai đứa hiểu nhau, gần nhau, rồi dần dần thân nhau nhiều.
Giang và tôi từ đó rủ nhau, ít nhất một tuần một lần, đi quán để uống cà phê, để hút thuốc lá, nói chuyện và nghe nhạc. Hai quán cà phê chúng tôi thường đến là quán Hân và Ly Tao. Cả hai quán đều có những nhạc thật hay.
Quán Hân ở đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, trước cửa là hiệu phở Hoàn Kiếm, ngay gần nhà. Con gái chủ quán, thỉnh thoảng ra quầy thu tiền, là một cô gái xinh xinh, ngày đó, có một thời gian ngắn cũng đã là "cô em nhỏ" của Vũ Quốc Phong, một bạn cùng lớp Y Khoa. Đây là nơi chúng tôi được nghe những băng nhạc hiếm, có Duy Trác đằm thắm ấm áp hát "Thuở Ban Đầu" (Phạm Đình Chương), Anh Ngọc điêu luyện với "Mắt Biếc" (Cung Tiến), Mai Hương thiết tha "Giấc Mơ Hồi Hương" (Vũ Thành), Châu Hà hát "Suối Tóc" (Văn Phụng) êm như mơ...
Quán Ly Tao gần nhà tù Chí Hoà. Chủ quán, ca sĩ Ngọc Long, là một người cao lớn. Quán có người hầu bàn cũng là con gái nhỏ nhắn của anh Ngọc Long. Cô bé gọi chúng tôi là chú xưng cháu, làm không khí ấm cúng và tự nhiên. Ở đây, Giang thường yêu cầu một băng nhạc rồi thẫn thờ, mê mẩn nghe bài "Chiều Mơ" của Vũ Đức Sao Biển do Ngọc Long hát:
"Chiều mơ anh sẽ về từ đèo cao hút gió, có hoa xưa chờ người xưa đó.
Chiều mơ anh thấy em buông tóc bên trời, buồn một mình trên tuổi xuân phai.
Chiều mơ anh cầm đàn về bờ xưa suối biếc, hát em nghe ngàn lời thương tiếc...".
Tôi thấy bạn rất có lý, Ngọc Long ít khi hát, có giọng thật trầm, thật "đầy", và hát bản này quả có một không hai. Vũ Đức Sao Biển nổi tiếng với bài "Thu Hát Cho Người" do Anh Ngọc hát thật hay, nhưng theo ý riêng của Giang "Chiều Mơ" tuyệt diệu hơn và lúc đó không được ai khác ngoài Ngọc Long trình bày, tuy sau này có Mai Hương hát ở Hải Ngoại.
Đúng như cảm nghĩ ban đầu khi gặp gỡ, Vũ Đức Giang rất tốt với bạn bè. Bản tính rất hiền, và nhiều khi ngây thơ như một cô gái nhỏ. Giang hiền lành, hầu như không biết giận ai, thành hay bị tôi và các bạn thân khác trong cùng lớp Y Khoa như Quách Anh Dương, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng... "bắt nạt" thường xuyên và Giang thường chỉ phản ứng bằng một nụ cười nhẹ nhàng. Tính Giang rất nhạy cảm, và thỉnh thoảng bị tôi trêu, vì Giang có thể dưng dưng "mau nước mắt" khi có chuyện gì cảm động, ngay cả chỉ lúc nghe những bản nhạc đầy tình cảm mạnh như "Bà Mẹ Gio Linh" (Phạm Duy) do Thái Thanh hát. Giao thiệp với Giang khá lâu tôi mới biết thêm về con người của bạn. Tuy hiền lành, thích chiều bạn, hay nhịn người khác nhưng một khi đã tin vào chuyện gì thì không có khi nào thay đổi ý kiến, nếu không có những sự kiện vững chắc chứng minh khác đi.
Năm thứ 1 Y Khoa của chúng tôi đánh dấu bằng một chuyện đau lòng. Tháng Ba 1969, Giáo Sư Thạc Sĩ Trần Anh, một bác sĩ rất giỏi, đang đảm nhiệm chức Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn ngoài chức Trưởng Khu Cơ Thể Học Viện của Đại Học Y Khoa, bị ám sát, bắn chết bằng súng lục, trong khi sau giờ làm việc, ông đi bộ từ trường Y Khoa về nhà, gần Đại Học Xá Minh Mạng. Vì ông là giáo sư chính hướng dẫn cho Y Khoa 1, đám tang của thầy, chúng tôi thay nhau "đứng gác" quan tài. Phải nói, tất cả chúng tôi và nhất là Vũ Đức Giang bị xuống tinh thần khá lâu, vì cái chết của người thầy đáng kính trọng. Giang tính tình nhậy cảm buồn đến cả tháng mới nguôi. Mãi sau 1 thời gian giáo sư Bác Sĩ Thạc Sĩ Nguyễn Hữu từ Pháp về, đứng ra lãnh trách nhiệm dẫn dắt sinh viên Y Khoa 1 môn Cơ Thể Học.
Sau khi thi đỗ lên năm Y Khoa 2, một buổi tối hơi lành lạnh, khí hậu hiếm thấy ở Sàigòn, hai đứa khi "ngồi" quán Hân nhìn khói thuốc bay lững lờ, ngắm từng giọt cà phê phin đen chảy và nghe nhạc, Giang đột nhiên cho tôi biết quyết định nộp đơn thi vào QY (Quân Y) và rủ tôi cùng theo. Giang nói cho tôi nghe về ước muốn trở thành y sĩ nhảy dù. Bình thường, Giang chỉ nhỏ nhẹ, nhưng lúc đó nhìn và nghe Giang, thấy nó thật cương quyết. Tôi đồng ý ngay, không chần chừ, nhưng theo tôi binh chủng nào cũng được. Về sau kéo thêm được Vũ Quốc Phong, Nguyễn Minh Huấn, Đoàn Trung Bửu... cũng thi đỗ và gia nhập Quân Y. Khoảng thời gian đó vừa sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa miền Nam vừa chiến thắng một cách dũng cảm và tinh thần thanh niên đang được kích thích sôi động.
Cuộc đời Quân Y có những điều thật bất ngờ. Chúng tôi cứ nghĩ Sĩ Quan Quân Y sẽ gian khổ khi ra trường lúc chiến đấu, còn lúc là Sinh Viên Quân Y thì chỉ tập tành quân sự chút ít mỗi mùa Hè, và trong năm thì giờ dành cho việc học. Một buổi trưa nắng và gió tháng Giêng 1970 sau khi làm thủ tục được phát quần áo, giày "bốt đờ sô"... tôi và Giang chở nhau vào trường Quân Y ở đường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn bằng chiếc xe gắn máy "Honda dame" của tôi để tham dự Tám Tuần Lễ Huấn Nhục. Hai đứa khệ nệ khiêng mỗi đứa một bị to. Ngoài những đồ đạc nhà binh lỉnh kỉnh như "bi đông", xẻng xúc đất, "gào mên"... còn nặng đầy sách vở, tưởng sẽ vào đó ngồi học bài ngay! Ba ông anh huynh trưởng sinh viên quân y do Sinh Viên Quân Y năm thứ 6 Tô Phạm Liệu chỉ huy đã đợi sẵn ở cổng vào. Không thấy đàn anh nào cười đón mừng cả! "Ông" nào trông cũng nghiêm và khó quá. Mấy chục tân sinh viên Quân Y, mới nhập ngũ, là những sinh viên Y Khoa 2 lớp chúng tôi, lớp Y Khoa 1 như Lê Quang Minh, Phạm Quang Tố, Ngô Hoàng Lâm, Lê Thành Đấu...), sinh viên Dược như Mai Gia Thược (Thược về sau tự tử trong trại Cải Tạo), Phạm Đức Thụy... và sinh viên Nha. Vũ Quốc Phong có giọng nói to, hoạt bát và có dáng điệu chững chạc nhất được cử làm Tân Sinh Viên Đại Đội Trưởng cho Đại Đội Tân Sinh Viên Quân Y. Ngay sau đó, đám tân sinh viên Quân Y chúng tôi được lệnh ôm gói hành trang nặng trĩu chạy chung quanh Vũ Đình Trường của trường Quân Y, theo ba ông đàn anh cho đến khi gần... xỉu. Thật là bất ngờ!
(Hình chụp tháng Giêng 1970.
SVQY Tô Phạm Liệu, người mặc quân phục, đứng đối diện các các Tân SVQY đa số mặc thường phục, đến trình diện nhập ngũ ở Trường Quân Y.
Từ phải qua trái của hàng đầu tiên, còn nhận ra được là Tân SVQY Châu Văn Còn, Lê Quang Minh, Ngô Hoàng Lâm, Trần Ngọc Thạch. Sau lưng Châu Văn Còn là Lê Thành Đấu.
SVQY Ngô Thế Khanh mặc quân phục, đứng ở bìa trái của hình)
Rồi cứ như vậy mỗi ngày, các đàn anh sinh viên quân y như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn, Phạm Đặng Long Cơ, Nguyễn Ngọc Ấn, Ngô Thế Khanh... lần lượt thay phiên nhau cho các đàn em mới "nếm mùi" Quân Đội. Khi còn là sinh viên dân sự, tôi đã từng đi học quân sự ở Quang Trung hai lần và Thủ Đức một lần nhưng không thấy chỗ nào có thể gian lao như là tám tuần lễ huấn nhục ở trường Quân Y. Những khóa huấn nhục quân y trong những năm trước chỉ có 6 tuần và khóa của chúng tôi lại kéo dài đến 8 tuần. Theo các đàn anh cho biết thì những năm trước cũng có thời gian huấn nhục nhưng vì "thông cảm" là cùng với quân sự, các đàn em vẫn phải "học chữ" ở các trường Y Nha Dược. Khóa của tôi thì đặc biệt sao đó, có nhiều đàn anh Quân Y có lý tưởng mạnh và nhiệt thành do đó muốn huấn luyện chúng tôi thành những sĩ quan nòng cốt cho ngành Quân Y trong tương lai. Dù muốn hay không, Trường Quân Y cũng là một trong những trường Sĩ Quan Hiện Dịch khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị... Tân Sinh Viên Quân Y ngoài sự huấn nhục thể xác và tinh thần ở trường Quân Y, chắc chắn không thể so với trường chuyên nghiệp quân sự Võ Bị Đà Lạt nhưng chúng tôi còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự là vẫn phải đi học, học bài rất nhiều của các ngành Y Dược Nha. Và nếu không thi đỗ, thì bị ở lại lớp hay có khi "ra trường sớm" (sortie latérale) tức là bị loại khỏi trường Y Khoa, nếu thi trượt hai lần. Nhất là ngày đó chúng tôi Y Khoa Hai có môn Ký Sinh Trùng Học do Giáo Sư Bác Sĩ Đỗ Thị Nhuận tuy rất tận tâm nhưng cũng nổi tiếng rất nghiêm khắc, trong việc học hành, thi cử của sinh viên và có lúc thẳng tay "đánh rớt" những người không đủ điểm.
Trong số các đàn anh có ba người khó tính nhất cùng ở một toán huynh trưởng huấn luyện là anh Cảnh, Đức và Ấn (anh Nguyễn Ngọc Ấn khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, sau đi Biệt Động Quân, tác giả bài "7 Ngày Ở Quảng Trị" viết về chuyện bị bắt làm tù binh ở trận Hạ Lào, khi bị đưa ra Bắc, và mãi sau mới được hoán chuyển tù binh về lại được miền Nam). Ba ông này huấn nhục chúng tôi theo đúng nghĩa huấn nhục, ngay từ buổi đầu tiên với các hình phạt nặng, vì những lý do đôi khi thật là vô lý. Vì không được chuẩn bị tinh thần nên các đàn em rất ngạc nhiên và có thể nói là bất mãn. Một buổi chiều, như thường lệ, ba ông đàn anh đem cả Đại Đội Tân Sinh Viên ra phạt tới tấp vì một cái lỗi rất là nhỏ, tôi không nhớ rõ và hành xác đàn em khoảng một tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang. Đoán biết có sự bất mãn, anh Cảnh trước khi giải tán đại đôi, tuyên bố sẽ tập họp lại buổi tối và nói rõ ràng nếu có ai không bằng lòng thì lúc đó cho biết để các đàn anh sẽ cho phép "rời khỏi Quân Đội". Giang, vài bạn nữa và tôi có họp lại bàn chuyện này. Mấy ông đàn anh thì cũng dự định "dọa già" các em thôi. Các ông em ngây thơ, tin thật và hẹn nhau nhất định giữ vững lập trường dù có gì xảy ra. Tối hôm đó, Vũ Đức Giang, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Anh Dũng đã đứng ra khỏi hàng để được "cởi áo nhà binh", như các anh đã hứa hẹn. Sau đó thì chúng tôi "vỡ mộng"! Những đàn anh ra lệnh cho Vũ Quốc Phong đứng ra phạt chúng tôi. Phong nhận thấy sự vô lý, vì các bạn của mình chỉ bày tỏ ý kiến khi được đàn anh hỏi thôi, nên nhất định không tuân lệnh. Ba ông đàn anh nổi giận phạt riêng Phong trước hàng quân và rồi phạt cả đại đội chạy vài vòng Vũ Đình Trường. Riêng ba đứa chúng tôi thì biết thêm hình phạt Dã Chiến là gì, đêm hôm đó. Các ông anh thay nhau phạt 3 đứa tôi cả đêm dài. Đến sáng ra, khi hỏi lại chúng tôi vẫn cương quyết giữ ý kiến đòi "rời khỏi Quân Đội" như đàn anh đã hứa. Riêng Vũ Đức Giang, khi được cho nghỉ vài phút, đã thu dọn cho đồ nhà binh vào bị và mặc sẵn quần áo dân sự từ lúc nào rồi. Lúc này các ông đàn anh cũng hơi lúng túng, không biết xử trí ra sao. Huynh trưởng Tô Phạm Liệu phải đến gọi riêng ba đứa em ra khuyên bảo. Anh Liệu nói nhiều về tình cảm anh em trong gia đình Quân Y và giảng cho các đàn em bướng bỉnh hiểu về mục đích chính của thời gian huấn nhục chỉ làm cho tân sinh viên tập quên đi cá nhân của mình và nghĩ đến tập thể, tương lai, tổ quốc... Anh nói rất hay, chúng tôi cảm động nhiều và riêng Giang phải long lanh nước mắt.
Chúng tôi hiểu, không xin "rời khỏi Quân Đội" nữa và rồi theo thời gian, cũng quen đi những huấn luyện về thể xác và tinh thần để sửa soạn thành những Quân Y Sĩ trong tương lai. Thôi thì đủ trò phạt, hít đất, chạy... Một lần tôi đang ở trong hàng nghe anh Phạm Gia Cổn "thuyết pháp", không hiểu sao, lỡ dại không nhịn được phải phì cười, và bị anh phạt. Anh cho là tôi "cười nhỏ quá", nhiều người chưa được nghe và bắt thằng em đứng giữa hàng quân cười thật to 10 lần để cả Đại Đội được nghe. Tôi nhớ mãi bị khản giọng, mất tiếng đến cả mấy ngày. Nhưng kể từ ngày đó, 2 anh em chúng tôi lại quen biết thân nhau, thân nhau nhiều, thân nhau mãi cho đến khi anh qua đời năm 2022. Những tuần lễ huấn nhục của Tân Sinh Viên cũng qua đi, trở thành những kỷ niệm thú vị không bao giờ quên. Khi chúng tôi tổ chức Đêm Lễ Gắn Alpha theo sau là buổi văn nghệ mãn khóa, cả Giang và tôi đều vào ban văn nghệ trình diễn. Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm Nguyễn Minh Huấn hôm đó hát "Nguyệt Cầm" của Cung Tiến-Xuân Diệu.
Lên năm thứ 3 Y khoa, sinh viên bắt đầu thực tập ở bệnh viện và cũng bắt đầu được chia đi gác đêm. Tôi và Giang có một kỷ niệm không bao giờ quên ở nhà thương Hồng Bàng là nơi chuyên trị những bệnh nhân bị bệnh Lao, nhiều người thật nặng, ngày nào hình như cũng có người chết. Phòng trực cho sinh viên Y Khoa ở chỗ vắng vẻ, cách xa tòa nhà chính, nơi bệnh nhân nằm dưỡng bệnh. Ban đêm vắng mà bị gọi khi bệnh nặng hay khi bệnh chết thì rất ngại, vì phải đi bộ khá xa và "đường xá" thì tối mù mịt. Các đàn anh Y Khoa thường bảo là chỗ đó có... ma! Chuyện ma của nhà thương Hồng Bàng cũng đã có nhắc đến trong quyển "Thế Giới Trường Thuốc" của Đặng Đức tức Bác Sĩ Đặng Đức Nghiêm. Tôi vừa đọc xong quyển sách vài ngày hôm trước và vẫn còn đang bị ám ảnh. Anh bạn cùng lớp, tôi không nhớ rõ tên, được chia trực cùng đêm lại bị ốm, nên tôi "năn nỉ", rủ Giang đi cho đỡ sợ. Đêm khuya hôm đó đang ngủ thì nghe tiếng động lục cục ở ngoài cửa phòng, Giang giật mình thức giấc và lay tôi dậy. Tôi thu hết can đảm dậy bật đèn, lên tiếng hỏi nhưng không thấy ai trả lời. Tiếng động nghe như là chân người mang guốc bước qua lại trên sàn xi măng tiếp tục khá lâu cũng đến khoảng 5-10 phút. Tiếng động đó cũng mất đi nhưng cả hai đứa đều sợ xanh mặt, để đèn sáng và không ngủ được cho đến sáng. May mà đêm đó cũng không bị gọi lên trại bệnh thành cả hai nằm im lặng trong giường cho đến lúc thấy trời sáng tỏ nghe thấy tiếng người thì mới mò ra ngoài cửa. Chúng tôi cũng không tìm được, thật ra là không dám đi tìm lý do của cái tiếng động kỳ quái giữa đêm khuya vắng. Cũng có thể chỉ là do gió mạnh đập cành cây hay cái gì vào tường hay cửa sổ chăng?
Cũng nói qua, vào khoảng 1970, sau Chiến Dịch Campuchia của quân lực Hoa Kỳ và QLVNCH và vì bị "cáp duồn" như các kiều bào Việt khác, các sinh viên học Y Khoa Campuchia như Nguyễn Mạnh Khang, Hà Phi Phụng, Mai Thế Vĩnh, Hồ Hoàng Trang, Nguyễn Thanh Phong... phải chạy thoát về Việt Nam để cuối cùng được nhận vào Y Khoa Sài Gòn, vào lớp Y Khoa Sài Gòn 1967-1974 chúng tôi.
1972, năm của những Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại Lộ Kinh Hoàng, Cổ Thành Quảng Trị (Chiến Dịch Lam Sơn 72)... Đây cũng là năm của "Tổng Động Viên" khi chúng tôi đang học Y Khoa 4, năm thứ Tư Y Khoa. Tôi nhớ một số anh em "Dân Y" như Hoàng Lộc (Lộc sau 1975 bị giết chết ở trại Cải Tạo), Nguyễn Mạnh Khang, Lê Minh Đức, Trần Thiện Tư, Trần Chánh Khương, Lại văn Tiến, Nguyễn Minh Quốc, Đào Văn Kim, Trần Hoàng Hải, Ngô Đăng Tuấn, Lại Hoàng Ân, Lưu Văn Châu , Trương Hoàng Nghiệp... quá tuổi, sinh vào 1947 hay trước nữa, bị "đôn quân", phải nhập ngũ học khóa sĩ quan ở Đồng Đế, "ra" chuẩn úy. Tuy vậy một thời gian sau, đa số về sau cũng được thầy bác sĩ Trần Lữ Y, lúc đó là Tổng Trưởng Y Tế chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thành có thế lực, can thiệp xin cho về học lại Y Khoa, nhưng kết quả ra trường trễ hơn các bạn cùng lớp 1 năm.
1972, chiến tranh bùng nổ lớn ở miền Trung. Dân Quảng Trị chạy giặc vào tạm trú hàng chục ngàn người ở những trại tị nạn xung quanh Đà Nẵng. Tình trạng y tế của các trại tị nạn rất nghèo nàn. Không đủ y sĩ để săn sóc dân và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải nhờ đến các sinh viên quân y giúp. Tôi và một số anh em sinh viên khác của lớp Quân Y Y Khoa 4 như Nguyễn Trọng Nghĩa, Đoàn Trung Bửu, Trương Ngọc Hiền... Quân Y Y Khọa 5 như Phạm Hiếu Liêm, Bùi Quang Dũng, Bùi Hữu Phước, Nguyễn Anh Tuấn... Quân Y Y Khoa 3 như Trần Hoàng Long, Trần Đông Giang, Nguyễn Văn Hãn, Lê Thành Đấu, Nguyễn Võ Khanh... Quân Dược như Nguyễn Hiền, Mai Gia Thược (Thược sau tự tử trong Trại Cải Tạo) , Châu Minh, Nguyễn Văn Trực, Nguyễn Quang Toản... được cử ra miền Trung để giúp vào việc lo y tế cho đám dân tị nạn vài tháng. Đối với đời sinh viên Quân Y thì chuyến đi cũng đầy những lo lắng nhưng cũng thật thú vị và hồi hộp. Tôi chỉ có một chuyện duy nhất lo lắng là chị Nga, bà chị ruột của tôi, vừa bị nám phổi nhẹ nhưng phải chích thuốc chống Lao Streptomycin mỗi ngày. Vũ Đức Giang, không phải đi ra miền Trung chuyến này, biết chuyện và nhận giúp ngay. Trong những ngày tháng tôi lưu lạc ở Đà Nẵng, Giang đã đến nhà tôi mỗi ngày để chích thuốc cho chị Nga. Mẹ tôi hiền nhưng bố tôi tính khó, nên ít có bạn thường lại nhà. Giang thì đặc biệt lại nhà tôi thường xuyên. Bố mẹ tôi rất quý tính nết hiền, tốt và lễ phép của Giang. Chị Nga tôi thương mến Giang coi như em ruột trong nhà.
Sau khi đám Sinh Viên Quân Y ở Đà Nẵng được vài tháng, tại Sàigòn Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y thay Y Sĩ Đại Tá Hải Quân Phạm Vận. Đại Tá Lân, ngày đó, là một người đầy nhiệt huyết và thanh liêm có tiếng. Tính tình ông, nóng nảy, nhưng thẳng thắn và ông rất được kính nể trong ngành Quân Y. Đại Tá ra lệnh cho tất cả sinh viên đang đi quân sự vụ tại miền Trung về lại Sài Gòn, để tiếp tục việc chính là học Y Khoa. Theo quan niệm của ông, vấn đề quan trọng nhất trong việc đào tạo Sĩ Quan Quân Y giỏi là Sĩ Quan Quân Y phải nghĩ đến chuyện học trước hết. Chuyện chữa bệnh cho dân tị nạn để cho người khác, chính phủ lúc này đã xoay sở lấy được. Về Sài Gòn, một số anh em, trong số đó tôi còn nhớ có Vũ Đức Giang, Phạm Anh Dũng, Lý Văn Quý (Quân Nha)... rủ nhau nộp đơn xin đi học bằng Nhảy Dù, như các khóa đàn anh trước vẫn được phép, nhưng không được ông Lân chấp thuận, chắc cũng vì lý do này. Giang bực mình nhiều về chuyện đó, vì vẫn muốn sẽ gia nhập nhảy dù. Mỗi lần nhìn "đàn anh mũ đỏ" như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn... lúc đó đã ra những đơn vị chiến đấu nhảy dù thỉnh thoảng vẫn về thăm trường với binh phục rằn ri, Giang vẫn tấm tắc khen và... mong ước!
Vì là "gốc" Nhảy Dù nên Đại Tá Hoàng Cơ Lân hơi có thiên vị cho binh chủng này và tôi nghĩ có lẽ chính ông đã tuyển lựa nhiều sĩ quan nhảy dù về trường Quân Y, có những Y Sĩ như Trung Tá Vũ Khắc Niệm, Thiếu Tá như Lê Văn Châu, tác giả quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969, Đại Úy như Hoàng Ngọc Giao, Đường Thiện Đồng.... Còn ngành Dược thì có Đại Úy Trần Mạnh Anh... và đa số giữ những chức vụ huấn luyện cho đám sinh viên quân y. Thật sự đây là điều rất tốt, vì những vị này phần lớn đều khá và xứng đáng được làm gương. Cũng có một số Quân Y Sĩ binh chủng "rằn ri" khác được "gọi về" phục vụ ở Trường Quân Y như Thiếu Tá Trần Xuân Dũng từ Thủy Quân Lục Chiến và Đại Úy Ngô Thế Vinh, tác giả quyển "Vòng Đai Xanh" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971, từ Biệt Cách Dù. Đại Tá Lân để ý đến sinh viên từ những chuyện tầm thường nhất như đi đứng, y phục, ăn uống... cho đến những chuyện quan trọng thi cử, học hành... Chính ông thường bất thần xuống khu nội trú xem xét đời sống sinh viên hầu như mỗi ngày. Nhiều khi tôi có cảm tưởng ông coi các sinh viên quân y như là những em nhỏ dại dột của chính ông cần được săn sóc cho thành người tốt.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân, lúc đó, có rất nhiều ý kiến mới lạ, áp dụng vào việc huấn luyện sinh viên. Tất cả sinh viên quân y phải nội trú trong trường Quân Y để tập quen với đời lính. Tình cảm giữa các sinh viên quân y đối với nhau trở thành gắn bó hơn. Ông lập võ trường cho sinh viên tập Nhu Đạo, tôi nhớ có hai Y Sĩ Thiếu Tá Lê Trọng Tín và Đỗ Danh Thụy hướng dẫn . Ông còn tổ chức những buổi nói chuyện cho sinh viên mở rộng kiến thức. Nhiều nhân vật nổi tiếng ngoài dân sự như nhà văn Hoàng Hải Thủy diễn thuyết về "Y Sĩ và Văn Nghệ", linh mục Thanh Lãng nói chuyện về "Văn hóa dân tộc và vấn đề Hùng Vương"... là các vấn đề tổng quát, văn học nghệ thuật. Rồi đến Bác Sĩ Giáo Sư Hoàng Tiến Bảo, Giảng Sư Trần Xuân Ninh, Đinh Hà... nói về chuyên môn Y Khoa. Còn có các diễn giả là đàn anh Quân Y của chúng tôi đã ra trường như Đại Tá Văn Văn Của về nói chuyện để truyền kinh nghiệm đến đàn em. Có một hôm, anh Trần Xuân Dũng, đã từng là Y Sĩ Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến, thuyết trình về chuyện gì đó. Tôi ốm không đi được nhưng Giang đi nghe và khi về kể lại lấy làm thú vị, thích lắm vì anh Dũng dáng dấp thư sinh, nhưng nói chuyện rất hay và có duyên. Từ ngày đó thỉnh thoảng Giang cũng nói với tôi là có thể sẽ chọn Thủy Quân Lục Chiến khi đến lúc ra trường.
Công việc học hành, thi cử ở trường Y Khoa song song với chuyện quân sự ở Trường Quân Y rồi cũng qua dần. Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 của Kissinger và Lê Đức Thọ, khi tôi đang học Y Khoa năm thứ 5, thực tế chỉ là một "tờ giấy lộn" và chả hiểu tại sao vì "nó" mà 2 người này họ lại được giải Nobel Hòa Bình! Bộ Đội miền Bắc không tôn trọng những gì đã cam kết, vẫn xâm nhập miền Nam và Nam Bắc vẫn tiếp tục phân tranh. Phải nói tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị suy giảm nghiêm trọng, nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate vào tháng 8 năm 1974 và viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa đã dần bị cắt giảm rất nhiều.
Lúc đó, chúng tôi ít có giờ học ở trường hơn những lớp dưới và được cử đi thực tập nhiều ở các bệnh viện. Một vài tháng đầu tiên của năm thứ 5, Giang và tôi đến phiên học ở Bệnh Viện Nhi Đồng nơi có trẻ con bị bệnh nặng chết nhiều và chúng tôi được gọi ký giấy tử, có khi 5, 6 lần một đêm gác. Tôi nhớ mãi Giang được cử săn sóc một đứa bé trai độ 5 tuổi bị phù thủng rất nặng, khắp cả người sưng vù (edema) vì một bệnh về thận. Bố mẹ đứa nhỏ đã định sửa soạn ngày tang ma vì tưởng con không thể qua nổi cơn bệnh. Giang rất tận tâm chịu khó đọc sách, hỏi han những anh nội trú bệnh viện chữa cho thằng bé bằng kích thích tố tuyến thượng thận (corticosteroid) và kết quả rất thành công. Giang khá thật, chỉ một thời gian ngắn thằng bé đã đỡ hẳn. Bác Sĩ Giáo Sư Trịnh Thị Minh Hà, trưởng khu bệnh là người nổi tiếng giỏi nhưng rất khó tính cũng phải ngạc nhiên và vui lòng. Tôi nhìn thằng bé con vui đùa, tung tăng chạy nhảy lúc được xuất viện mà thầm phục thằng bạn của mình lầm lì, ít nói nhưng có tài. Sinh viên ngoại trú Y Khoa đầu năm thứ 5 mà có thể làm được chuyện như vậy không phải dễ. Giang rất thích trẻ con, sau kỳ học đó lại nộp đơn quay lại Nhi Đồng một lần nữa.
Chẳng mấy chốc đã đến năm thứ 6 là Y Khoa, năm cuối cùng của học trình 7 năm "dài đăng đẳng". Một số chúng tôi được cử để phụ trách huấn nhục đám đàn em mới vào và "lịch sử lại tái diễn"! Chúng tôi cũng đến lượt trở thành những đàn anh hò hét, huấn nhục đàn em. Lúc đó, chính bản thân tôi lại được cử ra làm sinh viên quân y Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên, y như là anh Tô Phạm Liệu năm 1970, phụ trách việc huấn luyện này.
Sau khi thi xong kỳ thi Bệnh Lý ở trường Y Khoa, Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch QYHD, khóa Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm lễ ra trường. Chúng tôi được chính thức đeo lon Y Nha Dược Sĩ Trung Úy.
Tháng Hai 1975, "cả nước" rúng động vì tỉnh Phước Long đã mất. Ngày 20 tháng Hai 1975 là ngày chọn đơn vị. Đa số bạn bè xôn xao, bàn tán về những binh chủng khác nhau. Tôi vẫn có chủ trương như cũ, đơn vị nào cũng vậy và cuộc đời có lẽ có sẵn số mệnh cả. Rồi tùy theo theo thứ tự đậu cao chọn trước, đỗ thấp lựa sau.
Những người đậu cao chọn chỗ ở Tổng Y Viện Duy Tân có Bạch Thế Thức, Phan Thanh Hải. Về QYV (Quân Y Viện) có Nguyễn Phan Khuê (Thủ Khoa khóa 21 QYHD) QYV Ban Mê Thuột, Trần Trung Hòa QYV Quảng Đức, Nguyễn Dương Mỹ QYV Nguyễn Tri Phương, Trần Ngưu Tử và Nguyễn Chí Vỹ chọn về QYV Pleiku.
Có 2 chỗ Hải Quân cũng dành cho những người xứng đáng học khá giỏi và đậu cao là Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Chiếu.
Nhảy Dù, binh chủng "rằn ri" mũ đỏ, hết khá sớm vì Châu Hữu Hầu, Trương Văn Như, Nguyễn Xuân Thiều, Nguyễn Văn Liêm, Trần Duy Thanh, Nguyễn Văn Thịnh và Nguyễn Văn Thạnh đã lựa chọn ngay.
Về Thủy Quân Lục Chiến, mũ xanh, 9 người, có Vũ Đức Giang, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Ngọc Sĩ, Nguyễn Bá Linh, Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Văn Châu, Bùi Chí Hùng, Huỳnh Đình Đại, và Hồ Đình Dư.
Chọn đi các Bộ Binh của tất cả 4 vùng quân sự: Vùng I Chiến Thuật có Chu Kỳ Đức; Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan và Hồ Thanh Tùng chọn Sư Đoàn 1 Bộ Binh; Lê Bình Đẳng và Võ Dũng chọn Sư Đoàn 2 Bộ Binh; Vũ Quốc Cường và Phạm Anh Dũng chọn Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Vùng II Quân Sự có Phan Ngọc Hà, Lê Vĩnh Thịnh, Thái Văn Châu và Nguyễn Khánh Hỷ về Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Vùng III có Lê Huy Hòe chọn Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Mai Thanh Hồng chọn Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lê Văn Cẩm chọn về Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Vùng IV có Nguyễn Văn Quốc chọn Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Huỳnh Thắng Toàn và Nguyễn Văn Đơ chọn Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Văn Hạnh cùng về Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Biệt Động Quân, binh chủng "rằn ri" mũ nâu, đang dự định đưa Y Sĩ xuống cấp tiểu đoàn theo như Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến và do đó lấy khá nhiều. Đó là Nguyễn Tài Mai (Sinh Viên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Sinh Viên Quân Y, "gốc" Thiếu Sinh Quân), rồi đến Nguyễn Quốc Anh, Ngô Bá Bảo, Đoàn Trung Bửu, Nguyễn Kỳ Chân, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Đổng, Nguyễn Hữu Khoát, Nguyễn Phong Nghi, Hồ Sĩ Nghĩa, Nguyễn Văn Tân, Tề Văn Tiếng, Đỗ Danh Toàn, Vũ Ngọc Tuấn và Nguyễn Tấn Việt.
Một số chọn những đơn vị lẻ tẻ, nhưng đặc biệt như Huỳnh Minh Châu về Nha Kỹ Thuật Tổng Tham Mưu, Dương Thanh Trắc chọn Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trịnh Ngọc Toản "đi" Tiểu Đoàn 12 Kỵ Binh Thiết Giáp và Phạm Hồng Hải "về" Liên Đoàn 72.
Sau ngày chọn đơn vị, tôi lại nhà Vũ Đức Giang ngày cuối tiễn Giang ra trình diện đơn vị. Giang mặc quân phục "rằn ri" mới, đeo lon đỏ, đội mũ xanh của Thủy Quân Lục Chiến, trông thật lạ mắt. Giang giới thiệu tôi với hôn thê mới của mình, là một giáo sư trường trung học ở Sài Gòn. Cô vợ chưa cưới của Giang tên là Mai, trông thật ngoan và hiền dịu. Trước khi từ giã, Giang đưa tặng tôi cặp lon Trung Úy và bảng tên màu đen dùng cho những đơn vị tác chiến, dặn dò tôi phải cẩn thận vì chiến cuộc đang gay go. Nhìn tôi khá lâu vào mắt, hơi khác thường, Giang bắt tay từ giã. Cả mấy năm trời thân thương với nhau, chúng tôi chưa hề bắt tay nhau bao giờ. Lần đó là lần đầu tiên và không ngờ, cũng là lần cuối cùng tay chúng tôi bắt tay. Đó là lần cuối cùng hai đứa gặp nhau. Giang ra thay một đàn anh ở Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, tham chiến ngay ở gần Huế. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh rút Sư Đoàn Nhảy Dù về trấn giữ Sài Gòn và để một số Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng vài Liên Đoàn Biệt Động Quân thay. Giao chiến khốc liệt đẫm máu xảy ra ở những vùng quanh Huế, Quảng Trị, Đại Lộc... Nguyễn Tiến Dũng thành Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến đóng ở tuyến đầu Quảng Trị.
Cuộc đời Y Sĩ Tiền Tuyến chúng tôi thật sự khởi đầu.
Tôi đến Sư Đoàn 3 Bộ Binh gần Đà Nẵng. Vũ Quốc Cường về cùng đơn vị đã trình diện trước tôi một vài ngày. Ngày Xuân, tháng Ba mà đã nóng như lửa. 11 giờ trưa trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y. Dược Sĩ Trung Úy Lê Văn Khoa rủ ăn trưa với các Y Sĩ Trung Úy của Sư Đoàn 3 như Nguyễn Hữu Mãn, Đào Tư Huyền, Lê Văn Thu...và chỉ dẫn chút ít về doanh trại. Vũ Quốc Cường dẫn tôi đi tắm suối xong 2 giờ chiều cùng ngày tôi được ông Thiếu Tá Y Sĩ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Quân Y gửi đến Trung Đoàn 2 Bộ Binh. Vũ Quốc Cường được giữ lại Sư Đoàn. Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 3 và Trung Đoàn 1 của Sư Đoàn 1 là hai đơn vị thiện chiến có tiếng trong các đơn vị Bộ Binh của Vùng I Quân Sự. Trung Đoàn 2 đang đóng và chiến đấu ở Quế Sơn. Tôi đến thay cho Y Sĩ Trung Úy Bùi Trần Anh ở trung đoàn này đã được vài năm.
Đến lúc đó tôi mới thấy cái đời sống thật sự của những Y Sĩ ở mặt trận không còn những lúc văn chương thơ mộng như mình đã tưởng tượng, như khi đã đọc ở quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" của Trang Châu. Quyển sách của anh Châu, viết có lẽ chỉ khoảng 5,6 năm trước và thời gian đó đã trở thành phải nói có những chỗ không còn "hợp thời" nữa. Chiến tranh sau này phũ phàng và tàn bạo hơn nhiều. Tôi thông cảm và kính phục các vị Quân Y Sĩ đàn anh bao nhiêu năm gian khổ, nguy hiểm nơi tiền tuyến. Cảm giác lạnh lẽo, cô đơn một mình giữa đêm khuya ở bệnh xá Trung Đoàn thật khó quên. Những buổi trưa ấn vội nắm "cơm sấy" vào mồm cho đầy bụng để còn kịp có thì giờ chữa thương bệnh binh. Tôi đã ớn lạnh nghe quả pháo vút qua đầu và rơi cách chỉ hơn trăm thước mà vẫn phải dặn dò y tá bình tĩnh. Lúc cảm thấy bất lực nhìn tủ thuốc trống rỗng với vài viên thuốc chữa cảm cúm vớ vẩn, không còn trụ sinh trong khi bệnh nhân đợi la liệt với những vết thương không cần phải đợi lúc thay băng cũng đã ngửi thấy mùi nhiễm trùng. Còn nỗi bàng hoàng, khi thấy lính phải bỏ tiền túi ra mua đạn. Chuyện khó tin nhưng có thật! Trận chiến như đã được xếp đặt đến lúc tàn. QLVNCH chưa mỏi mệt, nhưng đồng minh Hoa Kỳ đã mỏi mệt, muốn "bỏ rơi" miền Nam. Quân miền Nam không còn đủ súng ống, đạn dược trong khi Bộ đội miền Bắc lại đầy T54, B41, AK47...vì Nga và Trung Cộng vẫn chưa bỏ cuộc.
Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch, những ngôi sao sáng, những niềm hy vọng mới của đất nước, của tổ quốc ra trường đúng những ngày tháng sửa soạn cho thất trận. Chiến tranh hình như bùng nổ lớn khắp nơi trên khắp bốn vùng chiến thuật I, II, III và IV. Tháng Ba 1975 các Tân Trung Úy Quân Y Nha Dược Sĩ chân ướt chân ráo ra chiến trường, tìm đơn vị, là lúc hầu như cả một đạo quân Việt Nam Cộng Hòa một triệu người đang giao tranh, tan rã, bắt đầu di tản ngược lại hướng của mình. Bao nhiêu bạn cùng khóa bị bắt làm tù binh. 8 Quân Y Sĩ mới của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra thay thế đàn anh ở những tiểu đoàn chiến đấu, 5 người bị bắt khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bỏ ngỏ Huế. Còn nhiều người vì hỗn độn chưa kịp tìm thấy đơn vị mới đã chết trận.
Ngày 10 tháng Ba 1975 Ban Mê Thuột bị tấn công.
Chỉ 3 ngày sau Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Vùng II Quân Sự Phạm Văn Phú bỏ Cao Nguyên. Đại Tá Biệt Động Quân Phạm Duy Tất được thăng Chuẩn Tướng chỉ để dẫn quân dân triệt thoái theo Liên Tỉnh Lộ 7, con đường lâu ngày không dùng trở thành "một con đường máu", đúng nghĩa chữ "máu". Tại "Con Đường Tử Thần" này, Y Sĩ Trung Úy Biệt Động Quân Đoàn Trung Bửu, QYHD khóa 21 của chúng tôi, đã chết khi cố vượt qua một con sông trong chuyến di tản. Cũng trong lúc di tản của Quân Đoàn II, Y Sĩ Trung Úy Bộ Binh Thái Văn Châu, khóa QYHD 21 của chúng tôi, bị bắn chết ở biển Quy Nhơn khi cố bơi từ bãi biển ra tàu Hải Quân.
Những đàn anh Quân Y hy sinh trước kia như Đỗ Vinh, Trương Bá Hân, Trần Ngọc Minh, Lê Hữu Sanh, Bửu Trí, Đoàn Mạch Hoạch... đều được vinh danh là anh hùng. Tên của các Quân Y sĩ là tên những Quân Y Viện trên khắp các vùng chiến thuật. Ai biết đến, ai nhắc đến Đoàn Trung Bửu, Thái Văn Châu... ? Lúc chôn, nếu có tìm được xác chắc cũng không được phủ mảnh cờ vàng ba sọc đỏ.
Đoàn Trung Bửu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)
Thái Văn Châu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)
Ngày 14 tháng Ba 1975, tôi ra đơn vị.
Ngày 19 tháng Ba 1975, Quảng Trị bị tấn công.
Ngày 20 tháng Ba 1975 , Quảng Trị bỏ ngỏ.
Ngày 23 tháng Ba 1975, Tổng Thống Thiệu ra lệnh Trung Tướng Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, Ngô Quang Trưởng, bỏ Huế. Tin đồn lúc đó là sẽ có chia cắt đất nước, nhượng cho miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra.
Một buổi chiều nắng héo hắt, tôi đến một quán bên đường ở Quốc Lộ 1, gần đèo Hải Vân, ngồi uống bia tình cờ nghe ông chủ quán nói chuyện với vợ là dân và lính chạy từ phía Bắc vượt đèo chạy về hướng Đà Nẵng. Tôi ra khỏi quán, đứng bên đường lặng nhìn lên đèo Hải Vân, những đoàn xe nhà binh chở những quân lính trong đó có lính của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến... từ Huế vượt đèo chạy qua. Tôi nghĩ nhiều đến Nguyễn Tiến Dũng và Vũ Đức Giang, hai bạn thân nhất của tôi vừa ra trình diện hai Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và thầm tự hỏi không biết hai đứa đó có còn sống hay không và đang ở đâu? Chu Kỳ Đức, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan... ra Sư Đoàn I Bộ Binh không biết đang làm gì? Còn bao nhiêu bạn cùng khóa khác đang hay vừa đến đơn vị, chả biết đường lối gì cả, không biết tình trạng ra sao?... Đứng từ chiều đến lúc xẩm tối, nhìn lên đèo Hải Vân giờ này đã biến thành một chuỗi sáng trên trời cao vì ánh sáng của những ngọn đèn của đoàn xe nối tiếp nhau tưởng như không bao giờ hết. Nhìn đoàn xe tôi chỉ mong ước sao cho các bạn mình Giang, Dũng, Đức, Ngọc, Quan... cũng có ở trên những xe đó.
Những ngày sau đó Đà Nẵng hỗn độn vì những tin đồn. Dân chúng bắt đầu được di tản bằng máy bay. Những chuyến máy bay ở phi trường làm náo động những người còn lại. Những chuyện người tranh nhau, giành giật để có chỗ thoát, người chết khi bám vào bánh xe khi máy bay đang cất cánh, đều là những chuyện thật.
Ngày 29 tháng Ba 1975, Đà Nẵng chưa đánh đã di tản! Từ Quế Sơn tôi chạy về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3. Không thấy bóng một ông Sĩ Quan nào nữa. Chỉ còn vài người lính đang nhặt nhạnh vài đồ đạc lẩm cẩm. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi hãy còn lảng vảng và ngơ ngác. Gọi Tổng Y Viện Duy Tân có thì biết mọi người đã di tản từ ngày hôm trước. Tôi cũng không biết làm sao có phương tiện ra Đà Nẵng, không lẽ lại chạy bộ nữa? Chuyện thì dài dòng, nhưng vắn tắt tôi may gặp Lê Văn Thu, bác sĩ QYHD 20, ra trường trên tôi một lớp, lái xe gắn máy Honda chạy ra. Thu chở tôi ngược lại vào trong trại lúc này đã gần như trống không, lấy cái xe Bridgestone, một xe gắn máy cũ khác của anh đưa cho tôi chạy. Vào Đà Nẵng, nhớ đến anh ruột của Nguyễn Tiến Dũng là Nha Sĩ Thiếu Tá Nguyễn Nhật Thăng, tôi ghé phòng mạch Nha Khoa của anh ở dưới phố để rủ anh chạy ra bến tàu, thì anh Thăng đã đi rồi, nhưng thật bất ngờ gặp Nguyễn Tiến Dũng, vừa thoát được đến Đà Nẵng cũng ghé tìm anh ruột. Ôm nhau mừng chảy nước mắt. Hỏi thăm ngay về Vũ Đức Giang. Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến của Giang đã hoán chuyển chỗ với tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến của Tiến Dũng. Nguyễn Tiến Dũng về gần Huế do đó chạy được đến Đà Nẵng. Giang như vậy đã ở Quảng Trị.
Đúng là số trời đã định, nếu Dũng và Giang không đổi chỗ thì
có lẽ lúc đó tôi không gặp Dũng. Không Dũng thì Giang. Không Giang thì Dũng. Cả hai đều là bạn thân thiết của tôi. Vậy thôi!
Tôi và Tiến Dũng may mắn không tưởng tượng, như có phép lạ giúp, thoát về được đến Cam Ranh. Nước biển Cam Ranh vẫn trong xanh mát rượi, bãi cát vẫn trắng mịn với những con dã tràng xe cát, nhưng thành phố đã hỗn loạn. Toàn là người với quân phục và xe nhà binh, lác đác tiếng súng. Không được thêm tin tức gì của Giang. Những đơn vị quân đội chạy từ hướng Bắc xuống đang tái phối trí, rồi chỉ để sửa soạn di chuyển sâu thêm về hướng Nam! Các đoàn quân theo nhau rút lui. Màu đỏ của máu lan dần trên bản đồ hình chữ S từ Bắc xuống Nam. Các thành phố Cam Ranh, Nha Trang... rồi cũng tự nhiên bỏ ngỏ để bộ đội miền Bắc dễ dàng vào chiếm đóng. Triệt thoái và di tản nhanh đến nỗi có khi quân miền Bắc vài ngày sau mới đến kịp để tiếp thu. Chính họ cũng phải ngạc nhiên! Thật là kỳ lạ.
1 tháng Tư: mất Nha Trang và Quy Nhơn.
Tôi không hiểu gì cả! Chỉ biết chạy, rồi chạy, xong rồi lại chạy..., tuy đầu óc thỉnh thoảng lại nghĩ đến Vũ Đức Giang người bạn thân, hiền lành. Tôi theo Nguyễn Tiến Dũng lên một tàu Hải Quân từ Cam Ranh di tản về Vũng Tàu. Trên chiếc tàu Hải Quân đó, cả Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân, và quân lính chắc chỉ còn non một ngàn người. Nguyễn Bá Linh bạn cùng khóa QYHD 21 cũng vừa ra đơn vị, quần áo nhàu nát cũng ở trên tàu, kể chuyện rằng, trong cuộc triệt thoái hỗn loạn ở Thuận An, phải bơi ra biển đến tàu để tìm đường thoát. Tôi cố tìm Vũ Đức Giang mà không thấy. Khi hỏi thăm thêm mọi người cả người tôi lạnh cứng, khi biết tin Giang bị kẹt và bị bắt ở bãi biển Thuận An. Nắng vàng trong sáng, biển xanh biếc bỗng nhạt nhòa. Chúng tôi thoát khỏi Cam Ranh ngày trước thì ngày sau được tin thành phố di tản:
3 tháng Tư: mất Cam Ranh.
Rồi tàu hải quân cũng đưa chúng tôi cũng về đến Vũng Tàu bình yên và tôi tìm lại được tàn quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đang tái phối trí ở trại Vạn Kiếp được vài ngày. Vào trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y, tôi không gặp một sĩ quan nào cả. Ám ảnh bởi hình ảnh tù tội, chết chóc của bạn bè, đầu óc trống rỗng, mỏi mệt chán chường và cũng chả biết làm gì ở đó nữa, tôi trở về lại Sài Gòn. Tôi gặp lại Trương Văn Như với quân phục nhảy dù mới, đang sửa soạn theo đơn vị ra trận chiến Khánh Dương. Đến lúc này vẫn nhiều người tin tưởng sẽ có hiệp định chia cắt lãnh thổ từ khoảng giữa miền Trung trở vào thì sẽ được là vùng tự do, không cộng sản.
Sài Gòn lên cơn sốt, Sài Gòn hoảng hốt, khi một số dân đã bắt đầu được Mỹ di tản bằng máy bay sang đảo Guam. Tin đồn sẽ có đảo chánh tạo niềm hy vọng cuối cùng khi Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đang ra thị sát mặt trận và tuyên bố sẽ ở lại chiến đấu đến cùng.
Ngày 20 tháng Tư 1975, sau chiến thắng oai hùng ở Xuân Lộc, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Sư Đoàn 18 Bộ Binh phải triệt thoái.
Ngày 21 tháng Tư 1975 Tổng Thống Thiệu từ chức và khẳng định với quốc dân và chiến hữu trên Truyền Hình Việt Nam là sẽ trở lại với Quân Đội để chiến đấu. Ông trao quyền lại cho Phó Tổng Thống già yếu Trần Văn Hương và đêm 25 tháng Tư, ông Thiệu đã ở Đài Loan!
Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ sau cũng bay mất trên trực thăng cùng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng! Ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng nói “Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai”. Leningrad là trận chiến nổi tiếng của Hồng quân Liên Xô trước quân phát xít Đức, kéo dài gần trên dưới 1000 ngày đêm, bắt đầu từ tháng Bảy 1941.
Các vị Tướng như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ... không có những lời tuyên bố lớn lao như vậy đã ở lại tuẫn tiết. Đó là những Tướng anh hùng liệt quốc, "những Hoàng Diệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa".
Ngày 28 tháng Tư 1975 Cụ Trần Văn Hương nhượng vị Tổng Thống cho Đại Tướng Dương Văn Minh, tưởng sẽ làm vừa lòng Bắc Quân, nhưng tình thế đã tuyệt vọng hoàn toàn.
Ngày 30 tháng Tư 1975, Tân Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ bến tàu Bạch Đằng, trong đêm tối, tôi may lên được và theo tàu Hải Quân HQ1, những phút cuối cùng trước khi tàu rời bến. Như ở một giấc mộng hãi hùng, trong cơn hỗn loạn, tôi di tản khỏi Sài Gòn, thành phố thân yêu của tuổi trẻ thế hệ chúng tôi, đang "hấp hối".
Những người bạn khác cũng may mắn và sau tôi gặp lại được là Nguyễn Tài Mai, Bạch Thế Thức, Nguyễn Tiến Dũng... Biết bao bạn cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21 chúng tôi không may như vậy phải ở lại cực khổ thể xác và tinh thần trong các trại cải tạo, đó là số phận của Trần Trung Hòa, Trương Văn Như, Chu Kỳ Đức, Nguyễn Phan Khuê,Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Chí Vỹ, Nguyễn Văn Quốc... Có những người sau đó chết mất xác, ở biển khơi, khi vượt biên như Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Xuân Thiều...
Qua đến nước Mỹ, khá lâu tôi bặt tin, đến mãi về sau mới " gặp" lại Vũ Đức Giang qua những chi tiết đọc được trong sách báo và một vài lần ở trong giấc mơ.
Trong quyển "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975" do Phạm Huấn viết, chương 15 là những trang sách về "Những Y Sĩ Tiền Tuyến". Vào những giờ phút cuối cùng khi Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đang triệt thoái một cách tuyệt vọng tại bãi biển Thuận An:
"... Bác Sĩ Vũ Đức Giang, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến dù đã lên chiếc LMC đầu tiên, sáng ngày 26-3-1975 cùng với các thương binh, nhưng vì danh dự của một cấp chỉ huy, anh lại trở xuống..."
Cao Xuân Huy, trong quyển sách lừng danh "Tháng Ba Gãy Súng". Quyển sách của những khôi hài đen đầy máu, nước mắt, tàn bạo, căm hờn...nói về cuộc triệt thoái của Thủy Quân Lục Chiến. Đây là đoạn tác giả đã bị bắt làm tù binh ở bãi biển Thuận An:
"...Ngày 26 tháng 3 là ngày cả một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống. Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra...
...Tôi còn gặp lại cả một thằng bạn cũ, cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Vũ Đức Giang. Tôi ngạc nhiên kêu lên:
- Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?
- Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.
- Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?
- Tao Thủy Quân Lục Chiến.
- Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày cũng dám giết người à. Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến tao không gặp mày.
- Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.
- Mày bác sĩ hở?
- Ừ, tao về tiểu đoàn 7..."
BS TQLC Phạm Vũ Bằng viết trong bài "Thủy Quân Lục Chiến-Binh Chủng Kiêu Hùng":
"...Theo các Quân Y tá LĐ 147 cho biết thì Bác Sĩ Vũ Đức Giang và vài quân y tá TĐ 7 khiêng thương binh lên tàu sau đó anh điểm danh y tá TĐ 7 rồi tất cả cùng trở xuống để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
Khi tôi thay BS Rậu làm Đại Đội Trưởng Quân Y LĐ 147 thì một hôm Hạ Sĩ Nhất Quân Y Nguyễn Văn Được - người sống sót từ “Pháp Trường Cát Thuận An”- hỏi tôi:
-Ông thầy có biết BS Vũ Đức Giang TĐ 7 không?
-Biết. Mà có chuyện gì?
-Ổng ngon quá! Ngày 26/3/1975 ổng và mấy đệ tử khiêng thương binh lên tàu. Xong việc ổng điểm danh từng y tá TĐ 7 một rồi tất cả xuống tàu lên bờ về lại TĐ. Em giữ ổng lại nói “BS trở lại thì 100/100 là chết” nhưng ổng trừng mắt la em “chú mày đừng xúi bậy, TĐ đang chiến đấu sẽ có thêm thương bình, anh bỏ đi sao đành” . Xong rồi ổng xuống tàu đi dưới làn mưa đạn thượng liên của VC, em nhìn mà thấy ớn. Em nói thiệt tình đó ông thầy.
-Thì tao có nói mày không thiệt tình hồi nào đâu! Có điều chú mày bậy thật, Bác Sĩ TQLC không bao giờ đào ngũ trước hàng quân!..."
Và cũng trong "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975" của Phạm Huấn, về Vũ Đức Giang:
"...Cuối năm 1976, lại một lần nữa, muốn bảo vệ danh dự của một Quân Y Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh đã tự tử chết trong trại tù ở phi trường Ái Tử, ngoài Đông Hà, Quảng Trị..."
Cuối cùng bài "Khóc Bạn" của bác sĩ quân y Hoàng Thế Định, trên Tập San Y Sĩ Việt Nam tại Canada số 112, trang 119, viết về giây phút cuối cùng của Vũ Đức Giang năm 1976 tại trại tù cải tạo Ái Tử:
"...Buổi cơm chiều, Giang cáo bệnh không ăn. Gần cuối lán, lò mò tối, anh nằm trùm kín, im lặng...anh nằm trùm chăn im lặng. Anh em vẫn nghĩ là Giang bệnh, để yên anh ngủ. Khoảng một giờ sau, mọi người nghe Giang vùng mạnh mấy cái trong chăn rồi "ự, ự" lên mấy tiếng. Dược sĩ Thuận, người vẫn thường nằm cạnh Giang, vụt đứng dậy, chạy lại giật tung chăn trên người bạn... Mọi người xúm lại. Toàn thân Giang rung lên, co quắp tay chân rồi từ từ duỗi ra, bất động...
...Nguyễn Đình Ái, Y sĩ trung úy trưng tập, cùng đơn vị với tôi. BS Ái giật chiếc ống nghe trên đầu nằm của Tôn Thất Thắng, Y tá trại 3. Ái vừa nghe tim vừa tìm mạch ở cườm tay bạn. Không còn nhịp tim mạch...
...Trong khi chờ đợi y tá Tôn Thất Mừng sửa soạn adrénaline, BS Ái bảo DS Thuận xoa bóp lồng ngực Giang, còn mình thì dùng phương pháp bouche à bouche, thổi hơi cho bạn. BS Ái chích Adrénaline trực tiếp vào cơ tim Giang và cùng DS Thuận tiếp tục làm cấp cứu hồi sinh
Dù biết rằng nếu có hiệu quả thì trong vài phút, nhưng Ái và Thuận vẫn cố cứu bạn suốt nửa giờ. Vô vọng, hai người quỳ gối bên xác bạn...
...Tôi tin tài của BS Ái, biết chẳng còn gì cứu vãn được nữa, nhưng vẫn đến ngồi bên Giang, lật chăn để nhìn bạn lần cuối. Tôi quan sát thấy đồng tử của người bạn xấu số đã hoàn toàn nở rộng.Thật hết rồi! Tôi ghé sát miệng Giang và ngửi mùi hăng hắc đặc biệt ở những người tự tử bằng Chloroquine..."
Năm 1976, Y Sĩ Trung Úy Hiện Dịch Thủy Quân Lục Chiến Vũ Đức Giang qua đời, "hưởng dương" 28 tuổi.
Tôi nhớ Vũ Đức Giang. Tôi nghĩ đến hai em của Giang. Tôi nghĩ đến Mai, người vợ chưa cưới của Giang. Tôi nghĩ nhiều đến mẹ của Giang...
Tôi nhớ nụ cười hiền hòa của Giang.
Tiếng hát Ngọc Long từ đâu đó vọng về:
"...Chiều mơ anh cầm đàn về Trường Sơn bát ngát, ngắm mây bay miệt mài tiếng hát...".
Vũ Đức Giang đã về với rặng Trường Sơn bát ngát, về với Hoàng Liên Sơn hùng vĩ.
Vũ Đức Giang đã ở lại với sông Hồng cuồn cuộn sóng đỏ và ở mãi với dòng Cửu Long xanh mát, mênh mông...
Phạm Anh Dũng
San Diego, California, USA
(viết xong tháng Ba 2025 để kỷ niệm 50 Năm Quốc Hận, Tháng Tư Đen 1975)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





