Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

Trăn Trở Thu!


Suối êm ru róc ra róc rách....
Cuộn theo dòng từng mạch gọi tên
Người về chăng... còn nhớ hay quên
Mùa thu vắng buồn tênh thổn thức

Những tưởng âm vang từ bờ vực
Tiếng yêu từ lòng ngực nhói đau
Lá đồng tâm lao xao than thở
Vàng suốt mùa trăn trở rụng rơi...


Thơ & Ảnh: Kim Oanh
Melb. một chiều thu 5.2024

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

Lối Thu Xưa...

  
 (Thu Melbourne 2023)

Lối Thu Xưa... 

Một mùa thu cũ vẫn đây
Tìm trong nỗi nhớ đong đầy hương xưa
Công viên lá đổ chợt vừa
Gọi mùa vàng chín lòng chưa quên người...

Kim Oanh
***

Cố quên sao mãi nhớ người
Mỗi mùa thay lá mưa rơi buồn buồn
Hương xưa còn thoảng thơm hương
Cành thu vàng lá ngàn thương nhớ người!

Yên Dạ Thảo

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

Gối Mộng Mơ Trăng! - Hỏi Trăng

 

Gối Mộng Mơ Trăng!

Đêm đã dần tàn sao trăng còn thức
Rón rén ghé gần khung cửa nhỏ to
“Gối mộng ơi, để thân lạnh co ro
Coi chừng cảm trăng lo không yên giấc”

Gối mộng chợt giật mình.. Ồ là thật!
“Khẽ khàng cười ...Bởi ngủ gật quên thôi
Cám ơn trăng đêm đã khuya lắm rồi
Ngủ ngon nhé kẽo hao tâm tội lắm!”

Chênh lệch thời gian giao hòa chầm chậm
Tỉnh giấc nồng còn âm ỉ trong tim
Một ngọt ngào một nhơ nhớ lắng im
Trời hừng sáng đắm chìm lòng thổn thức

Trăng ơi! Có phải chăng là sự thật?!
Cho suốt đời Trăng Mộng mãi trong mơ
Được nghe trăng thì thầm tiếng hẹn chờ
Để gối mộng khép hờ khung cửa sổ!

Kim Oanh

5.4.2024

***
Hỏi Trăng


Trăng khuya treo ở đầu cành
Gió đưa trăng rớt vào mành vải thưa
Em đang say giấc ngủ mơ
Ngờ đâu trăng lén hôn bờ môi xinh
Gió ơi vì gió vô tình
Em đây xấu hổ với trăng mất rồi
Trăng cười bay cao chơi vơi
Lòng em vương vấn bồi nhớ ơi
Hỏi trăng còn xuống nữa thôi
Để em thay áo lụa ngồi đợi trăng


Vương Việt Chỉnh

 12-4-2024

Hồi Hương Ngẫu Thư Kỳ Nhị 回鄉偶書其二 - Hạ Tri Chương (Thịnh Đường)

Hạ Tri Chương 賀知章 (659-744), người Quảng Đông, tự Quý Chân. Ngoài tài thơ văn, tiểu thuyết, còn có tài viết chữ thảo, chữ lệ rất đẹp. Tính phóng khoáng, thích uống rượu. Bạn thân của Lý Bạch. Đỗ tiến sĩ, làm Thái Tử Tân Khách Bí Thư Giám, rồi từ quan về làng làm đạo sĩ. Lúc ra về vua có tặng thơ, thái tử và bá quan đều đưa tiễn.

Mượn cảnh để tả tình là một kỹ thuật rất thông thường của những thi sĩ Đông, Tây, kim cổ; nhưng chưa từng thấy ai mượn cảnh tả tình siêu việt như họ Hạ. Ông không dùng những thứ dễ biến đổi để so sánh với những thứ đã biến đổi trong làng ông, mà dùng cái tính cố hữu của ngọn sóng trên mặt hồ Kính (cái thứ hàng triệu năm không bao giờ và không thể nào thay đổi) để mô tả rằng quê cũ đã thay đổi từ cội rễ trừ ngọn sóng. Chỉ có ngọn sóng này còn như cũ thôi, tất tần tật những thứ khác đều tiêu ma hết rồi !!!

Mời các bạn đọc bài thơ 回鄉偶書其二 Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì, để thưởng thức kỹ thuật mượn cảnh tả tình siêu việt của họ Hạ trong hai câu cuối.

Nguyên bản      Dịch âm

回鄉偶書其二 Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì

 
離別家鄉歲月多 Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa
近來人事少消磨 Cận lai nhân sự bán tiêu ma
惟有門前鏡湖水 Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy
春風不改舊時波 Xuân phong bất cải cựu thì ba

Chú giải:

歲月多 tuế nguyệt đa: nhiều năm tháng.
近來 cận lai: gần đây.
人事 nhân sự: việc đời.
惟有 duy hữu: duy có.
門前 môn tiền: trước cửa.
不改 bất cải: không đổi.
鏡湖 Kính hồ: Kính hồ ở tỉnh Chiết Giang. Một hồ lớn đẹp, còn có tên là Hạ Giám hồ vì vua Đường Minh Hoàng, sau khi đọc bài Kính hồ của Hạ Tri Chương, phong cho ông làm chức Bí thư giám.
波 ba: sóng.
舊時波 cựu thì ba: sóng ngày xưa.

Dịch nghĩa:

Xa cách quê nhà đã nhiều năm tháng,
Gần đây việc đời đã thay đổi mất một nửa.
Duy chỉ có nước trên Kính hồ ở trước cửa,
Gió xuân vẫn không làm thay đổi con sóng xưa.

Dịch thơ:

Hồi Hương Ngẫu Thư kỳ nhì
Trải bao năm tháng biệt quê nhà
Việc đời phân nửa đã tiêu ma
Duy trước hiên nhà trên hồ Kính
Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa


Lời bàn:

Hạ Tri Chương làm rất ít thơ nhưng bài thất ngôn tứ tuyệt này đã ngang nhiên đi vào Đường thi nhờ ý của 2 câu 3 & 4: Chỉ làn sóng trên mặt hồ Kính là không đổi. Vậy thì, ngoài làn sóng trên hồ Kính, kể như từ cọng cỏ, từng cục đất của quê xưa đã đổi hết rồi. Ôi! Thơ mà tả được như vậy mới thực sự gõ vào nỗi nhớ quê hương của mọi người! Nói rất ít mà hiểu rất nhiều! Nói rất nhẹ nhõm mà hiểu rất đậm đà! Lời ngắn ngủi mà thơ chan chứa! Câu "Xuân phong bất cải cựu thì ba" (Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa) cực kỳ đơn sơ mà cực kỳ siêu việt! Trải qua 1200 năm mà chưa có địch thủ xứng đáng. Suốt một đời làm thơ, chỉ để lại dăm bài thất ngôn tứ tuyệt, sàng lọc lại còn 7 chữ lóng lánh như 7 viên ngọc quý (xuân phong bất cải cựu thì ba) mà danh tiếng bất hủ ngàn năm. Lạ lùng vậy thay!

Con Cò

***
Ngẫu Nhiên Viết Khi Về Quê Kỳ 2

Xa cách quê nhà bao tháng năm
Bạn bè ngày cũ biệt mù tăm
Chỉ riêng hồ Kính soi thềm trước
Vẫn gió xuân xưa, sóng vẫn trầm!

Kim Oanh 
***

Về Quê Chợt Viết Kỳ 2

Ly biệt quê nhà năm tháng qua
Việc đời phân nửa đã tiêu ma
Chỉ riêng trước cửa hồ Gương trải
Gió chẳng đổi thay sóng thuở xa!

Muốn về thăm quê nhà, lần lữa
Giờ việc đời một nửa tiêu ma
Chỉ riêng hồ Kính trước nhà
Gió xuân không đổi sóng qua muôn đời!


Lộc Bắc

***

Ngẫu Nhiên Viết Lúc Về Quê, Kỳ 2

Xa cách quê nhà năm tháng đưa,
Bạn quen, người cũ đã lưa thưa,
Duy nước Kính hồ ngay cửa trước,
Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa.


Bát Sách.
(Ngày 18/03/2024)

***

Trở Về Quê Cũ

Biết bao năm tháng vắng quê nhà
Trở bước về làng khác biệt xa
Duy nước Kính hồ bên cổng trước
Gió xuân không đổi, sóng ngày xưa


Thanh Vân

***
Viết Lúc Về Quê Nhà. kỳ 2.

Quê nhà cách biệt đã bao ngày,
Phân nửa chuyện đời đã đổi thay.
Riêng mặt Kính Hồ nơi cổng trước,
Gió xuân không đổi, sóng xưa đây.


Mỹ Ngọc 
Mar. 17/2024.
***

Nguyên Tác:          Dịch Âm:

回鄉偶書其二       Hồi Hương Ngẫu Thư Kỳ 2


離別家鄉歲月多   Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa
近來人事少消磨   Cận lai nhân sự bán tiêu ma
惟有門前鏡湖水   Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy
春風不改舊時波   Xuân phong bất cải cựu thì ba

Ghi chú:

Hạ Tri Chương (659-744), người Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay là Tiêu Sơn, Chiết Giang), theo Đường Thi Đại Từ Điển 唐詩大辭典

Kính hồ: hồ ở cách 2 dặm về phía tây nam thành phố Thiệu Hưng, Chiết Giang ngày nay.

Dịch nghĩa:

Chợt Viết Khi Về Làng Kỳ 2


Xa quê nhà đã nhiều năm tháng
Gần đây sự đời đã có thay đổi nhiều
Chỉ riêng nước hồ Kính ngoài cổng
Gió xuân không thay đổi sóng thời xưa.

Dịch thơ:

Ngẫu Nhiên Viết Khi Về Quê Kỳ 2


Xa cách quê hương bao tháng năm
Việc đời ngẫm lại lắm thăng trầm
Chỉ riêng hồ Kiến ngay ngoài cổng
Gió vẫn không thay được sóng thầm.

Bao năm xa cách quê nhà,
Sự đời ngẫm lại bao la thăng trầm.
Chỉ riêng hồ Kiến âm thầm,
Gió Xuân không đổi sóng ngầm xưa nay.

Written on Coming Home by He Zhizhang

I was away from home months and years.
Recently many things did change.
Except for the Mirror lake beyond our gate
Spring wind had not changed the waves of time past.

Phí Minh Tâm

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

Tan Giấc Mơ Hoa

 

Nhớ mỗi bận mùa về mang anh đến
Điệu đàng em cài tóc đóa hoa cam
Thơm tho anh thầm bảo hương lưu luyến
Ví màu hoa da em trắng mịn màng

Vạn vật bừng lên chim muông vang hót
Tay trong tay từng bước dưới mưa phùn
Trở lại lớp cùng nhìn vào ô cửa
Đôi học trò mơ ước thỏa hoài mong

Thương bàn ghế gần nhau trong li tấc
Giấy học trò mực tím tỏ lời yêu
Thư không tem êm đềm nhờ diều gió
Đáp vào cặp em mỗi buổi tan chiều

Chiếc xe đạp đèo nhau qua phố rộng
Ve ơi sao vội gióng tiếng ru buồn
Hè đành đoạn chia ly hai lối mộng
Để phượng hồng theo gió lộng tàn vương

Khoảng trời son nhiểu nhương trong cơn lốc
Biết bao giờ ta ngược dốc trở về
Anh biết hoa đời nhiêu khê héo rụng
Mỏi mòn chờ bên đèn lụn canh khuya!

Kim Oanh


Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

Cửu Nhật (Kim Triêu Bả Tửu Phục Trù Trướng) 九日 (今朝把酒復惆悵) - Vi Ứng Vật (Trung Đường)


Vi Ứng Vật 韋應物 (737-792) tự Nghĩa Bác 義博, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu, lúc đầu làm Tam vệ lang cho Đường Huyền Tông (712-755), về sau chịu khó đọc sách, đến đời Đức Tông (780-804) làm quan thứ sử Tô Châu có nhiều thiện chính. Ông tính cao khiết, thích đốt hương ngồi một mình. Ông cùng Lưu Trường Khanh được người đương thời gọi là 2 thi nhân đại tự nhiên. Thi tập của ông gồm 10 quyển.

Nguyên bản Dịch âm

九日 (今朝把酒復惆悵) Cửu Nhật (Kim Triêu Bả Tửu Phục Trù Trướng)

今朝把酒復惆悵 Kim triêu bả tửu phục trù trướng,
憶在杜陵田舍時 Ức tại Đỗ Lăng điền xá thì.
明年九日知何處 Minh niên cửu nhật tri hà xứ,
世難還家未有期 Thế nạn hoàn gia vị hữu kỳ.

Chú giải:

Đỗ Lăng: Đất ở đông nam thành Trường An, quê quán của tác giả.
Thế nạn: Năm 783 đời Đường Đức Tông, quan tiết độ sứ Kính Nguyên là Diêu
Lệnh Ngôn làm phản, cử binh đánh chiếm Trường An. Vua phải chạy sang
Phụng Thiên cách Trường An hơn trăm dặm lánh nạn. Tác giả lúc này đang làm
thứ sử Trừ Châu (nay là huyện Trừ, tỉnh An Huy) và làm bài thơ này.

Dịch nghĩa:

Mồng chín (Sáng nay nâng chén lại thấy sầu)
Sáng nay nâng chén rượu lại thấy sầu,
Nhớ khi xưa ở điền xá Đỗ Lăng.
Ngày này năm sau không biết sẽ ở nơi nào,
Thời loạn chưa biết ngày nào mới về nhà.
(Cửu nhật: tiết trùng cửu, hay trùng dương, ngày 9-9).

Dịch thơ:

Mồng Chín (Sáng Nay Nâng Chén Lại Thấy Sầu)

Sáng nay nâng chén lại thấy sầu,
Chẳng nhớ Đỗ lăng điền xá sao!
Năm sau tháng chín nơi nào ở?
Thời loạn hồi hương chả chắc đâu.

Lời bàn:

Thơ của Vi Ứng Vật hầu hết đều giản dị sáng sủa. Ngay cả thất ngôn tứ tuyệt ông cũng không dùng điển (thường thì với số chữ rất hạn chế của thơ thất ngôn tứ tuyệt, các tác giả khác hay dùng điển để tiết kiệm lời). Với bài thơ này ông gói ghém tâm sự của mình trong 28 chữ rất bình dị. Tâm sự của ông như sau: đã lâu lắm mình chưa về thăm quê cũ ở Đỗ Lăng. Hôm nay là ngày trùng cửu (mùng 9 tháng 9), mình định về nhưng vì có giặc nên về không được. Thôi chờ đến ngày trùng cửu sang năm sẽ về… Nhưng trong thời loạn ly thì tính trước sao được? Vậy thì sang năm cũng chưa chắc về được… Nâng chén rượu mà uống chẳng vô…
Rất mộc mạc. Rất tự nhiên. Rất cảm động.

Tái bút:

Tâm trạng của Vi Ứng Vật giống tâm trạng của những Việt kiều cao niên đang sống lưu vong khắp thế giới: Năm nào tới ngày 30 tháng Tư cũng buồn thối ruột; đã gần nửa thế kỷ không dám nghĩ tới việc về sống tại quê hương; năm nay định về nhưng tình hình vẫn chưa ổn; thôi chờ sang năm xem sao. Nhưng
sang năm chắc gì tình hình sẽ ổn và chắc gì mình còn sống. Nâng chén rượu mà nuốt không trôi.
Riêng ÔC, vừa quá tuổi 90 được 1 tháng (sinh ngày 29-3-1934), cảm kích làm thêm 6 câu lục bát này:

Tình Non Nước 

Ai làm Non Nước chia ly,
Để Non xa Nước Nước thì quên Non.
Nước Non phận chẳng vuông tròn,
Non côi xót Nước Nước còn chênh vênh.
Rời Non Nước đổ xuống ghềnh,
Non ôm hận Nước Nước đành phụ Non.

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Nâng Chén Sầu!

Nâng chén sầu lòng sáng sớm nay
Đỗ Lăng quê cũ nhớ đong đầy
Năm sau mùng chín nơi nào rõ?
Loạn lạc hồi hương khó định ngày!

Kim Oanh
Melb. 30.4.2024
***
***
Trùng Dương

Sáng nay nâng chén buồn tê tái
Nhà cũ Đỗ Lăng cách biệt lâu
Mồng chín sang năm đâu chốn nghỉ
Về quê thời loạn biết khi nào?

Lộc Bắc
***
Mồng Chín

Âu sầu chuốc chén lúc ban mai,
Nhớ Đỗ Lăng nhà đất chốn này.
Mồng chín năm sau đâu chỗ ngụ,
Về quê loạn lạc biết đâu ngày.

Mỹ Ngọc
Apr. 20/2024.
***
Ngày Mồng Chín

Lòng buồn nâng rượu dạ bùi ngùi
Nhớ cảnh Đỗ Lăng xa hắt hiu
Trùng Cửu năm sau lưu lạc chốn?
Mơ về quê cũ ngập niềm vui

Thanh Vân
***
Bài Cảm Tác:

Một sống, hai chết tìm tự do
Xứ người tị nạn vẫn sầu lo
Dù nhà yên ổn, sinh hoạt tốt
Đất nước quê hương vẫn quanh co

Đồ Cóc
***
Cửu Nhật, Cửu Nguyệt, hay tiết Trùng Cửu, Trùng Dương là một huyền thoại của Trung Hoa từ đời Hậu Hán: Hoàng Cảnh học phép tiên với Phí Trường Phòng trong nhiều năm. Một hôm, Phòng nói với Cảnh “ ngày 9 tháng 9 sắp tới, gia đình nhà ngươi phải gặp tai nạn. Vậy hôm đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, mang cành thù du, uống rượu hoa cúc, tối mới trở về.” Cảnh theo lời thầy, khi về nhà thì thấy gà, vịt, heo, chó đều chết cả. Từ đó người Hoa có lệ, vào tiết Trùng Dương thì lên núi tránh nạn.
Đường Thi có nhiều bài về đề tài này, như Cửu Nhật, Cửu Nguyệt Ức Sơn Đông Huynh Đệ của Vương Duy, Cửu Nhật của Đỗ Phủ, và bài của Vi Ứng Vật kỳ này. Anh Giám cho rằng bài thơ của Vi không dính dáng gì tới loạn lạc thời Đường Đức Tông. Thật ra, thời đó, từ năm 781 tới 785, có loạn Tứ Trấn, mà loạn của Lý Hy Liệt là dữ dội nhất. Tôi nghĩ, Vi làm bài thơ vào tiết Trùng Dương, chỉ để than thân mà thôi, không hẳn có ý ám chỉ loạn của Lý, vì còn loạn của 3 trấn nữa, tất cả trong vòng 4 năm.
Lời bàn của ÔC làm BS vô cùng cảm khái… thôi thì anh em mình sẽ như cụ Tôn Thất Thuyết, một ngày nào đó:

Nhất đán hương hồn quy Tượng Quận,
Bách niên tàn cốt ký Long Châu.

Đây là bản dịch của BS:

Ngày Mùng Chín

Sáng nay uống rượu lại thấy sầu,
Nhà ruộng Đỗ Lăng nhớ đã lâu,
Năm sau ngày chín lưu lạc nữa,
Thời loạn, ngày về ai biết đâu.

Bát Sách.
(ngày 22/04/2024)

***
Nguyên tác:        Phiên âm:
九日-韋應物       Cửu Nhật – Vi Ứng Vật

今朝把酒復惆悵 Kim triêu bả tửu phục trù trướng,
憶在杜陵田舍時 Ức tại Đỗ Lăng điền xá thì.
明年九日知何處 Minh niên cửu nhật tri hà xứ,
世難還家未有期 Thế nạn hoàn gia vị hữu kỳ.

 Vi Tô Châu Tập - Đường - Vi Ứng Vật 韋蘇州集-唐-韋應物
 Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-
洪邁
 Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代
詩選-明-曹學佺
 Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐
詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Cửu nhật: ngày 9 tháng 9 còn gọi là ngày Trùng Cửu hay Tết Trùng Dương.
Hai số 9 (cửu cửu) ý nghĩa sống lâu. Vào ngày này người Trung Hoa xưa thường lên nơi cao, mang heo rượu cúc và lá hoặc hột thù du để được may mắn.
Đỗ Lăng: từ trước năm 65, thời Tây Hán, huyện Đỗ Lăng ở Tây An, Thiểm Tây, quê hương của thi nhân
thế nạn: Vi Ứng Vật là quan nhà Đường. Lúc trẻ, ông từng làm thứ sử Giang Châu, rồi Tô Châu nên được gọi Vi Giang Châu và Vi Tô Châu. Đang làm thứ sử Trừ Châu, An Huy, năm 783 ông viết bài thơ trong quan điểm của triều đình, có lẽ khác suy nghĩ của người dân. Vì chiến tranh, vua phải tạm thời di tản, bỏ Trường An chạy qua Phụng Thiên cách hơn 100 dặm, quan không được rời nhiệm sở về thăm quê hương, nói tóm không được vui hưởng Tết Trùng Cửu.

Dịch nghĩa:
Ngày 9 (Năm 783)

Hôm nay thấy buồn khi nâng chén rượu,
Nhớ lại lúc trước khi sống ở nông trại Đỗ Lăng.
Tôi biết sẽ đi đâu vào ngày 9 năm tới,
Thời loạn lạc không biết lúc nào được về nhà.

Dịch thơ:
Ngày Trùng Cửu

Nâng chén hôm nay chỉ thấy sầu,
Đỗ Lăng ngày ấy đã bao lâu.
Năm sau Trùng Cửu dù toan liệu,
Thời loạn thăm nhà chắc được đâu.

九日-韋應物 The Nineth by Wei Ying Wu

今朝把酒復惆悵 I felt sad when lifting the cup of wine today,
憶在杜陵田舍時 Recalling the time living at Du Ling farmhouse.
明年九日知何處 I know where to go next year on Double Nine Festival,
世難還家未有期 In trouble time, you can not be certain when you can visit

Viết thêm:

Năm 785, Vi Ứng Vật có làm một bài Cửu Nhật khác, 5 chữ 4 câu. Tình thần bài thơ này không còn bi quan “thế nạn” như trong bài 7 chữ 4 câu trước đây. Ông không còn quan tâm đến thời tiết, không biết hoa cúc nở tháng 9, không còn nhớ nhà, bận rộn có nhiều quý khách thăm viếng nhờ mới được thăng chức thái thú Ngô Quận, nay là thành phố Tô Châu, Giang Tô.

九日 Cửu Nhật Ngày 9 (năm 785)

一爲吳郡守 Nhất vi Ngô quận thủ Thái thú quận Ngô ta,
不覺菊花開 Bất giác cúc hoa khai Không hay cúc nở hoa.
始有故園思 Thủy hữu cố viên tư Quá nhiều khách viếng tụng,
且喜衆賓來 Thả hỷ chúng tân lai Giờ có nhớ quê nhà.*

*Người dịch hoán chuyển 2 câu 3 và 4 để giữ vận.

Phí Minh Tâm 
 ***
Góp Ý:

Viết về ngày Cửu nhật:

九日=cửu nhật là một lối gọi 重陽節九日=trùng dương tiết, hay tiết trùng cửu, khi người Tàu ngày xưa có tâp tục leo núi, đeo nhánh sơn thù du và uống rượu cúc để ngừa tai họa. Ngày này cũng là dịp du hí cuối cùng trong năm trước mùa đông. Vi Ứng Vật làm bài thơ trong ngày Trùng Cửu nhưng không nói gì đến chuyện leo núi hay uống rượu cúc mà lại than vì thế nạn!

Vi Ứng Vật làm thứ sử thời Đường Đức Tông. Sáu năm đầu thời Đức Tông luôn luôn loạn lạc vì các phiên trấn thay nhau, hay hùa nhau, nổi loạn. Tháng 8 năm Kính Nguyên thứ tư (783), tiết độ sứ Lý Hi Liệt tấn công Tương Thành, tháng 9 Đức Tông sai tiết độ sứ Diêu Lệnh Ngôn phản công. Diêu đem 5000 quân vào Trường An trong mùa đông giá lạnh; lính đói thay vì được thưởng nên nổi loạn. Những biến cố này xảy ra sau tiết Trùng Củu và không có liên hệ gì với bài thơ Cửu Nhật.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2024

Sài Gòn, Ngày Dài Nhất- Nhạc Sĩ: Nhiều Tác Giả - Ca Sĩ: Nhiểu Ca Sĩ


Album: Làng Văn 60
Sài Gòn, Ngày Dài Nhất... 
Ca Sĩ: Lệ Thu, Khánh Ly, Sĩ Phú và nhiều danh ca Tác Giả: Nhiều nhạc sĩ ©1988 published by Lang Van Inc. under license 

Danh sách bài hát: 

Lời Dẫn - Dạ Lan 03:07 

1. Khi Xa Sài Gòn (Lê Uyên Phương) - Lê Uyên Phương 10:32 
2. Người Di Tản Buồn (Nam Lộc) - Ngọc Trọng 17:42 
3. Hát Cho Người Ra Đi (Ngô Thụy Miên) - Duy Quang 25:40 
4. Sài Gòn Còn Đó Nỗi Buồn (Ngô Thụy Miên) - Lệ Thu 31:43 
5. Áo Lụa Hà Đông (Ngô Thụy Miên - Nguyên Sa) - Elvis Phương 37:26 
6. Nắng Paris, Nắng Sài Gòn (Ngô Thụy Miên) - Sĩ Phú 43:58 
7. Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên (Nguyễn Đình Toàn) - Lưu Hồng 49:56 
8. Cho Một Thành Phố Mất Tên (Phạm Đình Chương - Hoàng Ngọc Ẩn) - Hải Lý 55:59 
9. Sài Gòn Ơi Ta Sẽ Về (Trần Lãng Minh) - Khánh Ly 1:00:54 

Lời Tạm Biệt - Dạ Lan