Hiển thị các bài đăng có nhãn Sầm Tham. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sầm Tham. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2024

Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thọ 題平陽郡汾橋邊柳樹- Sầm Tham

(Bản viết tay của Đỗ Chiêu Đức năm 1972)

SẦM THAM 岑參(715~770)thi nhân đời Đường. Ông người đất Nam Dương, thuộc tỉnh Hà Nam hiện nay; đậu tiến sĩ trong những năm Đường Thiên Bảo (742-756); làm quan đến chức Thứ sử Gia Châu, nên còn được gọi là Sầm Gia Châu 岑嘉州.Ông mất ở đất Thành Đô (Tứ Xuyên). Năm Thiên Bảo thứ 5,6 (746-747) Ông từng về thăm lại đất Tấn quận Bình Dương tỉnh Sơn Tây, nơi mà trước đây ông đã từng cư trú 8,9 năm, nên cảm xúc mà làm bài thơ Ngũ ngôn tuyệt cú nầy.

題平陽郡汾橋邊柳樹 Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thọ

此地曾居住, Thử địa tằng cư trú,
今來宛似歸. Kim lai uyển tự quy.
可憐汾上柳, Khả lân Phần thượng liễu,
相見也依依! Tương kiến dã y y!

岑參              Sầm Tham

* Chú thích:

- Một dị bản của tựa nầy là 題汾橋邊柳樹 Đề Phần Kiều Biên Liễu Thọ : Đề Hàng liễu bên cầu sông Phần.
- 曾 Tằng : là Đã từng.
- 宛似 Uyển Tự : Giống như là; Ngỡ như là...
- 歸 Quy: là Về lại nhà, về lại quê hương.
- 可憐 Khả Lân: là Đáng thương, đáng yêu, Tội nghiệp...
- 依依 Y Y: là Quyến luyến, nắm níu, dựa dẵm vào nhau...

Nghĩa bài thơ:

Đề Hàng liễu bên cầu sông Phần thuộc quận Bình Dương

Ta đã từng cư trú ở nơi nầy (tám chín năm). Nay có dịp về thăm lại, nên có cảm giác thân thiết như là về lại quê nhà. Khá thương thay cho hàng liễu bên cầu trên bến sông Phần, gặp lại nhau cũng phất phơ quyến luyến như không nở rời xa nhau vậy!
Rõ khéo nhân cách hóa hàng liễu bên cầu ven bến sông Phần, Sầm Tham đã là người đa tình rồi; Trở lại chỗ ở trọ khi xưa mà xúc động như là trở về quê cũ, nên ông thấy mọi vật ở đây đều như có tình cảm tựa con người, cả hàng liễu theo gió phất phơ vướng víu vào mình, ông cũng ngỡ là dương liễu quyến quyến mình như mình đã quyến luyến nơi ở trọ nầy vậy!
Vừa chân thật, vừa đa tình nên lời thơ thật nên thơ tràn đầy thi vị dễ làm xúc động lòng người... Trông người lại ngẫm đến ta, mang thân lưu vong nơi xứ lạ quê người, không phải chỉ có tám chín năm như Sầm Tham, mà những hai, ba, bốn chục năm trời nơi đất khách... Nếu có dịp lại phải rời xa, chúng ta có xem nơi tạm dung nầy như là quê hương thứ hai của ta để mà quyến luyến chăng?!...

Diễn Nôm:
Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thọ

Nơi nầy từng cư trú,
Về lại tựa về quê.
Thương thay bờ liễu rũ,
Gặp nhau mãi vân về!

Lục bát:

Ngày xưa từng trọ nơi đây,
Giờ quay lại ngỡ nơi nầy cố nhân.
Thương thay bờ liễu sông Phần,
Gặp nhau quyến luyến như không nở rời!


Đỗ Chiêu Đức
杜紹德
***
Liễu Xưa


Nơi này đã hằng sống
Nay về ngỡ quê xưa.
Sông Phần tơ liễu động
Thương cảm nói sao vừa!
***
Nơi nầy đã hằng lâu cư trú
Nay về lại chốn cũ tình thâm.
Cảm thương liễu rũ sông Phần
Tương phùng vương víu bâng khuâng không rời!

Mailoc
5-16-24
***
Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thọ

Mảnh đất từng sinh sống
Về thăm lại chốn xưa
Bến Phần thương liễu rũ
Lưu luyến mấy cho vừa
***
Lục Bát:

Nơi đây chốn cũ một thời
Bồi hồi trở lại ngỡ nơi quê nhà
Bến Phần thương liễu la đà
Thấy nhau quyến luyến tình là tình thân


Kim Phượng
***
Cội Liễu Sông Phần

Nơi đây ở tám chín năm
Nay quay về lại nhớ thăm quê nhà
Sông Phần cội liễu thiết tha
Gặp nhau quyến luyến cách xa sao đành!


Kim Oanh

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2022

Hành Quân Cửu Nhật Tư Trường An Cố Viên 行軍九日思長安故園 - Sầm Tham

 

Sầm Tham (715-770) từ nhỏ cha mất sớm, nhà nghèo, Ông phải tự lo sinh kế cũng như trong học hành. Đậu Tiến Sĩ năm 29 tuổi. Trong cuộc đời làm quan, Ông đã nhiều lần xuất chinh ra tận biên ải. Thời gian ở biên ải lâu dài, vì thế mà thơ ông nghiêng nhiều về chủ đề Biên Tái, và được xem là Nhà thơ Biên Tái xuất sắc nhất.

Khi hành quân ra biên ải lần 2, Ông được phong làm Phán quan cho Tiết độ sứ An Tây là Phong Thường Thanh. Trong ngày tết Trùng Cửu (Trùng Dương) 9 tháng 9, trên đường ra biên ải lần 2, ông có làm 2 bài thơ, đó là bài "Cửu Nhật Sứ Quân Tịch Phụng Tiễn Vệ Trung Thừa Phó Trường Thuỷ" và bài thơ "Hành Quân Cửu Nhật Tư Trường An Cố Viên" đều được xếp vào dòng thơ Biên Tái. Trong khoảng thời gian ở biên ải lần này, Ông sáng tác rất nhiều thơ về biên tái.

Nhiều người cho rằng bài thơ "Hành Quân Cửu Nhật Tư Trường An Cố Viên" được Ông viết trong thời kỳ Loạn An Sử, nhưng điều này không hợp lý, bởi thời kỳ đó, nội bộ nhà Đường hổn loạn, ông không hề được điều ra biên giới hay giữ chức vụ nào. Mãi đến khi loạn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh bị dẹp tan, Ông mới được Đỗ Phủ và Phòng Quân tiến cử giữ chức Hữu Bổ Khuyết.

Ngoài ý tiếc vì không được đón tết Trùng Cửu theo cổ truyền, bài thơ còn nói lên sự khát vọng muốn tiến thân của Ông, nhưng không có người trong triều nâng đỡ. Điều này thể hiện lúc gần cuối đời, Ông bị bãi quan và mất trong cảnh nghèo khó.

行軍九日思長安故園

Hành Quân Cửu Nhật Tư Trường An Cố Viên

強欲登高去 Cường dục đăng cao khứ
無人送酒來 Vô nhân tống tửu lai
遙憐故園菊 Dao liên cố viên cúc
應傍戰場開 Ưng bạng chiến trường khai.

岑參            Sầm Tham
***
Dịch Nghĩa: Tết Trùng Cửu, Lúc Chuyển Quân Nghĩ Đến Vườn Cũ Ở Trường An
Tuy rất muốn đi lên núi cao (tục từ thời Hán, ngày 9.9 mọi người đều lên núi cao uống rượu cúc để tránh tai họa)
Nhưng lại không có ai đến bày tiệc rượu tiễn đưa
Từ nơi xa thương nhớ vườn hoa cúc cũ
Đành thôi vì đang tiến đến nơi chiến tranh xảy ra.

Dịch Thơ:

1/
Vươn cao lòng rất muốn
Rượu tiễn chẳng ai mời
Nhớ cúc hoa vườn cũ
Nhưng binh lửa dậy trời.

2/
Trùng Dương thật muốn lên cao
Rượu đưa lại chẳng người nào tiễn ta
Nhớ vườn cúc cũ phương xa
Cũng đành gác lại tiến ra sa trường.

Quên Đi
***
Ngày Trùng Cửu Hành Quân Nhớ Vườn Cũ Ở Trường An

Rất muốn lên non cao
Chẳng người tặng rượu đào
Xót thương vườn cúc cũ
Tan tác trong binh đao?

Kim Oanh
***
Tết Trùng Cửu, Lúc Chuyển Quân
Nghĩ Đến Vườn Cũ Ở Trường An

Lòng muốn vượt non cao
Chẳng người rượu tiễn chào
Cúc vườn xưa vẫn nhớ
Chinh chiến biết làm sao

Kim Phượng