Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Mục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Mục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2024

Ký Viễn 寄遠 - Đỗ Mục (Văn Đường)

 

Tâm Tư Của Bát Sách và Tiểu Đỗ.

Năm 1975, ngày 30 tháng 04, lúc chiều tối, Bát Sách theo tầu hải quân, xuôi dòng Tiền Giang, ra biển. Khi tầu sắp chìm, mọi người được tầu buôn Song Long (Twin Dragon) cứu, chở tới Vọng Các, rồi về Phú San (Busan), Đại Hàn ngày 21/05. BS ở đây 2 tháng, tới Montréal ngày 22/07/1975.

Lúc đó, Bát Sách còn trẻ, độc thân, vui tính, làm đủ thứ nghề để kiếm sống, học bài thi bằng tương đương, và quen một đồng nghiệp đàn anh lớn tuổi là bác sĩ Nguyễn Khắc Định, cùng lớp với anh Nguyễn Tấn Hồng, cựu Tổng Trưởng Thanh Niên hồi ông Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ Tướng. Theo truyền thống y khoa, tôi gọi các đồng nghiệp lớn tuổi bằng anh, xưng em.

Tôi có đến chơi nhà bác sĩ Định nhiều lần, và gặp con gái của ông là Ng N.H, du học ở Mỹ, tiểu bang Oregon, qua thăm cha mẹ. Tôi đã bị mê hoặc bởi chiếc răng khểnh và nụ cười rất tươi đẹp của nàng.

Năm 1976, dù đã đỗ bằng tương đương, nhưng tới tháng 7 năm 1977 tôi mới có chỗ để đi nội trú. Mùa hè năm đó, nàng lại qua chơi, chúng tôi gặp nhau đôi lần, nói chuyện vu vơ, nhưng khi nàng về Mỹ thì tôi bắt đầu thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai kiểu Quang Dũng.

Mùa đông năm 1977, ở Montréal, tuyết rơi nhiều… Một hôm, sau phiên trực, tôi về nhà mệt mỏi rã rời, bỏ ăn, lăn ra ngủ. Đến đêm thức giấc, chợt nhớ tới nàng, lại biết ở Oregon trời không lạnh, nhưng mưa liên miên, bèn làm 4 câu thơ:

Người ở phương trời, mưa mãi rơi,
Nơi đây tuyết trắng phủ ngập trời,
Nửa đêm thức giấc sầu cô quạnh,
Em có khi nào nghĩ đến tôi?

Mùa xuân năm 1978, người đẹp qua chơi, tôi cầu hôn và nàng đồng ý. Chúng tôi làm đám cưới ngày 17/06/1978, 2 tuần trước khi tôi xong nội trú.

Đây là chuyện riêng, đưa lên diễn đàn, BS thấy hơi kỳ, nhưng vì một hôm, vô tình đọc bài KÝ VIỄN của Tiểu Đỗ, tức Đỗ Mục 杜牧 (803-853), sao nó giống y chang tâm tư của mình.

Đỗ lúc đó, chắc ở miền bắc, đêm nằm nghe tuyết rơi, nhớ tới người yêu ở miền nam, mưa tơi bời…

寄遠 杜牧             Ký Viễn (Đỗ Mục)

前山極遠碧雲合, Tiền sơn cực viễn bích vân hợp,
清夜一聲白雪微. Thanh dạ nhất thanh bạch tuyết vi,
欲寄相思千里月, Dục ký tương tư thiên lý nguyệt,
溪邊殘照雨霏霏. Khê biên tàn chiếu vũ phi phi.

Bài này không nhiều chữ khó.

# Câu 2 có 2 chữ thanh, chữ thứ nhất 清 là trong trẻo, chữ thứ 2 聲 là tiếng động.
# Vi 微: là nhỏ, nhẹ.
# Tàn chiếu 殘照:là lúc mặt trời sắp lặn, lúc chiều tà, hoàng hôn.
# Phi Phi 霏霏: viết với bộ vũ, là lã chã, tầm tã, lất phất, tả mưa rơi.

Phỏng dịch:

Gửi Nơi Xa

Bềnh bồng mây biếc trước non côi,
Đêm thanh nghe tuyết trắng nhẹ rơi,
Muốn gửi tương tư trăng vạn dặm,
Mưa khe chiều xuống, rớt tơi bời

Bát Sách.
(ngày 12/02/2024)
***
Những Bài Dịch Khác:

Gửi Người Xa

Bềnh bồng xa tắp mây xanh
Phất phơ tuyết trắng đêm thanh riêng mình
Nhờ trăng ngàn dặm gửi tình
Đến người bên suối muôn nghìn nhớ nhung.

Kim Oanh
***
Gởi Chốn Xa

Trước núi xa xăm mây biếc phủ
Đêm khuya nghe tiếng tuyết rơi hờ
Tương tư muốn gởi trăng ngàn dặm
Bên suối chiều tà mưa phất phơ?

Mây mù bao phủ núi xa
Đêm khuya nghe tiếng tuyết va kính mờ
Nhớ thương, trăng gởi người mơ
Nụ cười răng khểnh, tóc tơ suối nguồn!

Lộc Bắc

***
Gửi Nơi Xa

Thật xa trước núi tụ xanh mây,
Lất phất đêm buồn tuyết trắng bay.
Muốn gửi tương tư trăng vạn dậm,
Về bên bờ suối gió mưa đầy.

Mỹ Ngọc 
Feb. 23/2024.

***
Gởi Người Xa

Mây xanh lãng đãng quyện quanh non
Đêm xuống tuyết rơi êm ái buông
Muốn gởi qua trăng tình đắm đuối
Ánh dương bên suối hạt mưa buồn

Thanh Vân
***
Gửi Người Xa

Mây chắn xanh rờn, dáng núi xa
Đêm thanh tuyết trắng bay la đà
Trăng ơi! Cho gửi niềm tâm sự
Bên suối mơ. Chiều. Mưa lướt qua

Kiều Mộng Hà
Austin.4.6.24
***
Dịch nghĩa

Gửi Người Xa

Mây xanh tụ ở dẫy núi rất xa phía trước,
Trong đêm thanh nghe tuyết trắng rơi nhè nhẹ.
Muốn nhờ vầng trăng cao vạn dặm kia, gởi niềm riêng tới…
... Người ở bên bờ suốt có trăng mờ soi và có mưa rơi lất phất kia.

Dịch thơ

Gửi Người Xa

Đỉnh non xa tắp mây xanh tụ,
Đêm tĩnh chợt nghe tuyết trắng phơi.
Muốn gởi niềm riêng trăng vạn dặm,
Về bên bờ suối có mưa rơi.

Lời bàn:

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt giản dị, du dương và lãng mạn; ngôn từ gợi những ý súc tích của Đỗ Mục.
Câu 1:
Trên đỉnh núi xa tắp có mây xanh tụ (ám chỉ nơi xa xôi và ấm áp của người yêu),
Câu 2:
Trong một đêm trăng thanh có tuyết trắng lất phất (ám chỉ nơi lạnh lẽo của mình).
Câu 3:
Muốn nhờ vừng trăng ở trên cao gởi niềm tương tư của mình tới…,
Câu 4:
… Bên bờ suối, nơi (đang) có mưa rơi, (cụm từ bạch tuyết vi tương phản với cụm từ vũ phi phi ở câu 2).

Con Cò
***
Nguyên tác: Phiên âm:

寄遠-杜牧 Ký Viễn - Đỗ Mục

前山極遠碧雲合 Tiền sơn cực viễn bích vân hợp
清夜一聲白雪微 Thanh dạ nhất thanh bạch tuyết vi
欲寄相思千里月 Dục ký tương tư thiên lý nguyệt
溪邊殘照雨霏霏 Khê biên tàn chiếu vũ phi phi
Hán bản của bài thơ được đăng trong các sách đời Thục, Tống, Minh, Thanh:

Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁

Sách của Huyền Diệp có cho 2 dị bản ở câu 1 và 4.

Ký Viễn là một đề tài rất thơ mộng nên nhiều thi nhân đời Đường, trong đó có Lục Quy Mông 寄遠, Lý Thương Ẩn 寄遠, Bạch Cư Dị 寄遠… đã tham gia làm thơ dưới mục này. Có 46 bài thơ có hai chữ Ký Viễn trong tựa, có 32 bài tựa chỉ có hai chữ Ký Viễn.

Ngoài bài Ký Viễn này (không có tựa như thế trong sách chữ Hoa nào), Lý Bạch có làm một bài Ký Viễn 11 Thủ 寄遠十一首.
Ngoài bài Thu Tễ Ký Viễn, Đỗ Mục còn có 3 bài Ký Viễn: 寄遠 1, 寄遠 2, 寄遠3.

Chú thích:

Bích vân: mây xanh, mây trên bầu trời xanh biếc
Thanh dạ: một đêm yên tĩnh
Tàn: phần còn thừa lại của cái gì đã dùng rồi
Tàn chiếu: lúc mặt trời đã lặn
Phi phi: lả tả, tiếng mưa rơi, nhiều dày dặc…

Dịch nghĩa:

Gởi Người Phương Xa

Xa xa phía trước núi những đám mây xanh biếc hòa quyện với nhau,
Trong đêm yên tĩnh có tiếng vi diệu tuyết trắng rơi.
Muốn gửi mối tình say đắm đến một nơi cách xa ngàn dặm qua ánh trăng,
Bên dòng suối dưới những tia sáng cuối cùng của mặt trời mưa lả tả rơi.

Bình luận:

Bài thất ngôn tứ tuyệt là một tuyệt tác về hình thức, gợi cảm và sâu sắc về ý, trữ tình và lãng mạn. Khi dịch nghĩa cũng như dịch thơ, cần lưu ý về thời lúc và thứ tự hợp lý của các sự việc đã xảy ra. Chiều mây, tối tuyết, khuya trăng, và gần sáng mưa. Chữ tàn chiếu dịch đúng nghĩa là lúc mặt trời sắp lặn, lúc chiều tà, hoàng hôn… e không ổn với thứ tự thời gian trong các câu trước. Quên đi thời điểm trong câu 4 hoặc phỏng dịch hết đêm, gần sáng, bình minh, tia nắng đầu tiên…

To Someone Far-Away by Dù Mù

Blue clouds drifted in the distance in front the mountains,
In the quiet night, only the marvellous sound of falling white snow.
I wanted to send love, through the moon, to a distant place thousands of miles away,
But on the bank of the stream under the last sun rays, it rained heavily.

Phỏng dịch thơ: Gởi Người Phương Xa

Thể thất ngôn: 

Trước núi mây xanh phủ góc trời,
Trong đêm thanh vắng tuyết êm rơi.
Gởi người vạn dặm bao thương nhớ,
Bên suối dưới trăng mưa khắp nơi.

Thể lục bát: 

Mây xanh phủ núi mờ xa,
Trong đêm yên tĩnh trắng ngà tuyết rơi.
Nhớ thương vạn dặm ngươi ơi!
Dưới trăng bên suối mưa nơi giang đầu.

Phí Minh Tâm
*** 
Tương Tư

Mây xanh bao phủ trên đầu núi
Hoàng hôn chìm xuống ở phương xa
Đêm buồn bóng Nguyệt lu mờ chiếu
Bên trơi ai có hiểu lòng ta

Văn Ngọc

21-4-2024

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2024

Tặng Biệt Kỳ 1 贈別其一 - Đỗ Mục

  

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng.

Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Chia ly diễn ra ở mọi tuổi, ở mọi tầng lớp, nên thơ tả chia ly có nhiều sắc thái khác nhau. Hãy thử tìm đặc thù của chia ly trong hai bài Tặng Biệt kỳ 1 & 2 của Đỗ Mục:

Nguyên tác Dịch âm

贈別其一            Tặng Biệt Kỳ 1

娉娉嫋嫋十三餘 Phinh phinh niệu niệu thập tam dư,
豆蔻梢頭二月初 Đậu khấu sao đầu nhị nguyệt sơ.
春風十里揚州路 Xuân phong thập lý Dương Châu lộ,
卷上珠簾總不如 Quyển thượng châu liêm tổng bất như.

豆蔻 đậu khấu: Cây đậu khấu mọc ở xứ nóng, quả như quả nhãn, thứ trắng gọi là bạch đậu khấu, thứ đỏ gọi là hồng đậu khấu đều dùng để làm thuốc. Đậu khấu còn có nghĩa là thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi.

Dịch nghĩa

Tặng Lúc Chia Tay kỳ 1

Mảnh mai yểu điệu, mới hơn mười ba tuổi,
Như hoa đậu khấu trên ngọn cây mới nở lúc tháng hai.
Gió xuân thổi trên mười dặm đường Dương Châu,
Rèm châu đều cuốn lên, nhưng chẳng có ai giống như nàng.

Dịch thơ

Tặng Lúc Chia Tay kỳ 1

Eo thon yểu điệu độ mười ba
Đậu khấu tháng hai vừa nở hoa
Dương Châu chục dặm gió xuân thổi,
Vén hết rèm châu ai cũng thua

Con Cò
***
Các Bài Phỏng Dịch Khác:

***
Tặng Lúc Chia Tay Kỳ 1

Yểu điệu mười ba dáng dịu dàng
Như hoa đậu khấu tháng hai sang
Dương Châu mười dặm gió xuân thổi
Rèm vén nàng xinh đẹp ngỡ ngàng

Kim Oanh
***
 Tặng Lúc Biệt Ly Kỳ Nhất

Xinh xinh, yểu điệu khoảng mười ba,
Đậu khấu đầu cành chớm nở hoa,
Dương Châu mười dặm xuân lùa gió,
Cuốn rèm ai nấy cũng thua xa.

Bát Sách.
(Ngày 17/02/2024)

***
Tặng Lúc Chia Tay

Hơn mười ba yểu điệu mình mai,
Đậu khấu đầu cành nở tháng hai.
Chục dậm Dương Châu xuân gió thổi,
Tung rèm châu sánh kịp không ai.

Lục bát.

Mười ba tuổi lẻ mảnh mai,
Như hoa đậu khấu tháng hai cành đầu.
Gió xuân chục dậm Dương Châu,
Thổi tung rèm gấm ai đâu đẹp bằng.

Mỹ Ngọc 
Feb. 17/2024.
***
Tặng Lúc Chia Tay Kỳ 1

Mười ba yểu điệu đẹp xinh thay
Đậu khấu phát hoa chớm tháng hai
Mười dặm Dương Châu xuân gió thổi
Rèm châu cuốn hết, chẳng ai tày!

Lộc Bắc
***
Tặng Biệt kỳ 1 

Tặng biệt ly người đẹp
Mười ba thon thả nét kiều hoa
Đậu khấu tháng hai sắc mặn mà
Mười dặm Dương Châu Xuân gió mộng
Vén rèm đẹp nhất dáng kiêu sa

Thanh Vân
***
Nguyên tác: Phiên âm:

贈別其一-杜牧 Tặng Biệt Kỳ 1 - Đỗ Mục

娉娉褭褭十三餘 Phinh phinh niệu niệu thập tam dư
豆蔻梢頭二月初 Đậu khấu tiêu đầu nhị nguyệt sơ
春風十裏揚州路 Xuân phong thập lý Dương Châu lộ
卷上珠簾總不如 Quyển thượng châu liêm tổng bất như

Mộc bản trong các sách:

Lý Nghĩa San Thi Tập Chú - Đường - LýThương Ẩn 李義山詩集注-唐-李商隱
Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi Chú:

Phinh phinh niệu niệu: hình dung dịu dàng tốt đẹp
Tiêu đầu: trên cùng của cành cây


Elettaria cardamomum

Đậu khấu: tên khoa học Elettaria cardamomum , mọc ở xứ nóng, quả như quả nhãn, thứ trắng gọi là bạch đậu khấu, thứ đỏ gọi là hồng đậu khấu đều dùng để làm thuốc. Đậu khấu thường được sử dụng chỉ thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi, ẩn dụ chỉ các trinh nữ.

Xuân phong: gió xuân, không khí hòa hợp
Dương Châu: thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô
Châu liêm: rèm ngọc trai trên xe hoặc nhà, ẩn dụ có người phụ nữ đẹp phía sau
Tổng bất như: cũng không bằng

Dịch Nghĩa:

Tặng Biệt Kỳ 1    

Phinh phinh niệu niệu thập tam dư 
Đậu khấu tiêu đầu nhị nguyệt sơ 
Xuân phong thập lý Dương Châu lộ 
Quyển thượng châu liêm tổng bất như 

Tặng Vĩnh Biệt Kỳ 1

Với thân hình xinh đẹp thon thả, nàng mới hơn mười ba tuổi
Trông giống như ngọn cây đậu khấu lúc đầu tháng hai.
Gió xuân trên mười dặm đường đến Dương Châu
Có cuốn hết rèm châu lên, cũng chẳng ai bằng được nàng.

Bình luận:

Tương truyền vào cuối đời Đường Văn Tông, một hôm Đỗ Mục dạo chơi Hồ Châu thuộc Tỉnh Triết Giang gặp một bà già dắt theo cô thiếu nữ hơn 10 tuổi rất đẹp, nhiều hứa hẹn trở nên giai nhân tài sắc và đoan trang. Đỗ Mục vô cùng cảm mến, bèn thưa với Lão bà hẹn 10 năm nữa sẽ đến xin cưới cô gái. Hơn 10 năm sau, Đỗ Mục mới xin được thuyên chuyển làm Thứ Sử Hồ Châu. Kể từ buổi sơ ngộ đến lúc tìm lại đã 14 năm trôi qua, cô gái đã lấy chồng được 3 năm và có 2 con. Đỗ Mục rất thương tiếc, nên làm bài Trướng Thi/Thán Hoa để tỏ hối tiếc và tự trách mình bỏ lỡ cơ hội.

Bài thơ này của Đỗ Mục miêu tả và tặng thiếu nữ mà ông đã gặp, ước hẹn cưới và lỗi hẹn. .

Dịch thơ:

Tặng Vĩnh Biệt Kỳ 1

Đẹp xinh yểu điệu quá mười ba
Như khấu tháng hai chớm nở hoa
Mười dặm Dương Châu xuân gió mát
Chẳng ai sánh được nét mặn mà.

A Gift on Parting 1 by Du Mu

So slender, so graceful, she is probably older than thirteen,
Like a bud on a twig in the second month.
On the ten miles to Yang Chow, I have not seen
When all the bead curtains are raised, anyone more lovely.

Parting I by Du Mu
Translation by Witter Bynner

She is slim and supple and not yet fourteen,
The young spring-tip of a cardamon-spray.
On the Yangzhou Road for three miles in the breeze
Every pearl-screen is open. But there's no one like her.

A Parting Gift I of II by Du Mu
Translation by Betty Tseng

Delicate and graceful when she has barely turned thirteen,
Like tender cardamom sprigs come February's new moon.
Spring breezes waft along the three-mile long Yangzhou Avenue,
Up rolled many beaded screens yet there is none that is her equal in view.

Parting by Du Mu
Translation by Jiang Shao Lun 江紹倫

Part 1

娉娉裊裊十三余 Slender and graceful she is in early teens
豆蔻梢頭二月初 Like a cardamom tip with growing hints
春風十裏揚州路 Vernal breezes warm up ten miles of scenic roads
卷上珠簾總不如 Behind roll up curtains her beauty brilliantly shows

Part 2

多情卻似總無情 Deeply in love yet we appear not to be
唯覺尊前笑不成 Drinking to part we smile not on how to begin
蠟燭有心還惜別 The candle has a wick just as we have a heart
替人垂淚到天明 Through the night it sheds tears for us before we part

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Đậu khấu còn có nghĩa là thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi.

Người ni không tìm thấy trang nào trên internet giải thích tại sao người Hoa Lục thời xưa - hay từ thời nào? - dùng thành ngữ 豆蔻年华=đậu khấu niên hoa để chỉ con gái 13-14 tuôi vì các trang có dẫn nguồn đều đưa ta đến bài thơ Tặng Biệt của Đỗ Mục!

豆蔻年华: 豆蔻年华,是一个汉语成语,拼音是 dòu kòu nián huá,意思是指少女十三四岁。 代指少女的青春年华。 出自唐·杜牧《赠别》诗。chỉ thiểu nữ thập tam tứ tuế。đại chỉ thiểu nữ đích thanh xuân niên hoa。xuất tự đường· Đỗ Mục "Tặng Biệt" thi。

Rất có thể rằng điển cố đậu khấu niên hoa ra đời sau – hay từ - bài thơ của họ Đỗ. Câu giải thích cụm từ 豆蔻 đến từ HVTĐ của Đặng Thế Kiệt và phản ảnh sự kiện rằng ta không thể tin các tài liệu ra đời sau 1975. Đậu khấu (Wurfbainia sp.) là tên chung của nhiều loài cây thân thảo, có củ, họ nhà gừng. Và người nào đã từng trồng gừng ở quê hương thì biết các loài cây này không có thân nên không có chuyện có hoa trên ngọn cây. Một loại quả bà con với đậu khấu mà các người quen nấu phở biết đến là cardamom hay thảo quả (草果).

Lá và hoa của đậu khấu như thế này và tại sao đậu khấu lại tượng trưng cho con gái 13-14 tuổi thì người ni chịu thua:


Huỳnh Kim Giám

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

Lữ Túc 旅宿 - Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Đỗ Mục có lý tưởng khôi phục thịnh thế của nhà Đường nên chú ý nghiên cứu các vấn đề kinh tế, quân sự, viết những bài chính luận bàn về trị loạn, thủ chiến, chú giải cả bộ binh thư Tôn Vũ. Trong sinh hoạt ông phóng túng tự do, không câu nệ tiểu tiết, coi thường lễ giáo. Về văn học, ông có những kiến giải tiến bộ, “lấy ý làm chủ, lấy khí làm phụ, lấy từ ngữ chương cú làm binh vệ” (Đáp Trang Sung thư), làm văn vì sự việc chứ chẳng phải “không ốm mà rên” (vô bệnh thân ngâm). Ông cố gắng đem chủ trương ấy vào trong sáng tác nên có ý nghĩa hiện thực khá mạnh, khả dĩ nối tiếp dư phong Bạch Cư Dị.

Đỗ Mục có nhiều bài thơ ưu thời mẫn thế, nặng lòng lo cho dân cho nước (Cảm hoài, Quận trai độc chước, Hà hoàng, Tảo nhạn...) hoặc bi phẫn khiển trách bon hôn quân bạo chúa (Quá Ly Sơn tác, Quá Hoa Thanh cung...), cũng có bài cảm tác về đời người vì bản thân lận đận, bất đắc chí (Cửu nhật Tề sơn đăng cao, Lạc Dương trường cú...). Một số vần thơ ngắn trữ tình của ông là những bài xuất sắc nhất. Mỗi bài vừa là một bức tranh màu sắc tươi tắn, vừa là một tâm tình nhàn nhã, có khi phảng phất buồn, lãng mạn mà không suy đồi (Sơn hành, Bạc Tần Hoài, Thán hoa, Giang Nam xuân...). Thơ thất tuyệt của ông rất được ưu thích, ngay vịnh sử cũng không khô khan (Xích Bích hoài cổ, Kim Cốc viên, Đề Ô giang đình...). Ông có thể dựng nên những cảnh đẹp trong một khuôn khổ ngắn gọn; ý tình hàm súc được diễn đạt qua những lời lẽ điêu luyện. Ông không trội ở ngôn từ hoa mỹ bóng bẩy, cũng không trội ở chỗ cầu kỳ, quái đản mà bằng ngòi bút nhẹ nhàng vẽ nên những cảnh sắc đẹp đẽ, rung động lòng người một cách rất tự nhiên...

Nguyên tác   Dịch âm

旅宿             Lữ Túc

旅館無良伴 Lữ quán vô lương bạn,
凝情自悄然 Ngưng tình tự tiễu nhiên.
寒燈思舊事 Hàn đăng tư cựu sự,
斷雁警愁眠 Đoạn nhạn cảnh sầu miên.
遠夢歸侵曉 Viễn mộng quy xâm hiểu,
家書到隔年 Gia thư đáo cách niên.
滄江好煙月 Thương giang hảo yên nguyệt,
門系釣魚船 Môn hệ điếu ngư thuyền.

Dịch thơ

Trú Ở Lữ Quán

Lữ quán không bè bạn
Nghĩ tình tự nhiên đau
Đèn mờ khêu chuyện cũ
Nhạn thưa gây thêm sầu
Mơ quê cho tới sáng
Thư nhà cách năm sau
Sông xanh lồng trăng khói
Ngoài cửa buộc thuyền câu.

Lời bàn:

Một bài ngũ ngôn bát cú toàn bích. Bố cục chặt chẽ. Niêm luật chỉnh tề. Lời thơ trang nhã. Kết thúc hợp tình: Đêm nào cũng mơ về quê cho tới gần sáng, thư nhà thì mỗi hai năm mới có một lá. Cách tốt nhất để giải sầu trong tâm trạng này là chèo thuyền trên sông dưới trăng thanh.

Con Cò
***
Đêm Quán Trọ

Quán trọ cô đơn vắng bạn hiền
Tâm tư chôn kín nỗi niềm riêng
Tàn đêm chuyện cũ hoài vương vấn
Tiếng nhạn nhặt thưa giấc mộng phiền
Mơ về cố quận trời hừng sáng
Ròng rã thư nhà đã trọn niên
Mờ ảo dòng sông sương tỏa lạnh
Chờ ai neo buộc một ngư thuyền.

Kim Oanh
***
Trọ Quán Khách

Trọ đêm thiếu bạn bè,
Lòng lắng đọng buồn se.
Đèn lụn khơi niềm cũ,
Nhạn kêu động giấc hòe
Mộng xa vừa sáng tỉnh,
Tin tức cách năm về,
Trăng khói sông xanh biếc,
Thuyền câu buộc trước hè.

Mỹ Ngọc
July 16/2023.
***
Quán trọ không bạn hiền,
Tim nặng nỗi niềm riêng,
Đèn mờ thương chuyện cũ,
Nhạn vắng sợ sầu miên,
Mộng tỉnh, trời gần sáng,
Thư nhà chẳng tới liền,
Sông xanh mờ trăng khói,
Bên cửa cột con thuyền.

Bát Sách.
(ngày 16/07/2023)

***
Mái Chèo Sông Nước

Dặm trường lữ quán trú đêm,
Không người bầu bạn êm đềm canh thâu.
Ngẫm đi nghĩ lại bi sầu,
Bên đèn leo lét, mái đầu ngẩn ngơ.
Chuyện xưa quay quắt bơ phờ,
Nhạn kêu thảng thốt - giấc mơ lạnh tràn...
Mộng xa vời vợi võ vàng:
Quê nhà quay lại - xốn xang dạ hồn.
Giật mình trời sáng ngoài thôn,
Thơ nhà ngóng đợi, mõi mòn hằng niên.
Thanh giang mờ ảo cảnh tiên,
Bóng trăng diễm tuyệt nơi triền núi non.
Chiếc thuyền dây cột bãi cồn,
Nhanh tay tháo gỡ - bồn chồn ra khơi...

Khánh-Hưng
***
Quán Trọ

Quán trọ không bè bạn
Tình buồn tự nén sâu
Đèn khuya khơi chuyện cũ
Nhạn tắt giấc mơ sầu
Mộng dứt trời hừng sáng
Thư nhà đợi quá lâu
Sông Thương trăng khói tỏa
Trước ngõ buộc thuyền câu

Bạn bè quán trọ có đâu
Ngậm ngùi tình đọng lắng sâu mấy mùa
Đèn khuya khơi chuyện cũ xưa
Bên trời lạnh lẽo nhạn khua giấc sầu
Mộng về vừa tới sáng mau
Thư nhà cách một năm sau một lần
Sông xanh trăng khói ân cần
Thuyền câu hờ buộc trước sân quán nhà!

Lộc Bắc
Jul23
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

旅宿- 杜牧 Lữ Túc – Đỗ Mục

旅館無良伴 Lữ quán vô lương bạn
凝情自悄然 Ngưng tình tự tiễu nhiên
寒燈思舊事 Hàn đăng tư cựu sự
斷雁警愁眠 Đoạn nhạn cảnh sầu miên
遠夢歸侵曉 Viễn mộng qui xâm hiểu
家書到隔年 Gia thư đáo cách niên
湘江好煙月 Tương Giang hảo yên nguyệt
門繫釣魚船 Môn hệ điếu ngư thuyền

Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 詩-清-聖祖玄燁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代 詩選-明-曹學佺
Phiền Xuyên Tập - Đường - Đỗ Mục 樊川集-唐-杜牧
Đường Thi Tam Bách Thủ - Thanh 唐诗三百首

Ghi chú:

Lữ quán: những ngôi nhà dành cho khách du lịch ngày xưa
Ngưng tình: tình ý tập trung
Tiễu nhiên: im lặng, buồn bã
Hàn đăng: đèn cô đơn trong đêm lạnh, mô tả một môi trường cô đơn, ảm đạm.
Viễn mộng: giấc mơ của những người ở xa.
Xâm hiểu: bình minh
Gia thư: thư từ gia đình
Tương Giang: sông Tương bắt nguồn gốc từ Quế Lâm 桂林, huyện Hưng An 兴安县, tỉnh Quảng Tây, chảy vào Động Đình Hồ 洞庭湖 là con sông dài nhất của tỉnh Hồ Nam
Yên nguyệt: trăng bị sương mù bao phủ, ánh trăng mờ nhạt

Dịch Nghĩa:

Lữ Túc Ðêm Nơi Quán Trọ

Lữ quán vô lương bạn Lữ quán không người ai đối ẩm,
Ngưng tình tự tiễu nhiên Tâm tư ngưng động vương ý sầu.
Hàn đăng tư cựu sự Bên đèn lạnh lẽo, nhớ đến chuyện cũ
Đoạn nhạn cảnh sầu miên Nhạn kêu phá giấc ngủ chập chờn.
Viễn mộng quy xâm hiểu Mơ về quê hương gần sáng mới tỉnh giấc,
Gia thư đáo cách niên Thư nhà cả năm mới nhận được.
Tương Giang hảo yên nguyệt Sông Tương quyện sương mù dưới trăng mờ,
Môn hệ điếu ngư thuyền Chiếc thuyền câu cột trước cửa quán.

Phân tích:

Nói về sự cô đơn của khách xa nhà phải ngủ đêm lại lữ quán. Xa nhà một thân một mình, buồn là chuyện bình thường. Trong câu 5, thi nhân xem mộng cũng như chuyến đi xa. Vì quê hương quá xa nên giấc mộng phải dài để về đến nơi.

Câu 7 của mộc bản và nhiều bản văn cho là sông Tương. Tuy nhiên, có người cho là Đỗ Mục chưa từng đặt chân đến sông Tương, nên nghi ngờ bài thơ không phải của Đỗ Mục, dù giới học thuật cho là văn cách không thể nhầm lẫn. Đường Thi Tam Bách Thủ của Hành Đường Thoái Sĩ chép là sông Thương 沧.

Bài ngũ ngôn luật thi này rất chuẩn vể niêm vận, tiết tấu. Trong phần đối xứng, ngoài đối về từ, thanh, ý…, đặc biệt còn đối về thứ loại của ý mới tài tình.

Hàn đăng (hình ảnh) tư (tĩnh) cựu sự (cũ) đối với:
Đoạn nhạn (âm thanh) cảnh (động) sầu miên (mới)
Viễn mộng (ý) quy (về) xâm hiểu (mau) đối với:
Gia thư (vật) đáo (đến) cách niên (lâu)

Dịch Thơ:

Ðêm Nơi Quán Trọ

Quán trọ đìu hiu thiếu bạn hiền,
Tâm tư khép kín nỗi niềm riêng.
Bên đèn leo lét ôn sầu cũ,
Cô nhạn phá tan giấc ngủ yên.
Tỉnh giấc hoài hương trời chập sáng,
Hơn năm mới được thơ nhà biên.
Sông Tương sương phủ trăng mờ tỏa,
Ngoài cửa quán đêm cột khách thuyền.

A Night At A Tavern by Du Mu

I stayed at a tavern with no friends.
Loneliness and grief overcame my spirit.
Under the cold lamp, I reminisced the past.
A lost wild goose cry woke me from my sleep.
Awaken at dawn from a homeward dream,
I read, a year late, a letter from home.
The moon shone over fog on the cold river
And a fisherman boat moored at the inn's door.

A Night At A Tavern by Du Mu
Translation by Witter Bynner

Solitary at the tavern,
I am shut in with loneliness and grief.
Under the cold lamp, I brood on the past;
I am kept awake by a lost wildgoose.
Roused at dawn from a misty dream,
I read, a year late, news from home --
And I remember the moon like smoke on the river
And a fisher-boat moored there, under my door.

A Night at an Inn by Du Mu
Translation by Betty Tseng

I stopped over at an inn without a companion,
I became immersed in my own thoughts as I of silence took heed.
By a lamp in the cold I pondered over my past,
A sudden cry of a lone goose disturbed my light and worried sleep.
I just dreamt of homecoming, only to wake up to another day dawning on me,
It's been a year since I last a letter from home receive.
The river is bleak, the moon and the fog picturesque,
Outside the inn moor fishing boats by the quay.

Phí Minh Tâm