Hiển thị các bài đăng có nhãn Trúc Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trúc Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 9, 2021

Dinh Độc Lập Và Những Biến Cố Lịch Sử Việt Nam


1*. Mở bài

Dinh Độc Lập là “chứng nhân” đã chứng kiến những biến cố lịch sử của Việt Nam, từ những cuộc đảo chánh, cách mạng của chính trị miền Nam. Còn được gọi là Dinh Tổng Thống hay Phủ Đầu Rồng.

Trước ngày 30-4-1975, Dinh Độc Lập (DĐL) là nơi cư ngụ và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. DĐL có hai kiến trúc, kiến trúc cũ được xây dựng ngày 23-2-1868, có tên là Dinh Norodom, sau đổi thành Dinh Độc Lập.

Kiến trúc mới do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và thực hiện xây dựng dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc cũ bị hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc đánh sập bằng bom vào năm 1962.

Cánh cửa của DĐL bị xe tăng của Cộng Sản Bắc Việt húc sập vào buổi sáng ngày 30-4-1975, đánh dấu ngày nước Việt Nam Cộng Hòa lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Từ đó, DĐL được đổi tên thành Dinh Thống Nhất. Việt Cộng dùng làm khu du lịch để kiếm tiền, do du khách tò mò muốn biết nơi ở và làm việc của các tổng thống VNCH.

2*. Vài nét về lịch sử của Dinh Độc Lập

2.1. Thời Pháp thuộc

Ngày 23-2-1868, Thống đốc Nam Kỳ, Lagrandière, làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Viên đá lịch sử lấy từ núi Châu Thới Biên Hòa, hình vuông, mỗi gốc rộng 50cm, có lỗ, bên trong chứa những đồng tiền bằng vàng, bạc, đồng, có in hình Napoléon Đệ Tam.

Diện tích công trình rộng 12 mẫu tây. Mặt tiền rộng 80m. Bên trong có phòng khách chứa đến 800 người. Do nước Pháp có chiến tranh, công trình kéo dài đến năm 1863 mới xong. (1868-1863=5 năm)

Dinh được đặt tên là Dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng mang tên Norodom, là tên của dòng họ cai trị vương quốc Campuchia. Dinh Norodom là nơi ở và làm việc của Thống đốc Nam Kỳ, người Pháp.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp, dinh Norodom là nơi làm việc của chính quyền Nhật Bản ở VN.

2.2. Thời Việt Nam Cộng Hoà

Dinh Độc Lập cũ

Ngày 7-9-1954, Dinh Norodom được Đại tướng Paul Ely bàn giao lại cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Năm 1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên thành Dinh Độc Lập. Từ đó, DĐL là nơi ở và làm việc của Tổng thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà.


Phủ Đầu Rồng. Báo chí gọi DĐL là Phủ Đầu Rồng, vì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lấy quốc huy là hai con rồng trong bức hình lưỡng long tranh châu. Các nhà tướng số, phong thủy lại bàn tán ra rằng, DĐL nằm trên mảnh đất có cái đầu của con rồng, mà cái đuôi của nó dài ra tới Công trường Chiến, sĩ ở ngã tư Duy Tân – Trần Quý Cáp. Họ cho rằng, muốn được yên vị ở cái đầu con rồng là DĐL, thì phải trấn ếm cái đuôi của nó, để cho nó không còn khả năng vùng vẫy quậy phá gây bất ổn.


Sau đó, tượng đài Chiến sĩ vô danh của Pháp để lại, bị đập phá và xây lại một cái tháp cao, đặt giữa cái hồ nước tròn, có một con rùa bằng đồng nằm dưới chân tháp, cho nên gọi là Hồ con rùa.

Ngày 27-2-1962, hai phi công VNCH là Thiếu úy Nguyễn Văn Cử và Trung úy Phạm Phú Quốc lái hai chiếc phi cơ A-1 Skyraider, ném bom làm sập bộ phận chính bên trái của dinh. Do không có thể hồi phục lại được, nên Tổng thống Diệm cho đập phá toàn bộ để xây lại dinh thự mới trên nền đất cũ, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ

2.3. Dinh Độc Lập mới

Ngày 1-7-1962, Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng. Thời gian nầy, Tổng thống Ngô Đình Diệm chuyển sang cư ngụ và làm việc ở Dinh Gia Long.

Công trình xây dựng đang tiến hành thì Tổng thống Diệm bị đảo chánh và bị giết vào ngày 2-11-1963. Như vậy, Tổng thống Diệm chưa được vào ở và làm việc ở DĐL do ông cho xây cất.

Ngày 31-10-1966, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, chủ tọa lễ khánh thành DĐL. Tổng thống Thiệu ở và làm việc tại đó từ tháng 10 năm 1967 cho đến ngày 21-4-1975.

Ngày 8-4-1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung lái phi cơ F-5E ném bom DĐL, thiệt hại không đáng kể.
Tổng thống Trần Văn Hương cũng vào làm việc tại văn phòng Tổng thống trong dinh, trước khi trao quyền lại cho Tổng thống Dương Văn Minh.

2.4. Dinh Độc Lập lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt

Ngày 30-4-1975, xe tăng CSBV húc sập cánh cửa DĐL đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Công Hoà.
3*. Kiến trúc của Dinh Độc Lập

3.1. Dinh Độc Lập mới


Dinh Độc Lập là một công trình kiến trúc độc đáo của kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Thụ. Được khởi công ngày 1-7-1962 và khánh thành ngày 31-10-1966. KTS Ngô Viết Thụ muốn cho công trình của mình mang một ý nghĩa văn hoá. Từ nội thất cho đến mặt tiền, đều tượng trưng cho một triết lý cổ truyền, nghi lễ Đông phương, và cá tính dân tộc.

Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT ( 吉 ) có nghĩa là tốt lành, may mắn. Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình Quốc Thư. Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU ( 口 ) để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU ( 口 ) có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG ( 中 ) như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM ( 三 ), theo quan niệm dân chủ hữu tam, là viết Nhân, viết Minh, viết Võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh, thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang của chữ TAM này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG ( 王 ), trên có kỳ đài làm thành nét Chấm (Giống dấu huyền) tạo thành hình chữ CHỦ ( 主 ) tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự, toàn bộ bao lơn, lầu 2 và lầu 3, kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ( 興 ) ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi mãi.

Bên trong, những đường nét kiến trúc đều dùng những đường ngay, kéo thẳng, mang ý nghĩa ngay thẳng, quang minh chính đại.Trước sân dinh, thảm cỏ hình bầu dục, đường kính dài 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo cảm giác êm dịu, sảng khoái. Báo chí thời đó cho biết, cỏ phải mua từ Nhật mang về.

Một hồ nước hình bán nguyệt, có thả hoa sen, hoa súng gợi lên hình ảnh những hồ nước yên ả, ở các ngôi đình, chùa cổ kính Việt Nam ngày xưa.

Dinh có diện tích 120,000 mét vuông, có 4 khu nhà.

Khu nhà chính hình chữ “T”, diện tích mặt bằng 4,500 mét vuông, cao 26m. Đây là nơi ở và làm việc của tổng thống. Khu nầy có 3 tầng, tầng hầm, tầng nền và lầu hai. Có 2 gác lửng và một sân thượng làm bãi trực thăng.

Khu nhà chính có 95 phòng, mỗi phòng có công dụng riêng. Kiến trúc và trang trí mỗi phòng phù hợp với mục đích xử dụng.

Phòng trình quốc thư Phòng tiếp khách ngoại quốc

Phòng họp nội các, phòng đại yến, phòng khách nước ngoài, phòng tiếp khách trong nước, phòng trình quốc thư, phòng làm việc của tổng thống, phòng tiếp khách của phó tổng thống. Một khu quân sự gồm có đài phát thanh, phòng trực chiến của tổng thống, phòng bản đồ…phòng giải trí. Có một hầm ngầm để điều khiển hành quân.

Kinh phí xây dựng khá tốn kém, tương đương 15,000 cây vàng.

Trang thiết bị trong dinh hiện đại nhất thời đó. Lễ lạc quy tụ cả ngàn người. Hệ thống điều hòa không khí, thang máy, thông tin liên lạc nội bộ, nhà bếp, kho bãi như một khách sạn 5 sao thứ lớn.

Đặc biệt, một tổng hành dinh ngầm dưới mặt đất, là một khối hầm bằng bê tông dầy bọc thép, chịu đựng được bom thứ lớn và pháo kích, đáp ứng phòng thủ tối tân nhất.

Có 4,000 ngọn đèn các loại, hàng chục tác phẩm nghệ thuật quý giá. Thảm, rèm, bàn ghế, vật dụng đều hạng nhất.

Dinh Độc Lập là một vật chứng tiêu biểu, gắn liền với vận mệnh dân tộc, đồng thời cũng là một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc kết hợp hài hòa văn hoá Đông Tây.

3.2. Vài nét về kiến trúc sư Ngô Viết Thụ


Ngô Viết Thụ sinh ngày 17-9-1926 tại Thừa Thiên-Huế. Thời gian 1950-1955, là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Mỹ Thuật Quốc Gia Paris. (Pháp)
Năm 1955, ông nhận giải nhất , Giải Thưởng Lớn Roma, thường được gọi là Khôi Nguyên La Mã.

Giải La Mã (Prix de Roma) là giải học bổng cho những sinh viên ngành nghệ thuật. Giải nầy được thành lập thời vua Louis XIV. Đây là giải hàng năm cho nghệ sĩ (gồm hội họa, điêu khắc và kiến trúc). Tài năng, thông qua một cuộc thi sát hạch. Người trúng giải được vào ở Cung điện Mancini do chi phí của nhà vua Pháp tài trợ. Người đoạt giải sẽ được gởi đến Viện Hàn Lâm Pháp ở Roma (Académie de France à Rome)

Năm 1960, KTS Ngô Viết Thụ về VN làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Năm 1962, ông là người Á châu đầu tiên trở thành Viện Sĩ Danh Dự của Viện Kiến Trúc Hoa Kỳ.

Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng mang sắc thái đặc biệt về kỹ thuật và mỹ thuật. Dinh Độc Lập, Viện Đại học Huế, Làng Đại học Thủ Đức, Viện Nguyên Tử Đà Lạt, Thương xá Tam Đa, tòa đại sứ VNCH ở Anh…Rất tiếc, một số công trình quan trọng bị thay đổi thiết kế vì lý do kinh phí và nhiều lý do khác, đã làm cho phong cách thiết kế của ông bị mất đi nhiều phần.

Ông qua đời ngày 9-3-2000 tại Sài Gòn. Một trong 8 người con của ông là Tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn cũng là KTS và Đô thị gia, tốt nghiệp ở Hoa Kỳ, làm tư vấn thiết kế và giảng dạy tại Bắc Mỹ.

4*. Cuộc tấn công Dinh Độc Lập năm 1960

Dinh Độc Lập là nơi xảy ra những cuộc binh biến, đảo chánh, cách mạng, cho nên đã từng bị ném bom, bắn phá.

Cuộc đảo chánh năm 1960 là cuộc đảo chánh đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hoà, xảy ra tại Dinh Độc Lập cũ, có tên là Dinh Norodom thời Pháp thuộc.

4.1. Cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960
1). Thành phần tham dự đảo chánh
a). Về phía quân sự
Trung tá Vương Văn Đông tại một buổi họp* Tr/t Nguyễn Triệu Hồng

Người chủ trương cuộc đảo chánh là Trung tá Vương Văn Đông.
Thành phần chủ động trong cuộc đảo chánh bao gồm các nhân vật quân sự và dân sự đã được Trung tá Vương Văn Đông kể lại trong quyển Binh Biến 11/11/1960 như sau:

Bộ chỉ huy quân đảo chánh gồm có:

Trung tá Vương Văn Đông, Trung tá Nguyễn Triệu Hồng - Thiếu tá Trần Văn Đô, (Nhảy Dù) - Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc (ND) - Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, (Phòng 3/TTM) - Thiếu tá Phan Trọng Chinh (Chỉ huy Trưởng BĐQ) - Đại úy Nguyễn Văn Thừa (ND).

Ngoài ra còn có các sĩ quan nắm những đơn vị tham dự: Đại úy Nguyễn Thành Chuẩn, Trung úy Nguyễn Vũ Từ Thức, Đại úy Trần Đình Vy, Đại úy Trương Quang Ân. Đại tá Nguyễn Chánh Thi tham dự vào giờ chót.

Bộ chỉ huy cuộc đảo chánh trước đặt tại vườn Tao Đàn sau dời lại nhà thờ Đức Bà.

b). Về phía dân sự

Những chính khách gồm có các ông: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Bác sĩ Nguyễn Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, võ sư Phạm Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và người cuối cùng là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

4.2. Diễn tiến cuộc đảo chánh 11-11-1960

Lúc 5 giờ sáng ngày 11-11-1960, lực lượng đảo chánh gồm có các đơn vị Nhảy Dù bao vây Dinh Độc Lập, sau khi khống chế và uy hiếp các cơ quan quân sự trọng yếu như căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, đài phát thanh Sài Gòn, Tổng nha Cảnh Sát Quốc gia, doanh trại của Lữ đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống ở Thành Cộng Hòa. Đồng thời họ đặt hầu hết những tướng lãnh trong tình trạng quản thúc tại gia.

Nhiều loạt súng máy bắn vào dinh làm bể cửa kiếng. Tổng thống Diệm suýt chết vì loạt súng máy bắn qua cửa sổ, vào phòng ngủ, đạn ghim vào giường, nhưng thật may mắn, ông đã rời giường ngủ vài phút trước đó.

Đội Phòng vệ Dinh Độc Lập được phòng thủ bởi:
• 1 Đại đội cận vệ khoảng 100 quân nhân, đa số là những võ sĩ những quân nhân thiện xạ, và chuyên viên mìn và chất nổ.
• 2 Một đại đội Bộ binh 150 quân nhân, thay phiên vào mỗi buổi chiều.
• 3 Một Chi đoàn chiến xa thường trực trong Dinh.

Đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống kháng cự mãnh liệt, đã bắn hạ 7 người vượt rào băng qua sân cỏ. Quân đảo chánh ngừng bắn và siết chặt vòng vây.
Lúc 7 giờ 30 sáng, quân tăng cường đã tới, lực lượng đảo chánh mở cuộc tấn công nữa, nhưng đội Phòng Vệ bắn trả quyết liệt.

Lúc 8 giờ, 5 chiếc thiết giáp của quân đảo chánh, đi vòng ra phía sau dinh, bắn vào những trạm gác và pháo kích vào sân dinh.

Đến 10 giờ 30 thì tiếng súng ngừng hẳn. Tổng thống Diệm và ông bà Nhu đã xuống hầm.

Thiếu tướng Nguyễn Khánh

Thiếu tướng Nguyễn Khánh, đang giữ chức Thư Ký Thường Trực Quốc Phòng tại Phủ Tổng thống, khi nghe tiếng súng nổ, trong tình trạng bị giam lỏng, ông tìm cách ra khỏi nhà, đến DĐL bằng xe hơi dân sự, vượt qua rào ở ngõ sau, vào gặp Tổng thống Diệm.
Ở dưới hầm, Tướng Khánh điều động quân đội về giải vây Dinh Độc Lập.

Đến trưa, nhiều nhóm dân chúng tụ tập bên ngoài DĐL, reo hò cổ võ quân đảo chánh và vẩy những biểu ngữ yêu cầu thay đổi chế độ.
Đài phát thanh Sài Gòn công bố là Hội Đồng Cách Mạng đã đảm trách vai trò chính phủ của miền Nam.
Để đối phó, ông Diệm dùng kế hoãn binh, câu giờ bằng cách đề nghị phe đảo chánh đàm phán để thành lập chánh phủ mới.

Tổng thống Diệm cử Nguyễn Khánh làm Tư Lịnh Toàn Quyền, để thương lượng với đảo chánh.

Đến xế chiều ngày 11-11-1960, Tướng Nguyễn Khánh rời DĐL đến gặp cấp chỉ huy đảo chánh để bàn về những yêu sách của họ.

Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi muốn rằng, những sĩ quan và những chính khách đối lập phải được bổ nhiệm vào nội các chính phủ. Đồng thời, yêu cầu Đại tướng Lê Văn Tỵ phải được bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Tổng thống Diệm điện hỏi Tướng Tỵ, đang bị quản thúc tại gia, ông Tỵ không chấp nhận chức Bộ trưởng Quốc Phòng.

Tướng Khánh trở lại DĐL, tường trình những yêu cầu của quân đảo chánh và đề nghị TT Diệm nên chia xẻ quyền hành. Bà Ngô Đình Nhu lớn tiếng phản đối việc đó, khiến cho Tướng Khánh đe dọa rút lui, và ông Diệm buộc bà Nhu phải im tiếng.

Trong khi hai bên ngưng chiến để thương lượng thì các đơn vị trung thành với Tổng thống Diệm có đủ thì giờ điều động quân về tiếp cứu.

4.3. Những đơn vị quân đội về tiếp cứu Dinh Độc Lập

Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh SĐ 5 BB, mang pháo binh từ Biên Hoà về Sài Gòn tăng cường việc bảo vệ Đinh Độc Lập.

Ngày 12-11-1960

Đại tá Huỳnh Văn Cao, TL/SĐ 7 BB đóng ở bên cạnh phi trường Biên Hòa, Đại tá Trần Thiện Khiêm, TL/SĐ 21 mang 7 tiểu đoàn BB từ Cần Thơ, cùng với pháo binh của Trung tá Bùi Dzinh về giải vây DĐL. Thiếu tá Lâm Quang Thơ mang Thiết đoàn 5 TG từ Mỹ Tho về cứu nguy Tổng thống Diệm.

Tướng Khánh cũng thuyết phục tướng Lê Nguyên Khang gởi 2 tiểu đoàn TQLC đến bảo vệ Dinh Độc Lập. Biệt Động Quân ở Tây Ninh cũng về chống đảo chánh.

Tổng thống Diệm yêu cầu Tướng Khánh tiếp tục thương lượng và tiếp tục ngưng bắn.

Sáng ngày 12-11-1960, đài phát thanh Sài Gòn phát đi bản tuyên bố của TT Diệm, hứa hẹn sẽ có bầu cử tự do, công bằng và các biện pháp tự do khác, như chấm dứt kiểm soát báo chí…sẽ hợp tác với Hội Đồng Cách Mạng để thành lập chánh phủ liên hiệp.

Cuộc tấn công trì hoãn 36 tiếng đồng hồ.

4.4. Cuộc đụng độ tại Phú Lâm ngày 12-11-1960

Tại mũi tàu Phú Lâm, là cửa ngõ vào thủ đô từ miền Tây, cuộc giao tranh chớp nhoáng xảy ra nhưng rất khốc liệt với khoản 400 người chết, phần đông là dân chúng tò mò ra đường xem đánh nhau. Quân đảo chánh gồm 1 đại đội của tiểu đoàn 8ND do Đại úy Trương Quang Ân chỉ huy. Đại đội Dù không chống nổi thiết giáp của Thiếu tá Lâm Quang Thơ, 7 tiểu đoàn của Sư đoàn 21 và pháo binh từ miền Tây về giải vây Dinh Độc Lập.

Quân đảo chánh bị đánh tan ở Phú Lâm. Lực lượng cứu viện Tổng thống Diệm tiến về DĐL.

Một số đơn vị Thiết giáp đã vượt qua khỏi vòng vây của quân đảo chánh, bằng cách nói dối rằng họ là quân chống TT Diệm. Các đơn vị Thiết giáp bố trí chung quanh dinh xong, thì quay súng lại tấn công bất ngờ quân đảo chánh. Hai bên “trao đổi hoả lực” cho nhau khoảng vài tiếng đồng hồ, quân đảo chánh yếu thế, rút lui. Cuộc đảo chánh bị dẹp tan.

Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/t Vương Văn Đông, Phạm Văn Liễu cùng một số sĩ quan chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất nhờ Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ giúp đỡ.

Ông Thi nói “Kỳ, chúng tôi đã thất bại, chúng tôi muốn thoát khỏi nơi nầy, bằng không, sẽ bị xử tử.”

Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ cho một chiếc C-47, thế là 15 người lên phi cơ do phi công Phan Phụng Tiên lái. Phe đảo chánh bắt Tư Lịnh Quân Khu Thủ Đô là Trung tướng Thái Quang Hoàng đi theo làm con tin.

DĐL cử 2 chiếc khu trục cơ đuổi theo chiếc C-47. Đến gần biên giới Campuchia thì bắt kịp. Hai phi công gọi về xin chỉ thị. Lúc đó Tướng Khánh nghe bà Nhu đứng bên cạnh lớn tiếng “Bắn rơi nó đi! Giết hết lũ Nhảy dù phản nghịch”. Nguyễn Khánh không đồng ý với bà Nhu, ra lịnh cho 2 khu trục cơ trở về.

Đại úy Phan Lạc Tuyên cũng chạy đến Campuchia bằng đường bộ.

Thái tử Norodom Sihanouk mừng rỡ đón chào tất cả, bởi vì Campuchia và VNCH thù nghịch nhau. Vì Sihanouk đồng ý để cho CSBV xử dụng lãnh thổ của ông, để tấn công VNCH. Hơn nữa, ông Ngô Đình Nhu đã thực hiện kế hoạch lật đổ Sihanouk nhưng bất thành. Lần sau, ông Nhu dùng bom mưu sát Sihanouk cũng không đạt được mục đích.

5*. Nói thêm về tổ chức việc đảo chánh năm 1960

5.1. Việc tổ chức

Kế hoạch do Trung tá Vương Văn Đông chủ trương và tổ chức, với sự tham gia của Trung tá Nguyễn Triệu Hồng (Anh vợ của Tr/t Đông), Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Th/t Phạm Văn Liễu, Th/t Nguyễn Kiên Hùng, Đại úy Phan Lạc Tuyên, Đ/u Nguyễn Tiến Lộc, Đ/u Nguyễn Thành Chuẩn và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tham gia đảo chánh.

Kế hoạch chuẩn bị một năm. Tr/t Đông đã móc nối được một trung đoàn Thiết giáp, một đơn vị Hải quân, 3 tiểu đoàn Dù, một số đơn vị TQLC và Pháo binh.

Nói thêm về vai trò của Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Chánh Thi là một trong những người bị giam lỏng, gồm có Đại tướng Lê Văn Tỵ, Trung tướng Thái Quang Hoàng, Tư Lịnh Quân khu Thủ Đô, Thiếu tướng Nguyễn Xuân Chiểu, Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lịnh Không Quân…

Vì thấy cần ông Thi, nên Trung tá Vương Văn Đông và 5 sĩ quan trong ban chỉ huy đảo chánh, đến nhà ông Thi, yêu cầu ông tham gia, nhưng ông từ chối. Trước áp lực và sự cương quyết của 6 sĩ quan đảo chánh, ông Thi miễn cưỡng tham gia. Vương Văn Đông giao cho ông hai nhiệm vụ: Một là yêu cầu liên binh phòng vệ trong Dinh Độc Lập buông súng đầu hàng. Hai là yêu cầu Trung tá Lê Quang Tung rút lui các đơn vị đặc biệt đang hoạt động phía sau quân đảo chánh.

Trung tá Đông đến gặp Luật sư Thụy, nhờ viết một bản Tuyên ngôn của Hội Đồng Cách Mạng và một bản Hiệu triệu quân nhân các cấp. Do bận rộn công việc nên hai bản văn lọt vào tay Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Ông Thi tự động lên đài phát thanh đọc hai bản văn, và tự nhận là Tổng Tư Lịnh Quân đội của Hội Đồng Cách Mạng.

5.2. Lý do thất bại

1). Lực lượng quân đảo chánh rất yếu
a). Mất yếu tố “bất ngờ”

Theo kế hoạch đánh chiếm Dinh Độc Lập, là dùng yếu tố bất ngờ. Mũi nhọn của lực lượng đảo chánh là Trung đoàn Thiết giáp. Theo kế hoạch thì thiết giáp ủi sập cổng và hàng rào của dinh, vào trong đánh với thiết giáp phòng thủ dinh. Quân Dù làm đơn vị tùng thiết, tức là núp sau lưng thiết giáp để tràn vào bắt sống Ngô Đình Diệm, theo như kế hoạch đã định. Nhưng vào giờ chót, khi quân dù nổ súng thì không có Trung đoàn thiết giáp, nên không thể vào bên trong của dinh được.

Lý do là Thiếu tá Hinh, Chỉ huy phó binh chủng Thiết giáp, thay đổi ý kiến, không tham gia cuộc đảo chánh và đưa gia đình ra khỏi nhà, chạy trốn.

Theo kế hoạch thì Tiểu đoàn 3 TQLC tham gia tấn công DĐL, nhưng vào giờ chót, vì Đại úy Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Kiên Hùng, tinh thần dao động, không kiểm soát được tiểu đoàn, nên Tiểu đoàn phó là Đại úy Bằng, một đảng viên Cần Lao của ông Nhu, đưa quân thân tín bắt giữ Đại úy Nguyễn Kiên Hùng và đem tiểu đoàn theo quân chống đảo chánh.

b). Lực lượng quân đảo chánh quá yếu.

Lực lượng quân đảo chánh chủ yếu là ba tiểu đoàn Dù, do các sĩ quan cấp thấp, từ thiếu tá đến đại úy chỉ huy. Lực lượng yếu mà phải dàn trải ra trên một địa bàn quá lớn. Các đơn vị chiếm Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Nha Cảnh Sát QG, Nha Cảnh sát Đô thành, Bộ Quốc Phòng, Nha An Ninh Quân Đội và Sở Mật Vụ.

Một đơn vị Dù đánh chiếm thành Cộng Hòa để khống chế Lữ đoàn Liên Binh Phòng vệ Phủ Tổng Thống. Chiếm đài phát thanh, chiếm Bộ chỉ huy Không Quân ở Tân Sơn Nhất, đóng quân ở cầu Bình Lợi để chống quân từ Biên Hòa và Bình Dương về bảo vệ Dinh Độc Lập. Một đại đội quân Dù đóng ở mũi tàu Phú Lâm để ngăn chặn quân tiếp viện từ miền Tây. Một số quân canh giữ nhà của các tướng lãnh để giam lỏng họ. Một đơn vị chiếm Bưu điện Sài Gòn để cắt hệ thống điện thoại.

2). Không cắt được đường dây điện thoại của Phủ Tổng thống.

Theo tường thuật của nhà báo Stanley Karnow, người được giải Pulitzer Prize, tác giả cuốn “Vietnam: A History”, thì nguyên nhân thất bại là không cắt được đường dây liên lạc từ DĐL đến các bộ chỉ huy quân sự trong nước, cho nên Tổng thống Diệm đã gọi các đơn vị về giải cứu. Vì thế, không giữ được các nút chận vào Sài Gòn.

Tuy nhiên, vai trò của thiết giáp rất quan trọng. Nếu có thiết giáp thì quân đảo chánh có thể dùng yếu tố bất ngờ, tốc chiến tốc thắng. tràn vào chiếm DĐL.

5.3. Toà án xét xử

Mãi đến 2 năm sau, ngày 8-7-1963, Toà án Quân sự Đặc Biệt xét xử những người dính líu đến cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960, giữa lúc có vụ khủng hoảng Phật Giáo. Có lẽ TT Diệm muốn cảnh cáo dằn mặt những người có ý định đảo chánh.

19 sĩ quan và 34 thường dân bị kết án.
7 sĩ quan và 2 dân sự đào thoát sang Campuchia bị kết án tử hình khiếm diện.
5 sĩ quan được tha bổng.

Những người còn lại bị kết án từ 5 năm đến 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử, không đến tòa án.

Sau đó không lâu, Cuộc Cách Mạng ngày 1-11-1963, Đệ Nhất Cộng Hoà bị sụp đổ, những người bị tù được thả ra, và những người ở Campuchia trở về nước phục vụ lại trong quân đội VNCH.

Lần đầu tiên, DĐL “chứng kiến” cuộc binh biến, đánh dấu sự xáo trộn, mở màng cho những cuộc đảo chánh làm suy yếu VNCH trên mặt trận chống Cộng sau nầy.

6*. Vụ ném bom Dinh Độc Lập năm 1962

Lúc 7 giờ sáng ngày 27-2-1962, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc phi cơ ném bom A-1 Skyraider. Bom nổ, bom xăng đặc (Napalm), rocket và đại liên trút vào dinh tổng thống. (dinh cũ)

Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc
Dinh Độc Lập cũ bị ném bom * Bà Nhu trên đống gạch vụng

Trong 30 phút, 4 trái bom, 8 rocket và đạn đại liên đánh vào mục tiêu, phá sập bên cánh trái của DĐL. Hai phi công là Thiếu úy Nguyễn Văn Cử và Trung úy Phạm Phú Quốc, thuộc Phi đoàn 514 của căn cứ Không Quân Biên Hoà.

Phi cơ của Phạm Phú Quốc bị trúng 72 viên đạn 12 ly 7, trong đó, một viên trúng bình xăng nên phi cơ phát cháy và rơi xuống sông Sài Gòn. Phạm Phú Quốc bị toán Người Nhái Hải quân đến bắt. Nguyễn Văn Cử bay sang Campuchia.

Nguyễn Văn Cử là người chủ mưu vì cha của Cử là ông Nguyễn Văn Lực, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị bắt giam vì hành động chống chính quyền của TT Diệm. Phạm Phú Quốc, người Điện Bàn, Quảng Nam, là người bị Cử lôi cuốn.

Sau khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, Cử về nước, tiếp tục phục vụ trong Không quân.

Năm 1965, Trung tá Phạm Phú Quốc bị tử trận khi bay từ Đà Nẵng, vượt vĩ tuyến 17 ra đánh phá đường giao thông Hà Tĩnh.
Năm 1977, hài cốt của ông được người chị là Phạm Thị Xuân Cơ cải táng ở chùa Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam.

Dinh Độc Lập bị đánh phá lần thứ hai, thiệt hại nặng, nên phải đập phá và xây lại dinh mới theo đồ án thiết kế của KTS Ngô Viết Thụ.

7*. Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập

7.1. Ném bom
Nguyễn Thành Trung (Đội mũ bay) trong đám nón cối

Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 8-4-1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung, từ Không đoàn 540 ở Biên Hoà, bay về Sài Gòn ném bom Dinh Độc Lập. Phi cơ F-5E mang 4 trái bom 500 cân Anh và trang bị đại liên 20 ly. Lần đầu ném 2 quả nhưng không trúng đích, quay lại, ném lần thứ hai, 2 quả trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ. Thiệt hại không đáng kể.
Nguyễn Thành Trung là Việt Cộng nằm vùng, sau khi ném bom, bay ra đáp xuống phi trường Phước Long do CSBV chiếm giữ.

7.2. Nguyễn Thành Trung không được tin dùng

Sau năm 1975, Nguyễn Thành Trung không được VC tin dùng, phải “ngồi chơi xơi nước” cho mãi tới năm 1980 mới được giao nhiêm vụ, kiểm tra, đắp vá và sửa chữa những chiếc phi cơ của VNCH bỏ lại. Đó là những phi cơ bị “thương tích” đủ loại, nội thương, ngoại thương, trầy vi tróc vảy, bị văng miểng do pháo kích, bị trúng đạn phòng không VC trên các mặt trận, nói chung là loại phi cơ “thương phế binh” bất khiển dụng.

Ở các công ty sản xuất phi cơ Hoa Kỳ, người ta kiểm tra máy móc bằng các dụng cụ điện tử, nhưng ở Hà Nội lúc đó, kiểm tra bằng mắt thường và sửa chữa bằng tay. Chỉ một vết thủng nhỏ cũng đủ làm rớt máy bay, vì tốc độ phản lực tạo ra sự ma sát cao độ bởi không khí, cho nên, vết thương bị lở loét tầy quầy ra đưa đến cháy nổ.

Sửa chữa xong thì phải bay thử. Mỗi lần bay thử như thế người lái xem như đưa tánh mạng của mình ra làm cá độ với may rủi, đùa giỡn với tử thần, giống như chỉ mành treo chuông vậy. Ngoài cái nguy hiểm đe dọa, tinh thần và danh dự bị tổn thương, vì Nguyễn Thành Trung đã từng vẫy vùng lướt gió, làm chủ bầu trời, nhưng bấy giờ chỉ được phép bay chung quanh phi trường trong 4 vòng rồi phải xuống đất ngay. Khổ tâm là ở chỗ Đảng không còn tin dùng người chiến sĩ cách mạng nằm vùng nầy.

Một lần phản bội, biết đâu?…

8*. Cửa Dinh Độc Lập bị xe tăng Việt Cộng húc sập

8.1. Xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước nhất?


Lúc 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng CSBV đã húc sập cánh cửa của dinh, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Vì sự tranh giành công trận, cho nên có nhiều tranh cãi xảy ra không dứt sau đó.
Chiếc xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước nhất để húc sập cửa Dinh Độc Lập?
Ai là người treo cờ của Mặt Trận Giải phóng ở DĐL?
Ai tiếp nhận sự đầu hàng của TT Dương Văn Minh?

Báo chí trong nước ghi nhận chiếc xe tăng số 843 với thủ trưởng Bùi Quang Thận vào sân dinh đầu tiên.
Theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon viết năm 1984, ghi lại lời tường thuật của Neil Davis, một người Úc biết tiếng Việt, làm việc cho đài truyền hình NBC, đã có mặt tại
DĐL trong lúc đó, thì chiếc xe tăng vào DĐL đầu tiên mang số 844.
Còn Oliver Todd thì ghi là chiếc xe tăng số 879 do Bùi Đức Mai lái đã ủi sập cánh cửa và vào trong sân trước nhất.

8.2. Ai nói?

Bùi Văn Tùng nói với Ông Dương Văn Minh “Các ông không còn gì để bàn giao. Ông chỉ có thể đầu hàng vô điều kiện…”

Trong cuốn Tears Before the Rain, xuất bản năm 1990, tác giả Larry Engelmann đã phỏng vấn Đại tá Bùi Tín, ông Tín nói ông là người gặp TT Dương Văn Minh và nói “Không có vấn đề bàn giao quyền hành. Quyền hành của ông đã sụp đổ. Ông không còn gì trong tay để bàn giao. Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có” (Larry Engelman)

9*. Kết luận

Dinh Độc Lập là “nhân chứng” của những sự kiện lịch sử Việt Nam. Bắt đầu là việc hai sĩ quan Không quân ném bom làm đổ nát, nên Tổng thống Ngô Đình Diệm cho xây lại nơi cư ngụ và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.

Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ, đã xây dựng một công trình nổi tiếng là Dinh Độc Lập mới.

Dinh Độc Lập cũng còn ghi lại dấu vết lịch sử của cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960.

Nhưng sự kiện đau thương nhất của người dân miền Nam là Dinh Độc Lập đã mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt vào ngày 30-4-1975.

Dinh Độc Lập mất. Nước Việt Nam Cộng Hoà mất, và người dân miền Nam mất tất cả. Đổi tiền, Kinh tế mới, Trại tù cải tạo, đã làm mất hết tiền bạc, nhà cửa và mất tự do. Một cuộc đổi đời thực sự bắt đầu. Trước hết là Tư bản “mại sản”, “ Mại sản” nghĩa là đem bán hết những gì có thể bán được, chỉ để lấy miếng ăn. Bán hết, thì xếp hàng mua gạo và ăn bo bo dài dài.

Tháng tư năm 1975 là ngày tháng không bao giờ quên được, đối với những người còn trí nhớ.

Trúc Giang MN
Minnesota ngày 23-9-2021

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2021

Hành Trình Đến Thi Văn Của Cô Bé Quê Xứ Long Hồ - Trúc Giang

 
https://lethikimoanh9.blogspot.com/
1*. Mở bài

Tình cờ vào được trang web Lê Thị Kim Oanh, vô cùng ngạc nhiên, tôi thấy mình như lạc vào mê hồn trận. Hấp dẫn, lôi cuốn, đọc mãi không chán.

Hàng trăm bài thơ dàn trải qua những mục như: Cổ Thi, Thơ Ảnh, Thơ Ba Má, Thơ Cảm Tác, Thơ Dịch, Thơ Diễn Ngâm, Thơ Lính, Thơ Mùa Đông, Thơ Mùa Hạ, Thơ Mùa Lễ, Thơ Mùa Xuân,Thơ Tình, Thơ Phổ Nhạc, Thơ Tranh, Thơ Xướng Họa. Văn, với trên 60 chuyện ngắn.

Nghệ thuật diễn đạt đầy ấn tượng, cách dùng chữ rất tài tình.

Chưa thấy có một nhà thơ nào dùng ý thơ bao trùm lên mọi sinh hoạt cuộc sống, mọi khung cảnh chung quanh cuộc đời, và mọi quan hệ xã hội, như Kim Oanh cả.
Trong gia đình, lời thơ nêu bật lòng hiếu thảo đối với đấng sinh thành. Ở trường học ý thơ của Kim Oanh thể hiện người học sinh đạo đức về hạnh kiểm, gương mẫu về học hành.
Là công dân tốt, lời và ý thơ tha thiết nặng tình với quê hương, dân tộc.

Chị luôn luôn tỏ lòng biết ơn cha mẹ, thầy cô giáo, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, và đối với người Úc, nước Úc (Australia) đã mở rộng vòng tay nhân ái, đón nhận và cưu mang những người Việt Nam mất quê hương, xứ sở. Và cũng tỏ lòng biết ơn đối với những thiên thần áo trắng, là bác sĩ và y tá, đã và đang đương đầu với nguy hiểm, nổ lực cứu người trong đại dịch Covid-19.
Có thể nói thơ của Kim Oanh là một gương mẫu về đạo đức, là truyền thống của dân tộc Việt Nam. “Văn dĩ tải đạo”, là nhà thơ dùng văn chương để nói lên đạo lý.

Nhà thơ nữ Kim Oanh là thành viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. (Vietnamese Abroad Pen Centre), trực thuộc Văn Bút Quốc Tế. (International PEN. PEN=Poets, Essayists and Novelists). Mà thơ chị cũng góp mặt trên văn đàn của tổ chức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Hoa Kỳ. (VBVNHNVĐBHK)

2*. Hành trình thi văn xuất sắc của cô bé quê xứ Long Hồ.


Tiểu sử

Học Sinh Trường Tiểu Học Trung Ngãi, Quận Vũng Liêm, Trường Tiểu Học Long Hồ, Vĩnh Long. Trường Trung Học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long. Niên khóa (1969-1976)
Năm 1979 vượt biển đến trại tị nạn Cherating, Mã Lai. Hiện định cư tại Melbourne, Úc Châu.

Kim Oanh không phải là người thành thị, vì thơ của chị thường mang cái khung cảnh như: vườn trăng, cầu tre, dòng sông cũ, con chim chìa vôi, rặng trâm bầu, cánh đồng thả diều, con sông nước lớn, nước ròng, lục bình trôi, lũy tre, đường làng, tàu dừa, cánh đồng lúa…

Thật sự chị ở xứ Long Hồ, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Lời văn mộc mạc của người dân quê miền Nam. Dòng thơ trải dài theo ngày tháng trưởng thành của chị. Từ gia đình đến trường học, đến tuổi chập chững vào đời chớm nở nụ tình yêu, đến trưởng thành.

Có thể nói: “Hành trình đến thi ca độc đáo của cô bé quê xứ Long Hồ”.

3*. Thơ Ba Má


Trong gia đình, Kim Oanh là người con hiếu thảo. Dù hoàn cảnh nào chị cũng thương nhớ về cha mẹ, lúc còn sống cũng như khi đã về nước Chúa.

Mừng Ngày Nhớ Ơn Má 2021!
Happy Mother's Day 2021!

Má thương yêu ơi!
Những cánh hoa tha thiết yêu thương, từ hai đứa con của con tặng Mừng Ngày Nhớ Ơn Mẹ.
Con kính dâng lên Má với tất cả ấm nồng và hạnh phúc của con. Để Mừng Ngày Nhớ Ơn Má
Con cùng hai cháu mong, nơi Thiên Đường Ba Má cũng thật vui và hạnh phúc như con nha Ba Má.
Happy Mother's Day 2021!
Con gái của Ba Má
Kim Oanh
 
Một Cành Mai Kính Dâng Ba Má
Melbourne Xuân đến rực màu hoa
Một đóa Mai tươi trổ cạnh nhà
Kính tặng Má Ba vui đón Tết
Gom thương yêu đến tận trời xa....

Ba Má bình yên nơi Nước Trời
Vẹn tình vẹn nghĩa chẳng hề vơi
Hương đưa nhờ gió Xuân ngày mới
Hạnh phúc thật nhiều Ba Má ơi!
Kim Oanh (12-2-2021)

Từ ngữ tuyệt vời với chữ “Ơi”. Má thương yêu ơi!, Hạnh phúc thật nhiều Ba Má ơi!. Chữ “Ơi” diễn tả sự thương mến chân thành, gần gũi, như tiếng gọi thân thương nhấn mạnh trong gia đình, rất tự nhiên của người miền Nam, nhất là trong giới bình dân ở nông thôn.

Kim Oanh tâm sự với Ba.

Dù đi bất cứ đâu, hoàn cảnh nào. Ba vẫn luôn luôn cứng cõi, chịu đựng, đùm bọc, chở che cho những đứa con mỏng manh yếu đưối, giúp sức cho các con vươn lên trong cuộc sống, sống vui, sống đẹp, tính tình giản dị, đơn sơ hòa mình với mọi người trong xã hội.
Con hy vọng nơi Thiên Đàng ba má mỉm cười hạnh phúc, nhưng ba ơi xin hãy tiếp tục giúp sức cho chúng con giữ vững ý chí và niềm tin như Nhụy và Hoa “nha” ba má của con.
Thương yêu con gửi về Ba Má trong ngày kỷ niệm Giỗ 23 năm của Ba!
Kim Oanh (30/10/1997-30/10/2020)

Ngay trong giấc ngủ cũng mơ về hình bóng má ba. Trong bài “Mơ Bóng Má Ba”, Kim Oanh ghi lại:
 
Yêu quá Má Ba sầu chất ngất
Trùng trùng nỗi nhớ vượt non đồi
Muốn kéo thời gian nhưng chẳng thể
Ngậm ngùi thui thủi khóc mà thôi
Con bơ vơ lạc giữa ngã đường

Giật mình nước mắt chực tuôn trào
Kinh nguyện đèn trời lấp lánh sao
Nước Chúa Song Thân ân phước hưởng
Hương yêu hạnh phúc mãi ngọt ngào!
Kim Oanh (Tháng 4/2021)

Hướng về phần mộ Mẹ Cha
Côn trùng tấu khúc .. lệ sa nhạt nhoà
Bao giờ hết những can qua
Để người viễn xứ phương xa trở về.

4*. Tình thầy trò

Người học trò gương mẫu

Dưới mái trường trung học Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, Kim Oanh là một học sinh ngoan, hạnh kiểm tốt, học giỏi, giỏi nhất là môn Việt Văn, đó là bước đầu đưa chị tới thơ văn.
Nhà trường đầy ấp những kỷ niệm mộng mơ của một thời áo trắng. Tình thầy trò được Kim Oanh ghi lại như những lời cám ơn chân thành.

Trước kia nhiều thầy cô giáo than phiền nghề giáo là nghề bạc bẽo. Là những người đã đem tâm huyết và lương tâm nghề nghiệp góp phần vào việc đào tạo công danh và sự nghiệp cho từng thế hệ. Ví như người lái đò trên bến sông, vượt sóng nước, đưa người đi tìm tương lai xán lạn (Từ gốc Hán). Nhiều nhà giáo kết thúc cuộc đời bởi bịnh lao phổi.
Thế nhưng, khi đã công thành, danh toại, có địa vị trong xã hội, nhưng ít có học trò trở lại bến đò xưa, tìm gặp thầy giáo cũ để thăm thầy, và nói đôi lời bày tỏ lòng biết ơn.

Theo tập tục và văn hóa xưa, thầy giáo chiếm địa vị thứ hai sau các bậc vua chúa. “Quân, Sư, Phụ”. Gia đình rất tôn trọng thầy, cô giáo của con mình. “Không thầy đố mầy làm nên”.
"Muốn sang phải bắt cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy".

Nữ sinh Kim Oanh thì khác, chị đã có nhiều bài thơ nói lên tình nghĩa thầy trò dưới mái trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long. Năm 2014, dù định cư ở Úc, chị cũng nhớ về bến đò xưa qua bài thơ “Thầy, Chuyến Đò Xưa” tỏ lòng nhớ công ơn của thầy dạy môn toán, thể hiện bằng mấy câu thơ:
Khắc tên nỗi nhớ lên tường.
Thầy Huỳnh Hữu Trí, chẳng dường phôi phai


( Kính Thầy Huỳnh Hữu Trí )
 
Chuyến đò chở khách sang sông
Đò Thầy chở những đóa hồng học sinh
Nụ cười sóng nước lung linh
Bao mùa mưa nắng đậm tình nghĩa xưa

Mặc bao gió táp sa mưa
Vượt gian nan vẫn đón đưa xuôi dòng
Mỏi mòn sức lực xa trông
Hỡi người xa bến có mong ngày về

Tình Thầy chân chất hồn quê
Con số, công thức, say mê giảng bài
Tiếng Thầy êm ái khoan thai
Trong em xếp chữ ... thương hoài đời sau

Bến xưa nắng đã phai màu
Đò Thầy vẫn mãi ngạt ngào đưa hương
Khắc tên nỗi nhớ lên tường..
Thầy Huỳnh Hữu Trí, chẳng dường phôi phai.
Học trò kính yêu mãi mãi!...!!
Lê Thị Kim Oanh (5-10-2014)
(Niên khoá 1969-1976)

Tiễn Đưa Thầy Võ Văn Vạn

Chiều nay đã xa thật rồi
Không còn nét bút bồi hồi mộng mơ.
Long Hồ héo hắt tình thơ,
Vườn Thơ Thẩn úa chơ vơ vắng thầy.
Học trò nhỏ giọt lệ cay
Tiễn đưa thầy chốn tuyền đài tịnh yên.
Vĩnh Hằng hạnh phúc cõi riêng
Thầy vui an hưởng lụy phiền xóa tan.
Kim Oanh (24-4-2021)

Đọc Thơ Nhớ Thầy

(Tiếc thương thầy Chân Diện Mục vĩnh viễn ra đi)

Thôi thế từ nay hết nhận bài
Thầy đâu còn viết để chuyền tay
Bao năm cặm cụi gom thơ, chuyện
Gởi đến khắp nơi để tỏ bày

Từng câu từng chữ rất thâm sâu
Nhắn nhủ bao điều thế hệ sau
Vĩnh viễn tiễn Thầy về Tiên Cảnh
Vườn Thơ Thẩn biệt nổi niềm đau.
Kim Oanh

Nhớ lại một thời áo trắng thơ ngây, Kim Oanh ghi lại:

Trường xưa áo trắng thơ ngây
Tung tăng đùa giỡn lòng đầy mộng mơ.
Học trò tình đẹp như thơ
Bao mùa mưa nắng dệt tơ tuổi hồng.
Kim Oanh

Kim Oanh không chỉ ghi nhớ những thầy cô giáo trực tiếp dạy dỗ mình, mà tình thầy trò bao la phủ lên tất cả những thầy cô giáo của Tống Phước Hiệp Vĩnh Long, nhất là hiệu trưởng Đào Khánh Thọ.

Sau đây là những tâm tình trong “Lời cuối” của những thầy cô giáo:

a). Thầy hiệu trưởng Đào Khánh Thọ.
 
“Sáng nay, em nhận được hung tin Thầy Đào Khánh Thọ - Pháp Danh Tuệ Khánh đã miên viễn ra đi ngày 20/4/2013 về bên kia Cõi Phật. Hưởng thọ 77 tuổi.
Em buồn lắm. Hình ảnh của vị Hiệu trưởng khả kính sẽ luôn in đậm trong tâm trí của đứa học trò Tống Phước Hiệp.
Em kính nguyện cầu cho Hương Linh Thầy Đào Khánh Thọ được an nghỉ và sớm về cõi Niết Bàn.

Thành Kính
Học trò Lê Thị Kim Oanh
Niên khóa 1969-1976.

b). Tưởng nhớ cô Trần Thị Mỹ Trang
 
Em chưa bao giờ học với cô một giờ nào, nhưng cô đã để lại trong em những nét khó quên.
Nụ cười cô rạng rỡ, ánh mắt thiết tha, mái tóc chấm vai quớt ra, cài chiếc kẹp hoa mai
Dáng cô đài các trong những chiếc áo dài hoa to, màu nổi bật. Đấy là hình ảnh của cô Trần Thị Mỹ Trang dạy môn Vạn vật.
Cô là thần tượng không chỉ riêng em mà là của các nam sinh nữa kia.
Một ngày tin từ phương xa mang đến, ngày 1/3/2007 cô đã ra đi.
Nguyện cầu, xin cô an nghỉ, một giấc ngủ êm đềm, như tình cô cũng êm đềm thắm sâu vào lòng của mỗi chúng em cô nhé!

Kính Cô!
Học trò của cô
Kim Oanh
Úc Châu 1/3/2007

c). Lời cho thầy Châu Văn Kiêm

Thầy rất khả kính, lời nói nhẹ nhàng, tính tình vui vẻ. Nhìn Thầy như phản ảnh của một tấm gương trong sáng.
Dáng dấp thanh cao, đeo kính cận, mặc áo sơ mi trắng. Đấy là hình ảnh của thầy Châu Văn Kiêm còn ghi lại trong trí của em, khi lần đầu thầy bước chân vào lớp Đệ Lục, dạy Pháp Văn.
Em đã rơi nước mắt viết thêm lời tiễn đưa thầy ra đi. Em xin kính lời chia buồn đến gia đình thầy và cầu nguyện hương linh Thầy an lạc và sớm về cõi vĩnh hằng.
Lê Thị Kim Oanh * Úc Châu 19/6/ 2007


Trở về trường xoáy rơi vào cơn lốc
Trên vôi tường rêu mốc bám xanh xao,
Hàng Phượng xưa đang rỉ máu hận trào
Rơi vung vãi trên vai người năm cũ.
Giờ ra chơi ủ rủ áo ngà phai
Gió gục đầu tóc chết lịm đôi vai
Lười tung nhảy vờn lay trong nắng sớm
Mắt chợt hằn rươm rướm nét mi cay.
Bước chân âm thầm trên hành lang vắng
Bảng đen nào cay đắng phủ phấn tang
Bàn ghế xiêu che giấu nỗi hoang tàn?
Dung nhan lớp ngỡ ngàng phai tuổi ngọc
Kim Oanh (2-5-2021)

Tống Phước Hiệp - Trước 75 Sau 75


    (Tống Phước Hiệp trước 1975)                      (Sau 1975)

Tâm sự của Kim Oanh khi về thăm lại trường xưa, trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long.

Tuổi ngọc là tuổi ngây thơ quý như ngọc, như ngà vì chưa lấm bụi trần. Là thời kỳ rất đẹp của một thời áo trắng dưới mái trường. Đã vào lớp 6 mà còn buộc áo dài sau lưng chạy chơi 5 mười, trốn kiếm…

Trở về mái trường xưa, nhìn cảnh vật để hồi tưởng, mang ký ức về những kỷ niệm của một thời tươi đẹp xa xưa. Thế nhưng "Cảnh đấy người đây luống đoạn trường" Tường vôi bám rêu xanh. Hành lang vắng vẻ, tiêu điều…

Sau năm 1975, Tống Phước Hiệp chỉ còn là một cảnh điêu tàn. Phấn trắng bảng đen là sinh hoạt chính của nhà trường, của lớp học, là gạch nối gắn liền giữa học trò với sách vở, với thầy cô giáo thân yêu…Giờ đây, phấn trắng dường như màu khăn tang về cái chết của tên trường Tống Phước Hiệp.

"Bảng đen nào cay đắng phủ phấn tang
Trường cũ thân yêu giờ mất dấu
Ve sầu thương tiếc ngậm ngùi vang...”

Thơ của Kim Oanh không những nêu bật lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, mà còn thương kính, biết ơn thầy cô giáo, thương mến cả cái nôi ấp ủ sự trưởng thành của những thế hệ học sinh Vĩnh Long. Trường Tống Phước Hiệp.
Tóm lại, Kim Oanh đã thực hiện đúng phương châm Tôn Sư Trọng Đạo, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Dùng phép nhân cách hóa thật tài tình. Ve sầu biết “thương tiếc” với tiếng kêu ngậm ngùi. “Gió gục đầu”, “tóc chết” lịm trên đôi bờ vai.

5*. Tình yêu lứa đôi

Tâm trạng buồn, nhớ thương trong ngăn cách
Cuộc tình của cô học trò một thời áo trắng Vĩnh Long, có một cái gì ngăn cách, đưa đến tình trạng buồn, nhớ thương vì xa nhau, trông ngóng, đợi chờ. Ngay cả trong giấc mộng cũng nhớ cảnh vườn trăng hai đứa yêu nhau.

Trong bài thơ “Melbourne Cuối Đông” có những câu:

Hiu hắt hàng cây trơ trụi lá
Một mình lặng lẽ chỉ hoài trông
Yarra con nước lửng lờ trôi
Có thấu tình riêng những ngậm ngùi
Cảnh vật lặng im lòng dậy sóng
Nhớ người biết đến thuở nào nguôi.
Kim Oanh. Đông Melbourne 2020

Trong thơ, Kim Oanh thường nhắc đến hai chữ “Vườn trăng” là cảnh rất thơ mộng. Ở đó hai người yêu nhau, vai bên vai, ngỏ lời yêu thương được xem như những lời thề thốt, với hy vọng cùng sống hạnh phúc bên nhau suốt đời.
Nhưng mộng ước không thành, phải xa nhau vì vận nước đảo điên, chiến tranh bùng nổ. Rồi thương, rồi nhớ.
Cảnh xa nhau thương nhớ được mọi người biết đến qua bài thơ của thi sĩ thời nhà Đường bên Trung Hoa. 

Bài thơ Sông Tương.

Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy
Mộng hồn phi bất đáo
Sở khiếm duy nhất tử.

Dịch nghĩa.

Chàng ở đầu sông Tương. Thiếp ở cuối sông Tương. Tương tư không gặp mặt. Cùng uống nước sông Tương. Hồn mơ bay chẳng tới. Chỉ thiếu một điều chết.
Bài hát “Ai về sông Tương” của Thông Đạt, một bút danh khác của nhạc sĩ Văn Giảng. Lời ca:

“Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương.
Tháng với ngày mờ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương”.

NHỚ

Nhớ! Cớ vì sao phải nhớ nhiều
Vờ trách ai nói mãi tiếng yêu
Thế đây ngơ ngẩn lòng xao động
Vắng tiếng cười trời cũng buồn thiu
Nhớ! Nhớ những điều phút xa nhau
Lưu luyến vườn trăng thuở ban đầu
Nhớ! Quái lạ cuồng quay ai hiểu
Đất trời đảo lộn…thế là yêu.
Kim Oanh

Nhận xét bài thơ “NHỚ”

Kim Oanh định nghĩa tình yêu qua bài thơ “Nhớ”.

Tình yêu bắt đầu bằng chữ NHỚ. Đôi khi Kim Oanh tự hỏi vì sao phải Nhớ?. Hối tiếc, vì đã có lúc trách người cứ nói mãi tiếng Yêu. Nghĩ lại, thì thực tế là lòng đã xao động, ngẩn ngơ.

Nhớ. Thương. Buồn. Làm tắt tiếng cười, khiến cho cảnh vật ủ rũ cho đến nổi ông trời cũng buồn thiu. Cuối bài thơ, kết luận, định nghĩa hai chữ tình yêu. Bài thơ có năm chữ “Nhớ” nhấn mạnh sự nhớ thương. Có thương yêu mới nhớ. Càng mong nhớ lại càng thương yêu. Thương yêu đến nổi trời nghiêng đất lở.
“Trời đất đảo lộn… thế là yêu”.

Trong bài Nhớ trên có câu: “Lưu luyến vườn trăng thuở ban đầu” . Vườn trăng xưa có hai mái đầu tràn ngập tình yêu đầu đời, nhưng ngày nay chỉ còn một bóng đơn côi tràn ngập nổi buồn. Bài thơ “Lặng Lẽ” ghi lại tâm trạng của cô đơn như sau:

Hiu hắt vườn trăng một bóng côi
Sầu dâng loang tím hắt hiu đời.

Mãi Còn Thương

Bên song héo hắt lạnh hơi sương
Quạnh vắng mênh mông lặng lẽ buồn
Tiễn biệt người đi hồn mộng tưởng
Vấn vương kẻ ở dạ hoài vương
Từng đêm ôm bóng hương mùi nhớ
Mỗi khắc mơ hình… ảo ảnh suông
Dẫu biết gặp nhau lòng rất ngượng
Nhưng tim in mãi dáng người thương.
Kim Oanh*Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2021

Nhận xét bài Mãi Còn Thương

Khung cảnh: Bên song cửa vắng vẻ, lạnh hơi sương.
Câu chuyện: Tiễn biệt người yêu ra đi mà hồn kẻ ở lại mãi còn vương vấn.
Tâm trạng kẻ ở lại: Từng đêm, từng khắc hình ảnh người đi tràn ngập bóng hương mùi nhớ. Có một cái gì đó bất ổn?” Dẫu biết gặp nhau lòng rất ngượng”.
Nhưng bóng dáng người thương đã ra đi, vẫn mãi mãi trong tim người ở lại.
Bài thơ nêu bật nổi niềm thương nhớ một chiều của Kim Oanh.
Không biết người ra đi khi tiễn biệt, có mang theo dư âm của cuộc tình hay không?.

Nhắc lại những kỷ niệm

Ký ức in sâu tháng ngày xưa
Hình ảnh hai đứa đục mưa chung mái
Anh ngu ngơ còn em khờ dại
Hứng nước tay chạm phải tay không gỡ
Để ra về chẳng nỡ cứ mộng mơ
Cũng từ ấy vờ nủng nịu giận hờn
Anh nâng niu lau khô đôi mắt ngọc
Ghét anh ghê chọc chi người ta khóc
Rồi ví giọt lệ tình làm mực viết thành thơ
Bài thơ không đoạn kết buồn muôn thuở.
*
“Người đi một nửa hồn tôi chết
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ” (Hàn Mặc Tử)

“Bài thơ anh viết tặng người
Nửa đời vương vấn, nửa đời tương tư
Nửa nào chất chứa tâm thư
Nửa nào che phủ sương mù chưa tan” (Kim Oanh)

6*. Thơ lính

Tình lính, thơ lính và muôn đời ghi ơn người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

6.1. Tình lính

Tình yêu đầu đời của cô học trò áo trắng trường Tống Phước Hiệp, như nụ hoa chớm nở với anh lính. Áo trắng “bối rối”, áo xanh rừng “bồi hồi”. Anh lính bồi hồi, cô bé bối rối, thật là một cặp đôi rất dễ thương. Không phải là những kẻ lịch lãm trong tình trường. Rõ ràng là “màu trắng đẹp tinh khôi”.

“ Lần về phép anh bồi hồi đứng đón
Tan trường…em bối rối bước song đôi
Anh khoác áo xanh rừng ôm hy vọng
Mộng đầu đời ngát ý…ướp hương môi”

Áo trắng ngây thơ vụng dại, bỡ ngỡ khi nhận được những cánh thơ tưởng chừng như chúng đã rót thi vị mới lạ, hứng thú vào tâm hồn trong trắng, thơ ngây của cô gái ở tuổi dậy thì.
Nghệ thuật dùng chữ của Kim Oanh thật là quá tuyệt. Để diễn tả niềm nhung nhớ bao la như rừng, như ấm áp trong nắng, Kim Oanh cho rằng, dường như người tình đầu đời đã pha tím hoa sim. Gợi nhớ « Màu Tím Hoa Sim » một tuyệt tác của nhà thơ Hữu Loan, trở thành biểu tượng thương nhớ. Thương nhớ bao la như tím cả chiều hoang, gồm không gian và thời gian. Thời gian của chiều tà sắp sửa hoàng hôn, như chìm vào nổi buồn u ám của nhớ thương.

“ Áo học trò màu trắng đẹp tinh khôi
Anh pha tím hoa sim rừng nhung nhớ
Em ngây thơ vương nắng tình bỡ ngỡ
Tóc mây dài vụng dại kẽ lệch ngôi”
(Bài Vì Sao Sáng )

Yêu nước. Biết đặt nhiệm vụ cao cả của người trai trong thời loạn lên trên tình riêng. Những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa được vinh danh như những ngôi sao sáng trong đêm. Nên Kim Oanh không trách:
“Em không trách vì sao anh lỗi hẹn
Vì anh không hổ thẹn với non sông
Đêm đêm em nhìn lên khoảng trời không
Anh là vì sao trong đêm ngời sáng”.

Khi người yêu trên đường ra chiến trận, tâm trạng người yêu ở lại được Kim Oanh cực tả bằng hai câu thơ thật hay vô cùng.

“Anh đi tắt nắng bình minh
Rêu phong chôn kín một linh hồn gầy”

Mỹ từ pháp nhân cách hóa “Rêu phong” biết chôn một linh hồn gầy. Hết chỗ chê 3 chữ “Linh hồn gầy”.
Theo Kim Oanh thì người chiến sĩ có hình và bóng. Thân người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa xông pha trên các mặt trận, là một không gian địa lý bao la, được diễn tả như “ Đồi núi chập chùng”

Rừng sâu đồi núi chập chùng
Bóng ai ẩn khuất trong khung cửa lòng

Bóng người chiến sĩ tiềm ẩn trong lòng người yêu ở hậu phương, được mô tả là một không gian hẹp là tấm lòng của người yêu mong chờ nơi khung cửa phòng loan.

6.2. Biết ơn người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa

Kim Oanh nhớ ơn cha mẹ, cám ơn thầy, cô giáo, và đây Kim Oanh ghi ơn người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.


Anh! Người Lính Không Bao Giờ Chết
Anh! Người lính trẻ không bao giờ chết
Anh! Người lính già chưa hết niềm tin
Anh là vì Bắc Đẩu tỏa lung linh
Trên bầu trời bóng hình Anh ngời sáng
Anh ngạo nghễ khúc hùng tráng ca vang
Hy sinh cho Quốc kỳ vàng uy dũng
Đã nhiều phen làm kẻ thù rơi rụng
Mãi muôn đời Anh không chết đâu anh!
Kim Oanh

Người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn mãi mãi sống trong lòng người dân miền Nam Việt Nam và cả Kim Oanh nữa. Vì Kim Oanh là người yêu của lính.
“Vì nước quên mình hùng bất tử
Yêu chàng vẹn thủy nghĩa tình chan”

7*. Tình yêu quê hương trong thơ Kim Oanh

Níu Ánh Dương

Chạng vạng sầu lòng níu ánh dương
Niềm đau khắc khoải những vô thường
Trùng khơi vạn lý thân lưu lạc
Biệt xứ bạc ngàn khách viễn phương
Đất Mẹ ngạt ngào tình lúa mới
Quê cha đậm thấm mối tình vương
Một trời hy vọng còn đâu nữa
Chạng vạng sầu lòng níu ánh dương.
Kim Oanh

Quê hương của Kim Oanh là vùng quê, đồng bằng sông Cửu Long miền Tây Nam Bộ, ở đó:

“Đất Mẹ ngạt ngào tình lúa mới
Quê cha đậm thấm mối tình vương”

Đất mẹ, quê cha cũng là đất nước Việt Nam Cộng Hòa mà Kim Oanh luôn luôn vương vấn mối tình đậm đà, tình yêu Tổ quốc.

Sầu Ly Quốc

Lìa quê lưu lạc nơi này
Ngậm ngùi cố quốc đêm ngày sầu tơi
Đắng cay uất nghẹn sao nguôi
Bao người dìm xác tiếc lời oán không?

Tương lai tuổi trẻ diệt vong
Nhân quyền chà đạp còn mong chi về
Tự do đàn áp nặng nề
Mong người yêu nước thương về cố hương
Kim Oanh 04/2020

Lặng về cố quốc thở than dài
Dân tộc đắm chìm bởi tại ai
Gắng dạy cháu con gìn giữ lấy
Non sông đất Việt khắc tâm hoài.
(Bài Hồng Ân Thiên Chúa * Kim Oanh 30-4-2018)

Dù ai xa xứ khắp nơi
Vẫn là con cháu của trời nước Nam
Kim Oanh * 6/9/2019

8*. Cám ơn nước Úc

Tình thương mở rộng vòng tay ấm
Nhân đạo xứ người cảm lệ rơi

9*. “Tri ân bác sĩ, y tá, thiện nguyện viên đang chiến đấu với Covid-19”

Thương quá Thiên thần áo trắng ơi!
Cứu tử tuyến đầu trong đại dịch
Hy sinh mạng sống giúp cho đời
Tấm lòng cao cả rạng ngời
Nguyện cầu ân phước trên Trời chở che
Kim Oanh. Melbourne 28-3-2020


10*. Thơ xướng họa

Xướng họa thơ là thú vui của các nhà thơ. Vừa bắt nhịp cầu liên lạc, làm quen, trở thành bạn thơ, đồng cảm, đồng quan điểm với nhau. Giao lưu thơ văn là thú vui tao nhã của các nhà thơ.

10.1. Thơ xướng họa của nhà thơ Kim Oanh

Trang web Lê Thị Kim Oanh đã có 460 bài thơ của Kim Oanh trong thể xướng hoặc họa. Còn nhiều hơn con số 460, vì đếm không xuể.

Kim Oanh xướng và họa với những nhà thơ nổi tiếng thời hiện đại. Có thể nêu ra một số như sau: Nguyên Trần Nguyễn Tấn Phát, Kiều Mộng Hà, Trịnh Cơ, Nguyễn Huy Khôi, Nguyễn Kinh Bắc, Cao Mỵ Nhân, Tưởng Dung, Bát Sách Nguyễn Thanh Bình, Phong Tâm, Yên Dạ Thảo, Quên Đi, Mailoc, Songquang, Kim Phượng, Mai Xuân Thanh, Mai Thắng, Đỗ Chiêu Đức, Sao Khuê, Đỗ Bình, Hương Thềm Mây, Kim Dung, Lộc Bắc, Tha Nhân, Lâm Hoài Vũ, Duy Anh, Hà Quế Linh, Phan Thanh Xuân, Thái Huy, Mặc Phương Tử, Hồ Khiên, Phương Hoa, Minh Thúy, Tuyết Phan, Trầm Vân, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Gia Khanh, Đức Hạnh, Ngô Quang Diệp, Thanh Vân, Hoàng Xuân Thảo, Thanh Hòa, Hồ Nguyễn, Phan Tự Trí,Cao Linh Tử, PhanLương, Locphuc, Như Thu, dovanden(DVD), Minh Lương, Thiện Tâm, Lạc Thủy Đỗ Quý Bái, Đồ cóc, Như Thị, Hồ Công Tâm, Bùi Quý Bồng, Phí Minh Tâm, Lê Xuân Cảnh, Mũ Đỏ Nguyễn Văn Lập, …

10.2. Xướng, họa thơ

Họa thơ là dựa vào một bài thơ có sẳn, được gọi là bài xướng. Những quy tắc căn bản của việc họa thơ là họa thể thơ, họa vần, họa ý…

Họa thể thơ. Là bài xướng thuộc thể thơ gì thì bài họa cũng phải theo thể thơ đó. Bài xướng thuộc thể lục bát, thì bài họa cũng phải lục bát. Bài xướng thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật, thì bài họa cũng phải theo thể thơ đó.

Họa vần. Trong bài xướng, những chữ bắt buộc phải theo vần là chữ gì, thì bài họa cũng phải theo những chữ đó. Không được dùng chữ khác.
Ví dụ. Họa vần trong bài Tôn Phu Nhân Qui Thục của Tôn Thọ Tường và bài họa của Phan Văn Trị.

Bài xướng của Tôn Thọ Tường.
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
….
Bài họa của Phan Văn Trị

Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông

10.3. Hai bài xướng họa của Kim Oanh và Nguyên Trần Nguyễn Tấn Phát.

Hương Tàn Mùa Cũ

Cành hoa tan tác kém màu tươi
Cố nén đau thương giấu nụ cười
Men rượu thấm môi sao chẳng ấm
Loan phòng tựa cửa dạ nào vui.

Xuân đến xuân đi xuân mất rồi
Hương tình trôi biệt tận xa xôi
Mùa yêu lặng lẽ tan theo sóng
Dìm chết tim yêu trọn cả đời!
Kim Oanh - Melbourne, 14/2/2015

Bài thơ “Hương Tàn Mùa Cũ” của Kim Oanh nói lên “Hương yêu” của một thời quá khứ, (mùa cũ) xa xưa, đã tàn phai theo thời gian. Kim Oanh thả hồn về miền quá khứ, ký ức trở về, hương tình nhè nhẹ len vào tâm tư, làm con tim đau nhói, như tật nguyền.

“Cố nén đau thương giấu nụ cười” để chứng tỏ bề ngoài giống như người bình thường, thế nhưng bên trong giá buốt, cho dù có rượu vào cũng không ấm được lòng.
"Men rượu thấm môi sao chẳng ấm"
Câu"Loan phòng tựa cửa dạ nào vui". Loan phòng là phòng có bức màng thêu hình con chim loan."Tựa cửa" chỉ hành động đứng chờ một cái gì đó.

Cùng một loài chim mà con trống được đặt tên là Phượng (Phụng), con mái gọi là Loan. Trong thiệp cưới trước kia, người ta thường chúc cô dâu, chú rể « Loan phượng hòa minh-Sắt cầm hảo hợp » (Loan phượng hòa minh là Chim loan và phượng hòa tiếng hót).
“Sắt cầm hảo hợp” đàn sắt và đàn cầm hòa âm với nhau tốt đẹp, nghe rất êm tai. Ý nói đôi vợ chồng hòa hợp nhau trong hạnh phúc)
"Xuân đến xuân đi xuân mất rồi". Thời gian trôi qua, hết mùa Xuân nầy đến mùa Xuân khác, nhưng mùa xuân của cuộc đời không còn nữa, vì "xuân" đã mất rồi.

Kim Oanh ví thời gian như con sóng vô tình lặng lẽ dìm chết tình yêu, làm đau thương suốt cả đời. Có thể nói khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Bài thơ bắt đầu từ câu"Cành hoa tan tác kém màu tươi", kết thúc bằng câu "Dìm chết tim yêu trọn cả đời!" đã gói ghém cơn đau của mối tình tươi đẹp của một thời xa xưa cho đến nay vẫn còn gây đau thương qua thời gian.

Bài họa của nhà thơ Nguyên Trần, Nguyễn Tấn Phát.

Còn Thương Người Cũ

Hoa tím bằng lăng tím sắc tươi
Như em duyên dáng nét môi cười
Anh đi mà thấy lòng ngơ ngẩn
Mây trắng lững lờ tiếng gọi vui

Nhìn em anh đã thấy vấn vương rồi
Như bác nông dân yêu nếp xôi
Con sóng tình long lanh ánh bạc
Màu trăng tiền sử sáng muôn đời.
Nguyên Trần*Toronto Song Thất 7/7/2021

Nhận xét về xướng họa thơ của hai tác giả.

Về vần thơ.
Nguyên Trần Nguyễn Tấn Phát, đã họa theo đúng qui luật về vần của bài họa. Đó là chữ cuối cùng của những câu 1, 2, 4 của khổ đầu đều đúng bằng những chữ: Tươi, Cười, Vui.
Những chữ cuối câu ở khổ hai cũng giống nhau, là: Rồi, Xôi, Đời.

Về ý thơ. Thì bài họa của Nguyên Trần đối lại ý thơ trong bài xướng của Kim Oanh. Bài xướng mang tính bi quan, tiêu cực. Bài họa của Nguyên Trần mang tính lạc quan, yêu đời.
Nói chung về ý thơ của những bài xướng, họa có thể cùng một ý, thông cảm, chia xẻ nhau. Mà cũng có thể chỉ trích, phản đối, hoặc phân trần, bào chữa…

11*. Thơ cổ và thơ dịch

11.1. Thi sĩ và Đường Thi

Trong mục Cổ Thi của trang mạng Lê Thị Kim Oanh, chị đã chọn và dịch 64 bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ Trung Hoa thời nhà Đường, mà các nhà thơ tài danh Việt Nam của nhiều thế hệ trước đã ngưỡng mộ. Và từ đó những bài thơ văn nôm được sáng tác theo luật thơ của Đường Thi. Điển hình là các nhà thơ: Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương…

Trong mục Cổ Thi gồm có thơ của các thi sĩ thời Đường như : Vương Hàn (Bài Lương Châu Từ), Lý Bạch có 5 bài: Xuân Tứ, Tống Hữu Nhân, Thu Phong Từ, Oán Tình, Ức Đông Sơn Kỳ.Lý Thương Ẩn với 3 bài: Thiên Nha, Dạ Vũ Ký Bắc, Vô Đề. Bạch Cư Dị, Đỗ Mục, Hàn Ốc, Trịnh Cố, Trần Nhân Tông, Cao Bá Quát.

11.2. Nghệ thuật dịch thơ cổ Đường thi của Kim Oanh

Dịch thơ bằng văn xuôi đã khó, mà dịch bằng thơ từ chữ Hán lại càng khó hơn. Trước hết phải thấu triệt về nghĩa của chữ Hán, phải hiểu rõ hoàn cảnh sống của tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ, đồng thời cũng phải hiểu những điển tích trong thơ.

Trong 64 bài ở mục Cổ Thi, Kim Oanh đã có 35 bài dịch bằng thơ của các thi sĩ thời nhà Đường. Số còn lại là dịch các bài thơ của người Việt Nam như: Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Lê Cảnh Tuân, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương…

Một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng của Vương Hàn mà nhiều người Việt Nam biết đến, đó là bài Lương Châu Từ mà Kim Oanh đã dùng thơ để dịch thơ như sau.

Lương Châu Từ

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi ? (Vương Hàn)

Kim Oanh dịch
Khúc Hát Lương Châu

Quan hà cạn chén bồ đào
Chưa vơi đàn giục ngựa mau lên đường
Trách chi say chốn sa trường
Binh đao chinh chiến có nhường mấy ai?
Kim Oanh 26/4/2015

11.3. Dịch thơ bằng thơ của các thi hào Pháp, Mỹ và Nhật Bản.

Ngoài những bài thơ Hán văn, Kim Oanh còn dịch những bài thơ tiếng Pháp, tiếng Anh của những thi hào nổi tiếng của Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản.

Trước kia những nhà thơ nổi tiếng của Pháp được gỉảng dạy ở chương trình trung học Việt Nam. Những nhà thơ như: Victor Hugo, Alphonse de Lamartine, Alfred de Vigny, Alfred de Musset, bà George Sand, Paul Verlaine, Arthur Rimbaud…

Trong mục "Thơ Dịch", Kim Oanh đã dùng 28 bài thơ để dịch những bài nổi tiếng của những thi hào Pháp, Mỹ và Nhật Bản, gồm có:

1). Victor Hugo. 2 bài: La Tombe d’Amante (Mộ người yêu), Puisque J'ai Mis Ma Lèvre À Ta Coupe Encor Pleine. (Cũng tại vì môi anh trên ly em chưa vơi)
2). Alphonse De Lamartine. Với 2 bài La Terre Natale (Quê Hương) và Le Lac (Cái Hồ).
3). Paul Verlaine với 2 bài: La Chanson d’Automne (Thu Ca) và Il Pleure Dans Mon Cœur (Mưa Trong Lòng).
4). J. Fred Coots với bài Love Letters In The Sand (Thơ tình trên cát).
5). Maurice Maeterlinks với bài Come Back To Sorrento, Phạm Duy phổ nhạc (Trở Về Mái Nhà Xưa)

6). Thi sĩ Nhật Bản Ki no Tsurayuki với bài Sazanka no Yado (Quán Trọ Sơn Trà). Và còn nhiều nhà thơ khác

Những câu đắc ý

Objets inanimés!Avez-vous donc une âme?
Qui s ‘attache à mon âme, Et la force d’ aimer.
(Trích 2 câu cuối của bài thơ Milly Ou La Terre Natale)
Alphonse De Lamartine

Có hồn chăng vật vô tri kia hỡi?
Tâm linh này lụy bởi tình yêu mi!
Kim Oanh-Melbourne23-10-2015

Trích trong bài của Alfred De Vigny

“Gémir, pleurer, prier est également lâche.
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le Sort a voulu t'appeler,
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler.”

Lời thơ dịch

Khóc than, rên xiết là hèn
Hãy vì nhiệm vụ vượt lên đau buồn
Quản chi số phận gọi tên
Nghiến răng rồi chút hơi tàn như không.
(Alfred De Vigny)

12*. Nhà thơ Kim Oanh trên thi đàn quốc tế

12.1. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Lê Thị Kim Oanh là thành viên của tổ chức Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là tiếng nói lương tâm của người cầm bút Việt Nam trên toàn thế giới. (The voices of conscience of Vietnamese writers across the globe). Chúng tôi sáng tác và phổ biến văn học, nghệ thuật nhầm bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam.

Đây là diễn đàn chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, tổ chức duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa còn hiện hữu.

12.2. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

Thơ Kim Oanh cũng góp mặt trên diễn đàn Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, là nơi hội tụ những văn thi nhân yêu hòa bình và mưu cầu tự do cho quê hương Việt Nam. Hội VBVNHNVĐBHK chủ trương sinh hoạt cộng đồng, cùng nhau sáng tác và phổ biến văn học nghệ thuật nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa Việt ở hải ngoại.

Kim Oanh là một cây bút có tầm mức trên văn đàn quốc tế.

13* Kết luận

Thật hiếm thấy có một nhà thơ nào sở hữu một gia tài thi văn đồ sộ như Kim Oanh cả.

Nghệ thuật diễn đạt của chị rất điêu luyện. Chị xử dụng tối đa mỹ từ pháp như: ẩn dụ, đảo ngữ, điệp ngữ, nhân cách hóa, so sánh, tượng thanh, tượng hình…làm cho câu văn sống động, gợi cảm, gợi tình…lôi cuốn người đọc.

Lời thơ mộc mạc, giản dị, ngôn từ mang âm hưởng của người dân quê miền Tây Nam Bộ, để diễn tả cảm xúc, tư duy gắn kết với con người, với sinh hoạt xã hội và thiên nhiên, để phát huy cái hay, cái đẹp truyền thống của Việt Nam.

Ý thơ mang tính xây dựng, thể hiện gương mẫu đạo đức qua những bài học làm người. Người tốt, theo quan niệm “Trung, hiếu, tiết, nghĩa” của người xưa.

Một điều may mắn cho thi văn Việt Nam là có một thế hệ gồm những nhà thơ trẻ với nhiều triển vọng và khả năng tiếp bước những thế hệ cha, anh. Đúng là sóng sau dồn sóng trước. Tre tàn măng mọc.

Xã hội tự do là mảnh đất màu mỡ để vườn cây văn nghệ đơm hoa kết quả, thành màu sắc rực rỡ. Chế độ độc tài đã bóp chết sự sáng tạo tự do của văn nghệ sĩ.

Kim Oanh thật sự là một nhà thơ có tài, có nhiều nét độc đáo.

Trúc Giang
Minnesota ngày 12-9-2021